TIN TỨC

Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-08 18:48:28
mail facebook google pos stwis
37 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

 

Thương binh Nguyễn Văn Hữu

 

Đưa tôi xem những tờ giấy chứng nhận dũng sĩ đã bị úa vàng, mực in lem luốt và mờ nét chữ… theo thời gian, thương binh Hữu vừa chỉ tay vào từng tờ giấy chứng nhận vừa kể lại từng chiến công mà mình đã chiến đấu với kẻ thù như mới vừa xảy ra, với những trận đánh tiêu biểu. Vào tháng 1/1968 trong một trận chống càng ác liệt với kẻ thù tại kênh ông Bường, xã An Thạnh, huyện Bến Lức, tỉnh Long An, ông Nguyễn Văn Hữu đã trực tiếp bắn rơi một chiếc trực thăng chở 15 tên Mỹ và tiêu diệt 10 tên. Còn trong đợt 1 cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn Tết Mậu Thân năm 1968 trên đường Hậu Giang, Quận 6, ông Hữu đã bắn cháy 2 xe tăng địch, tiêu diệt 6 tên Mỹ… Đến tháng 1/1969, trong một trận chống càng tại xã Bình Đức, huyện Bến Lức, ông Hữu tiếp tục bắn rơi một chiếc trực thăng, tiêu diệt 17 tên Mỹ. Trong trận đánh thọc sâu vào sân Lễ khánh thành xã Bình Định loại A của địch tại chợ Tân Bửu, xã Tân Bửu, huyện Bến Lức vào tháng 10/1970, ông Hữu tiêu diệt 27 tên Nguỵ và chỉ huy bẻ gãy kế hoạch hành quân của địch. Và trong Chiến dịch Nguyễn Huệ trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An năm 1972, ông Hữu tiếp tục tiêu diệt 5 tên Nguỵ… Với thành tích trên, nhiều người rất kính nể và thán phục trước tấm gương chỉ huy tài tình và chiến đấu gan dạ của thương binh Nguyễn Văn Hữu (SN 1948) nên lúc bấy giờ, ông Hữu đã được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng 8 lần danh hiệu cao quý gồm các giấy Chứng nhận “Dũng sĩ diệt máy bay cấp 3 năm 1968, 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 1, cấp 2 năm 1968, 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ Quyết thắng cấp 3 năm 1969”, Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Cơ giới” và Chứng nhận “Dũng sĩ diệt Nguỵ ưu tú”!

Trò chuyện thâm tình, thương binh Nguyễn Văn Hữu không ngần ngại trao cho tôi cuốn lý lịch để minh chứng xác thực cho quá trình cống hiến xương trắng máu đào của bản thân mình góp phần cho quê hương, đất nước được độc lập tự do ấm no và hạnh phúc… Lật xem từng trang lý lịch, tôi được biế, ông Nguyễn Văn Hữu sớm giác ngộ Cách mạng, thoát ly gia đình đầu năm 1964 gia nhập Bộ đội Cụ Hồ chiến đấu chống giặc. Qua 5 năm chiến đấu, đến ngày 7/4/1969, ông Hữu vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được giữ chức Trung đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 6, Phân khu 2. Sau đó, ông Hữu vừa Chỉ huy - vừa cùng đồng đội tham chiến rất ác liệt và lập nhiều chiến công hiển hách làm quân thù khiếp sợ. Ông Hữu bồi hồi nhớ lại: “Tôi tham gia đánh nhiều trận rất khốc liệt và bị thương rất nặng. Một phần cơ thể bỏ lại chiến trường như: Gãy xương đùi, lủng phổi, đứt 4 đoạn ruột và vết thương đặc biệt nặng là viên đạn đại liên xuyên qua cột sống cùng nhiều thương tích khác nữa… Bị thương quá nặng, tôi bất tỉnh nên bị giặc bắt. Khi tỉnh lại thấy mình đang nằm trong nhà thương của giặc. Nhờ Hiệp định Paris nên tôi được trao trả trở về với đồng đội, với Đảng Cộng sản quang vinh và tiếp tục điều trị, an dưỡng tại tỉnh Bình Định rồi chuyển ra miền Bắc an dưỡng, trị bệnh tại tỉnh Hà Bắc. Sức khoẻ dần hồi phục, tôi cùng đồng đội hành quân về miền Nam tiếp tục chiến đấu. Dù bị thương nặng, nhưng đổi lại là tôi đã tiêu diệt 57 tên Mỹ, Bắn rơi 2 máy bay trực thăng chở 30 tên Mỹ và tiêu diệt 32 tên lính Ngụy trên địa bàn tỉnh Long An. Trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, đánh vào Nội ô Sài Gòn 3 đợt, tôi đã bắn cháy 2 xe tăng, diệt 6 tên Mỹ và 5 tên lính chư Hầu Bắc Chung Hy (Hàn Quốc bây giờ). Tính chung là 100 tên Mỹ, Ngụy và Lính Chư Hầu... Và tôi rất vinh dự cùng đơn vị C 54Q thuộc Bộ Tổng tham mưu tham chiến và giải phóng thị xã Buôn Mê Thuộc. Ngày 10/3/1975, tôi cùng đơn vị tiếp tục hành quân về miền Nam và được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ thị cùng Quân đoàn 4 (mũi phía bắc) phối hợp đánh thẳng vào nội đô tiếp quản Sài Gòn ngày 30/4/1975”

Sau giải phóng, ông Hữu phục vụ tác chiến cho Quân đoàn 4 và tiếp quản Quận 5. Sau đó, được phân công làm giáo viên Cải huấn Hạ sĩ quan, binh sĩ nguỵ tại tỉnh Long An rồi làm Đại Đội trưởng Huyện đội Bến Lức rồi được chuyển về huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp công tác và giữ nhiều chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở đây. Trong quá trình công tác tại huyện Tam Nông dù những vết thương trong cơ thể luôn hoành hành, gây đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, nhưng thương binh Hữu vẫn chịu đựng, giữ vững phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ” và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tháng 3/2012, ông Hữu chuyển gia đình về huyện Bến Lức, tỉnh Long An (cũ) sinh sống tới nay có địa danh mới là ấp Bến Lức 2, xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh. Người thân, bạn bè, động đội và Nhân dân rất tự hào, kính nể và thán phục trước tấm gương sáng trong chiến đấu chống giặc và công tác nhiệt tình trong thời bình của thương binh Nguyễn Văn Hữu.

 

Nguyên Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân cùng các lãnh đạo đến thăm thương binh Nguyễn Văn Hữu

 

Suốt quá trình cống hiến công sức, tài trí; hy sinh xương trắng, máu đào cho sự nghiệp Cách mạng, ông Hữu đã được Đảng và Nhà nước tặng tưởng nhiều Huân chương, Huy Chương, Huy hiệu, Danh hiệu cao quý và nhiều Bằng khen, Giấy khen… Nổi bật là Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba; Huân chương Kháng chiến hạng ba; Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì và ba; Kỷ niệm chương Chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt, tù đày; Huy hiệu 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm và 55 năm tuổi Đảng… Lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc Hội, Nhà nước và các Bộ, Ngành Trung Ương… cũng đã trực tiếp đến nhà thăm hỏi sức khoẻ, tình hình cuộc sống và tặng quà động viên ông Hữu trong các dịp Chào mừng Lễ kỷ niệm lớn và ngày Tết… Ông Nguyễn Văn Hữu phấn khởi cho biết: “Nhân dịp dự họp mặt Lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng Sài Gòn, trong không khí đầy tự hào đó, mọi tầng lớp Nhân dân, từ già - trẻ - trai - gái, đặc biệt là các sinh viên, học sinh kể cả trẻ em và du khách nước ngoài đều rất ngưỡng mộ những Cựu chiến Binh chúng tôi. Mọi người thể hiện cử chỉ tôn kính, chào đón nghiêm trang và xưng hô đầy thiện cảm, xin chụp hình chung để làm kỷ niệm... Bản thân tôi rất xúc động, vinh dự và tự hào!”

Tại Nhà Bảo tàng, Thư viện Long An, tỉnh Tây Ninh; khu Di tích Bến Dược, thành phố Hồ Chí Minh; Nhà lưu niệm những kỷ vật chiến tranh của Huyện đội Bến Lức hiện đang lưu giữ, trưng bày những kỷ vật lịch sử trong chiến tranh của thương binh Nguyễn Văn Hữu do ông trao tặng, với mục đích giáo dục truyền thống tinh thần yêu nước, tự hào và tự tôn dân tộc cho thế hệ mai sau. Ông Hữu bày tỏ: “Tôi rất tự hào vì đã đóng góp một phần xương máu của mình để chiến đấu giành lấy độc lập tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Và càng tự hào hơn khi sống trong một đất nước hoà bình và đổi mới từng ngày, giang san được sắp xếp tinh gọn, quê hương phát triển khởi sắc. Tệ nạn xã hội đã bị đẩy lùi. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, an ninh mạng… luôn được giữ vững ổn định, người dân an tâm sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế gia đình, vươn lên khá giàu... “sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới”. Một đất nước Việt Nam thời bình đang phát triển và thật đáng sống!

Chị Bùi Thị Việt An - con dâu ông Nguyễn Văn Hữu xúc động bày tỏ từ tận đáy lòng mình: “Có những điều con chưa từng nói hết thành lời, nhưng luôn khắc sâu trong trí nhớ về người ba chồng mà con kính trọng bằng tất cả tình cảm chân thành của mình. Ba là một người lính! Không chỉ là một người lính bình thường mà là người lính đã đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh, mang trên mình những vết thương không bao giờ lành hẳn. Ba một thương binh nặng hạng 1/4, đã mất 81% sức khỏe, đó không chỉ là con số, mà là biết bao đau đớn, mất mát mà ba đã phải gánh chịu. Nhưng ba chưa từng than vãn. Ba vẫn sống, vẫn kiên cường, vẫn là chỗ dựa vững chắc cho gia đình. Con chưa từng nghĩ có ngày mình được chạm vào lịch sử gần đến vậy không phải qua những trang sách khô khan mà qua lời kể với chất giọng hào sảng của ba, một nhân chứng sống, mộc mạc mà ấm áp. Ba kể, trong từng câu chuyện, cả một thời bom đạn hiện lên dữ dội mà hào hùng. Mỗi câu chuyện như đưa con trở về những năm tháng bom đạn lịch sử ấy. Có những câu chuyện về ba mà mỗi lần nghe lại, con không khỏi xúc động và tự hào. Trong một trận đánh ác liệt ở Cần Đước - Long An, ba bị địch bắn rơi từ trên cây xuống một bụi lát, bị thương rất nặng - lòi ruột ra ngoài. Giữa lằn ranh sinh tử, khi một người đồng đội quay lại ôm lấy ba, tìm cách đưa ba rời khỏi nơi nguy hiểm, thì ba lại kêu chú ấy rút lui, để mặc ba ở lại. Không chỉ vậy, ba còn trao lại cây súng duy nhất của mình cho đồng đội như gửi lại cơ hội sống, cơ hội chiến đấu cho người khác. Một quyết định mà không phải ai cũng có thể làm được. Lúc đó, con nhớ đến câu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Trong tay ba lúc đó vẫn còn một quả lựu đạn. Ba đã sẵn sàng, nếu địch tiến lại gần, ba sẽ rút chốt… chấp nhận hy sinh để không rơi vào tay địch, để bảo vệ đồng đội và giữ trọn khí tiết của một người lính. Nhưng do vết thương quá nặng, gãy đùi, thủng phổi, đứt ruột… ba ngất liệm, rồi ba bị bắt. Những ngày sau đó là những trận tra tấn tàn khốc mà ba phải chịu đựng. Con không thể hình dung hết những đau đớn mà ba đã trải qua, chỉ biết rằng ba vẫn không khuất phục, không phản bội đồng đội, không phản bội Tổ quốc. Sự kiên cường ấy khiến con vô cùng kính phục. Con luôn tự hào khi được làm con dâu của ba. Người đã trực tiếp tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn, góp phần mang lại hòa bình cho đất nước. Những gì ba đã trải qua không chỉ là ký ức cá nhân, mà là một phần của lịch sử. Con rất ngạc nhiên với rất nhiều huân chương, dũng sỹ và hàng loạt bằng khen mà ba được trao tặng… Nhưng hơn tất cả, điều khiến con kính trọng ba chính là con người của ba trong cuộc sống thường ngày. Người Đảng viên 57 tuổi Đảng. Dù mang thương tật nặng nề, ba vẫn luôn sống giản dị, mạnh mẽ và đầy trách nhiệm. Ba yêu thương gia đình, quan tâm con cháu và luôn là tấm gương về nghị lực sống! Ba có thể không nói nhiều về những năm tháng đã qua, nhưng với con, mỗi câu chuyện của ba đều là những bài học lớn. Con luôn trân trọng và biết ơn vì được làm con dâu của ba, được sống trong gia đình mình. Cảm ơn ba vì những hy sinh thầm lặng cho đất nước. Cảm ơn ba đã vượt qua tất cả”.

Thật vinh dự và tự hào với tấm gương “hy sinh thầm lặng”, sống đẹp của thương binh Nguyễn Văn Hữu để thế hệ con cháu học tập, noi theo.

T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm