- Bút ký - Tạp văn
- A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.

Cột mốc ở ngã ba biên giới A Pa Chải
Nhìn trên tấm bản đồ chúng ta dễ nhận ra dải đất hình chữ S của mình nằm bên rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương. Theo đó, phần phía Đông của nước ta tiếp giáp với Biển Đông và là cửa ngõ đi ra Thái Bình Dương; phần phía Tây gắn liền với lục địa Á - Âu thông qua biên giới Lào, Campuchia và một phần nhỏ của Trung Quốc. Cũng bởi đặc điểm địa lý tự nhiên như thế mà vành đai biên giới trên đất liền của Việt Nam có hai ngã ba biên giới rất đặc biệt. Một ngã ba ở phía Tây Nam đất nước, trên miền cao nguyên đất đỏ, thuộc xã Bờ Y tỉnh Quảng Ngãi (trước đây thuộc huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum) và một ngã ba ở phía Tây Bắc, trên vùng đồi núi hiểm trở, thuộc xã Sín Thầu tỉnh Điện Biên (trước đây thuộc huyện Mường Nhé). Ngã ba biên giới Bờ Y (còn gọi là ngã ba Đông Dương) là giao điểm của ba nước Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia và ngã ba biên giới Sín Thầu nằm ở bản Tá Miếu (vốn được tách ra từ bản A Pa Chải nên nhiều người vẫn quen gọi là ngã ba biên giới A Pa Chải, cột mốc A Pa Chải) là giao điểm của ba nước Việt Nam, Trung Quốc, Lào. Cả hai ngã ba biên giới này cùng nằm trên độ cao hơn một ngàn mét so với mực nước biển (ngã ba Bờ Y nằm trên độ cao 1086 mét và ngã ba Sín Thầu nằm trên độ cao 1864 m) nên rất hùng vĩ và thơ mộng.
Xưa nay, hai ngã ba biên giới này từng được biết đến và nổi tiếng với biệt danh là nơi “một tiếng gà gáy cả ba nước cùng nghe”. Cũng chính vì thế mà cột mốc ở ngã ba biên giới Bờ Y và cột mốc ở ngã ba biên giới Sín Thầu lúc nào cũng là một điểm đến có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng đối với mỗi người dân đất Việt và cũng là nỗi niềm mơ ước, khát khao chinh phục của những tín đồ đam mê xê dịch. Và, trong hai ngã ba biên giới ấy, hành trình chinh phục cột mốc ở bản Tá Miếu xã Sín Thầu có lẽ sẽ vất vả và gian nan hơn rất nhiều, bởi núi non miền Tây Bắc trùng điệp, hiểm trở. Nhưng đổi lại, với sự xuất hiện của mình bên cột cờ hay cột mốc chủ quyền trên đỉnh núi Khoan La San, bạn sẽ không chỉ cảm nhận được niềm tự hào, sự thiêng liêng ở nơi đánh dấu chủ quyền lãnh thổ mà còn thấy hãnh diện, thích thú khi được đứng tại điểm cực Tây của Tổ quốc để chiêm ngưỡng bức tranh đại ngàn vừa tráng lệ vừa hoang sơ. Đặc biệt, đây cũng là nơi mặt trời lặn muộn nhất ở Việt Nam (do sự chênh lệch về múi giờ, so với điểm cực Đông ở Khánh Hoà, mặt trời Tá Miếu lặn muộn hơn 30 phút) nên khi ấy bạn cũng sẽ là người hiếm hoi được chứng kiến những ánh hoàng hôn cuối cùng trong ngày buông xuống trên đất nước yêu thương.
Từ thành phố Điện Biên chúng tôi đi ngược quốc lộ 12 rồi rẽ trái vào đường tỉnh 131 đi qua Mường Chà đến trung tâm Mường Nhé rồi nghỉ qua đêm ở trung tâm phố huyện. Quãng đường hơn 200 cây số không khó đi nhưng ngoằn ngoèo với nhiều đoạn gấp khúc hoặc xoạy tròn hình vòng thúng nên xe phải đi khá chậm. Bình quân xe chỉ dám chạy khoảng trên 30 cây số một giờ. Cũng bởi xe đi chậm nên chúng tôi có dịp được thả mắt ngắm nhìn phong cảnh của núi rừng Tây Bắc. Đúng là toàn cảnh“núi vút ngàn trùng xa”, “suối sâu đèo cao”. Quả thực đại ngàn miền Tây Bắc vô cùng hùng vĩ và thơ mộng. Mỗi khi xe vượt qua những khúc cua ngoằn ngoèo, lên đến đỉnh đèo, nhìn ra xa xa, hiện lên trước mắt chúng tôi là những dãy núi trập trùng như thể đang xếp chồng lên nhau dưới vòm trời trong vắt với lơ lửng mây vờn, đẹp như một bức tranh thuỷ mặc. Chúng tôi đến ngã ba biên giới Sín Thầu lần này vào mùa mưa, cuối tháng 6 nên đất trời Tây Bắc không còn sắc hồng, sắc trắng tinh khôi của mùa hoa đào, hoa mận, hoa ban mơ mộng làm vương vấn lòng người và cũng chưa đến thời điểm “mùa vàng” để những triền núi, triền đồi được khoác lên mình những tấm áo rực rỡ, óng ả riêng một góc trời của mùa lúa chín hay mùa hoa cải. Nhưng bù lại, mùa mưa Tây Bắc lại cho chúng tôi mãn nhãn với một mùa nước đổ trên các thửa ruộng bậc thang. Nước lấp lánh mặt ruộng, tràn từ những thửa ruộng trên cao xuống những thửa ruộng dưới thấp. Những thửa ruộng bậc thang trên cung đường từ Điện Biên đi Mường Chà rồi đến Mường Nhé không hùng vĩ như ở Hoàng Su Phì (Tuyên Quang) hay Mù Căng Chải, Y Tý ở Lào Cai nhưng cũng lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời tựa như tấm gương khổng lồ giữa lưng chừng núi đủ làm cho mọi người say đắm. Chưa hết, trên đường đi, có không ít chỗ, nhất là đoạn đường gần đến Mường Nhé (Nậm Kè) núi ngàn Tây Bắc còn cho chúng tôi chiêm ngưỡng một thiên đường mây chẳng khác gì biển mây ở Tà Xùa hay Tam Đảo. Mây cứ tầng tầng lớp lớp; khi dày, khi mỏng; lúc mềm mại dịu dàng êm trôi, lúc lại cuồn cuộn như thác đổ; bồng bềnh, lơ lửng mà giăng kín cả thung lũng mênh mông đến tận chân trời khiến cho lữ khách không khỏi nao lòng, thích thú. Cứ vậy mà cái cảnh sắc của đất trời Tây Bắc đã làm cho ai nấy chúng tôi quên đi mọi nỗi mệt mỏi của hành trình hơn bảy trăm cây số, từ Hà Nội lên Điện Biên rồi đến Sín Thầu. Cái cảnh sắc vừa hùng vĩ, hoang sơ vừa lãng mạn, thơ mộng tựa như chốn bồng lai tiên cảnh ấy quả thực đã làm say lòng người. Chúng tôi cứ nghĩ cảnh đẹp thần tiên của núi sông đại ngàn Tây Bắc của Điện Biên như thế không khác gì một đặc ân của thiên nhiên ban tặng cho con người xứ này mà không phải nơi nào cũng dễ gì có được. Như thế, bảo sao mà mỗi khi nhắc đến A Pa Chải những kẻ xê dịch không khỏi náo nức, chỉ muốn xách ba lô lên và đi ngay lập tức, bất kể là mùa nào.
Sáng hôm sau, từ trung tâm Mường Nhé, chúng tôi hỏi đường và tiếp tục đi đến cột cờ A Pa Chải. Quãng đường khoảng 70 cây số chúng tôi phải đi mất hơn hai giờ đồng hồ. Bây giờ, dù con đường vào xã Sín Thầu không còn khó đi như ngày trước nữa nhưng việc di chuyển vào mùa mưa vẫn tiềm ẩn nguy cơ sạt lở đầy nguy hiểm. Đường nhựa, đường bê tông dẫn lối đến tận chân cột cờ. Trên đường đi chúng tôi thấy cảnh vật hiện ra trước mắt rất đẹp. Những bản làng xinh xinh nối tiếp nhau với các nếp nhà sàn của đồng bào các dân tộc Dao, Hà Nhì, H’Mông … thấp thoáng, ẩn hiện dưới những tán cây rừng; bên sườn núi hay uốn lượn, quanh co cùng những thửa ruộng bậc thang khiến cho cái nơi một thời bị coi là “sơn lam chướng khí”, “sơn cùng thuỷ tận” hiện ra không còn hoang vu, rợn ngợp, buồn tẻ như người ta thường nghĩ. Có lẽ từ ngày tỉnh Điện Biên làm cột cờ A Pa Chải và từng bước phát triển du lịch nơi này mà hạ tầng giao thông ở đây được quan tâm nâng cấp cho nên đường ra cột mốc ba biên đã tốt hơn trước đây rất nhiều. Nhớ lại, khi xưa, đến A Pa Chải, ra cột mốc ba biên là một hành trình vô cùng vất vả. Không tính hơn 600 bậc đá ngược dốc, dẫn lối từ chân núi lên đến cột mốc thì đoạn đường từ đồn biên phòng đến chân núi cắm mốc ba biên cũng khoảng hơn mười cây số; chỉ có đường mòn băng qua các rừng già và các lối đi quanh co, cheo leo bên vách núi thăm thẳm. Sau này để phục vụ công tác tuần tra biên giới, nâng cao đời sống cho bà con dân bản và hoạt động trải nghiệm du lịch ở vùng ngã ba biên giới cho du khách thì những lối mòn đó đã được nâng cấp để xe máy, xe ô tô cũng có thể đến được gần cột mốc. Và, để lên đến được cột mốc, ngày đó khách đến phải đi bộ mất gần một ngày, dưới sự đưa đường của bộ đội biên phòng. Những lối mòn thời đó, có đoạn băng qua đồi cỏ gianh rậm rạp; cây cỏ cao ngập đầu người, lá dài và rất sắc, chỉ vô tình quệt vào là da thịt bị tứa máu. Phải nói rằng, ngày ấy, nếu không có sức khoẻ, không đủ can đảm thì không thể nào đi ra được cột mốc ba biên.

Thăm đồn biên phòng A Pa Chải
Mải mê ngắm nhìn những thay đổi của vùng đất miền Tây biên giới, chẳng bao lâu chúng tôi đã đến đồn biên phòng A Pa Chải để xin phép ra thăm cột cờ và cột mốc. Theo hướng dẫn của người chiến sĩ biên phòng, anh em chúng tôi thẳng tiến, đi về phía những biểu tượng thiêng liêng của vùng đất A Pa Chải. Sau nửa giờ xe chạy, theo con đường bê tông vừa mới làm xong, chúng tôi đã có mặt ở chân cột cờ. Công trình cột cờ này cũng mới được khánh thành, hơn một năm, theo thông tin tìm hiểu, chúng tôi biết cột cờ được khởi công hồi tháng 11 năm 2023 và khánh thành vào dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ năm 2025. Cột cờ có quy mô khá hoành tráng như cột cờ Lũng Cú ở địa đầu cực Bắc, cột cờ Lũng Pô ở nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Cột cờ A Pa Chải được làm trên một đỉnh núi thuộc dãy Khoan La San, ở độ cao 1459 mét so với mực nước biển, cách ngã ba biên giới (nơi đặt cột mốc số 0) 1387 mét theo đường chim bay. Nhìn tổng thể khuôn viên cột cờ rộng chừng hơn 400 mét vuông, bao gồm bốn hạng mục chính. Hạng mục thứ nhất là tuyến đường các bậc tam cấp, gồm 519 bậc đá, bám theo địa hình tự nhiên của sườn đồi để dẫn bộ du khách lên sân cột cờ. Hạng mục thứ hai là sân chào cờ, bồn hoa và đường dạo xung quanh. Từ trên cao nhìn xuống, hạng mục này được làm cách điệu giống hình bông hoa ban, một loài hoa đặc trưng của miền Tây Bắc, nhất là Điện Biên. Hạng mục thứ ba là phần chân cột cờ, được bao quanh bằng năm bức phù điêu đá, khắc hoạ các hình ảnh về văn hoá, đời sống lao động sản xuất và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Bức thứ nhất tái hiện truyền thuyết “Quả bầu mẹ” của dân tộc Khơ Mú nhằm khơi gợi nơi mọi người ý thức về cội nguồn chung của các dân tộc Việt Nam. Bức thứ hai diễn tả văn hoá tín ngưỡng của các dân tộc ở Điện Biên, trong đó có nhiều loại hình đã được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia. Bức thứ ba phản ánh cuộc sống lao động của nhân dân Điện Biên, gồm các nghề truyền thống, những nghề thủ công đặc trưng đã được vinh danh là di sản. Bức thứ tư thể hiện các hoạt động văn hoá văn nghệ dân gian như dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian của đồng bào các dân tộc nơi đây, tiêu biểu là múa Khèn Mông, múa Khơ Mú. Bức thứ năm là hình ảnh vòng xoè đại đoàn kết tại Quảng trường 7 - 5 ở thành phố Điện Biên trong dịp kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nổi bật nhất là nghệ thuật Xòe Thái, đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đặc biệt ở trên đỉnh cột cờ còn ốp bức tranh khắc đá hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Tây Bắc nhằm tái hiện tình cảm thiêng liêng của Bác Hồ dành cho đồng bào các dân tộc nơi này. Hạng mục thứ tư là cột cờ trung tâm, phần thân cột được thiết kế theo hình bát giác, tổng chiều cao là 45,19 mét, trên đỉnh có treo lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, rộng 37, 5 mét vuông (kích thức 7,7 m x 5 m). Với sự có mặt của cột cờ A Pa Chải, giờ đây, đến với ngã ba biên giới cực Tây, chúng ta không chỉ được chạm tay vào cột mốc số 0 mà còn thấy hãnh diện mỗi khi được ngắm nhìn lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc tung bay trong gió ngàn giữa nơi biên ải xa xôi. Có thể nói, sự xuất hiện của cột cờ ở nơi đây đã mang đến cho vùng đất A Pa Chải một biểu tượng thiêng liêng mới. Công trình cột cờ ấy không chỉ làm bừng sáng cảnh sắc nơi địa đầu Tổ quốc mà còn có ý nghĩa như một lời khẳng định đanh thép về chủ quyền quốc gia, đồng thời cũng khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc trong lòng những người con đất Việt mỗi khi đặt chân đến vùng đất biên thuỳ được xem là giao điểm của ba nước Việt - Trung - Lào.
Đến với vùng đất nơi “một con gà gáy cả ba nước cùng nghe” ở A Pa Chải đúng là một hành trình đến với trái tim, chạm vào cảm xúc. Đứng giữa nơi ngút ngàn gió núi biên ải, ngước mắt nhìn lá cờ Tổ quốc đang kiêu hãnh tung bay phần phật, tất cả anh em chúng tôi cùng nhau đặt tay lên ngực trái và đồng thanh hát vang bài Quốc ca bằng tất cả niềm tự hào và sự trân trọng. Tiếng hát của chúng tôi vút cao, hoà quyện vào gió ngàn của hồn thiêng sông núi. Khoảnh khắc ấy, tình yêu Tổ quốc trong mỗi con tim mà chúng tôi cảm nhận được không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà đã hiện hữu hình hài trong từng tấc đất, nhành cây, ngọn gió, hạt mưa ở giữa nơi biên cương xa ngút ngàn trùng. Cứ thế từng đợt cảm xúc thiêng liêng, tự hào trào dâng khiến ai nấy không khỏi nghẹn ngào. Rồi từ cột cờ, chúng tôi lại háo hức đi lên phía cột mốc số 0, ở toạ độ 22°23'53"N 102°8'51"E. Tính đường chim bay, khoảng cách từ cột cờ A Pa Chải đến giao điểm thiêng liêng của ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Lào chỉ có 1387 mét nhưng thực tế để lên được cột mốc ấy chúng tôi phải trải qua đoạn đường quanh co bên sườn núi, ước chừng khoảng gần bốn cây số. Trước đây, chinh phục được cột mốc số 0 này rất vất vả, du khách phải leo núi, đi bộ xuyên rừng nhưng giờ đây hành trình ấy thuận lợi hơn rất nhiều. Bộ đội biên phòng đã mở đường cho xe đi đến chân dốc, chúng tôi chỉ còn phải leo 570 bậc tam cấp để chinh phục được cột mốc số 0 và chính thức chạm tay vào mốc giới chủ quyền linh thiêng của Tổ quốc. Phải nói rằng, khi nhìn thấy cột mốc, mọi mệt mỏi đều tan biến, trong tôi chỉ còn lại một niềm tự hào vô bờ bến. Đứng giữa đỉnh cao 1866 mét của đỉnh núi Khoan La San, chạm tay vào cột mốc thiêng liêng trong những nỗi niềm cảm xúc vô bờ, tôi chợt nhận ra rằng: dẫu vách đá biên thuỳ có xa xôi, dẫu mây ngàn gió núi có giá lạnh thì ngọn lửa lòng của tình yêu đất Việt vẫn luôn cháy bỏng. Chính hơi ấm của niềm tự hào dân tộc ấy đã sưởi ấm từng bước chân lữ khách và dẫn lối cho ta đi đến cột mốc một cách kiêu hãnh để khẳng định chủ quyền bất biến của Tổ quốc thân yêu.
Lúc này, đứng bên cột mốc, tôi bỗng ngộ ra, chủ quyền thiêng liêng của đất nước không phải là khái niệm nằm trên trang sách mà chính là dòng máu nóng đang hừng hực chảy trong huyết quản, là ý thức gìn giữ vẹn toàn bờ cõi thiêng liêng như vần thơ từ ngàn năm trước của Lý Thường Kiệt từng vang lên trên chiến hào chống giặc Tống xâm lược: “Nam quốc sơn hà nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” (bản dịch thơ của Lê Thước và Nam Trân: Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Vằng vặc sách trời chia xứ sở/ Giặc dữ cớ sao phạm đến đây/ Chúng mày nhất định phải tan vỡ). Đó là một tình yêu kết tinh từ máu thịt với giang sơn gấm vóc, một niềm kiêu hãnh vẹn tròn không thể nói hết được bằng lời. Trong niềm cảm xúc trào dâng ấy, cột mốc số 0 hiện ra trước mắt tôi với đầy đủ hình hài và vô cùng gần gũi. Cây cột hình tam giác, cao khoảng 2 mét, ba mặt quay về ba hướng của ba quốc gia. Trên mỗi mặt cột mốc có in quốc huy, tên riêng của từng nước bằng chữ của từng quốc gia Việt Nam, Lào, Trung Quốc. Phía dưới chân cột mốc có ghi thời gian cắm mốc, năm 2005. Toàn bộ cây cột được làm bằng đá Granit, đặt trên bệ hình lục giác. Từ cột mốc số 0, chúng tôi đưa mắt nhìn ra bốn phía, say sưa ngắm nhìn núi non trùng điệp và mây trời bao la. Nhìn về phía Trung quốc, trước mắt tôi hiện ra một hàng rào thép gai lạnh lùng cùng con đường tuần tra bằng bê tông uốn lượn bên sườn núi; xa xa là những thung lũng sâu hoắm và các mảng rừng xanh mướt trên các dải núi tiếp nối nhau của đất Giang Thành. Quay sang phía nước bạn Lào, không gian cũng được mở ra với muôn trùng núi ngàn xanh biếc của huyện Nhọt U cùng những nếp nhà sàn ẩn hiện trong các thung lũng mờ sương. Nhìn lên bầu trời, mây đậm đặc và dập dềnh như sóng đại dương. Những dải mây trắng, mây xanh bồng bềnh, quấn quýt lấy đại ngàn mênh mông, khiến lòng người không khỏi xao xuyến, mê say. Khi màn sương bảng lảng tan đi, hướng mắt về vùng đất của Tổ quốc thân thương, thấy hiện ra trong mắt là những thửa ruộng bậc thang của bản Huổi Thanh uốn lượn mềm mại như dải lụa trải dài vô tận. Gần hơn là bản Tá Miếu với những nếp nhà trình tường của đồng bào Hà Nhì lọt thỏm giữa thung lũng bình yên, ẩn hiện trong màu xanh ngút ngàn của núi rừng biên viễn. Quả thực, càng lên cao, tầm mắt càng ôm trọn muôn trùng sông núi. Cứ thế, một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa lai láng, thơ mộng đến nao lòng, khiến lòng người không khỏi đắm chìm mê mẩn. Thế đấy, mỗi chuyến đi thăm cột mốc A Pa Chải và ra cột mốc là một hành trình khám phá. Hơn thế, chúng tôi đã nhận ra rằng, nó không đơn giản là chuyến viễn du ngắm cảnh mà còn là để thức tỉnh. Cái cảm xúc thiêng liêng bên các biểu tượng chủ quyền đất nước ở giữa nơi ngàn trùng mưa rừng gió núi ấy đã khơi dậy trong lòng người đến một tình yêu đất nước sâu kín và mãnh liệt. Bởi thế, đến với ngã ba biên giới, nơi “một con gà gáy cả ba nước cùng nghe”, đứng ở nơi ranh giới của ba miền biên ải, tôi đã hiểu thế nào là sự thiêng liêng, kiêu hãnh của hai tiếng “Tổ quốc”.
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Bài, ảnh: Phan Anh – Thu Hiền