TIN TỨC

Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-06-28 23:55:32
mail facebook google pos stwis
18 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Với các cây bút hậu hiện đại thì “chẳng có gì ngoài văn bản”. Họ tận dụng tối đa những khoảng trống, những yếu tố có thể sử dụng được để sáng tạo và biểu hiện. Họ sử dụng ngôn ngữ cũng hoàn toàn khác so với những nhà hiện đại. Với quan niệm không thể làm chủ được ngôn từ “nhà văn hoạt động như một kẻ tôi tớ đã để cho văn bản hoạt động một cách tự do vượt ra ngoài ý định của chính mình” [1, tr. 409], rất nhiều cây bút hậu hiện đại đã đảo lộn ngôn ngữ của mình, đoạn tuyệt với ngữ pháp, không chú trọng tới sự mạch lạc của ngôn từ, không thừa nhận giá trị, ý nghĩa nội tại của ẩn dụ và của tượng trưng. Ngôn ngữ với các cây bút hiện hậu đại, vì thế, cũng chỉ là một trong rất nhiều mắt xích của cỗ máy sáng tạo trò chơi, của những thử nghiệm vô bờ bến. Và không thể có một trục, một tâm điểm nào trong tác phẩm hậu hiện đại - đó là một trong những biểu hiện của lối sáng tác phi trung tâm hoá.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

1. Chủ nghĩa hậu hiện đại đã trở thành một hiện tượng văn hoá của thế giới trong thế kỷ XX. Nó đã ảnh hưởng trên hầu khắp các lĩnh vực nghệ thuật, làm nên những thành công khiến nhân loại phải chú ý. Nó đã thực sự trở thành một phương thức thao tác mới của con người trong những cuộc khám phá thế giới. Nó đã mở ra nhiều khả tính mới cho sự sáng tạo, từ đó, mở rộng địa dư của nghệ thuật và của cái đẹp nói chung.

Không ai có thể phủ nhận những thành công của nền nghệ thuật hậu hiện đại. Nó đã tạo ra một sân chơi mà ở đó các nghệ sỹ được thoả sức thể nghiệm những ý tưởng của mình. Nó đã tạo ra một sàn diễn không phân biệt cao thấp, sang hèn, quá khứ, hiện tại, tương lai. Ở đó, mỗi người có thể tự tạo dáng cho mình, tự chọn chất liệu, tông màu; tự thiết kế trang phục và tự biểu diễn. Chủ nghĩa hậu hiện đại đã làm cho bức tranh nghệ thuật đa dạng và đầy ắp những thử nghiệm, cách tân táo bạo. Ta thấy có người đã đi vào phong cách trừu tượng loang màu trong hội hoạ; săn tìm cảm hứng từ những building bản xứ trong kiến trúc; chú tâm vào những hiệu ứng nổi hạt hình ảnh, sử dụng ống kính góc rộng để làm méo, những cú zoom mơ hồ trong nhiếp ảnh hay tạo ra những bè không có chủ âm và tính chuỗi trong âm nhạc... Văn học cũng là một địa hạt ghi nhận rất nhiều thử nghiệm và đánh dấu không ít thành công của chủ nghĩa hậu hiện đại. Vậy chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học có diện mạo ra sao?

Có thể nói chủ nghĩa hậu hiện đại đã tạo ra một bức tranh với những mảng màu khác lạ khiến không ít người cảm thấy bị cuốn hút. Dù muốn hay không, ít ai có thể phủ nhận giá trị của các tác phẩm hậu hiện đại nổi tiếng của Calvino (Cuộc phiêu lưu của người lính), Umberto Eco (Tên gọi của hoa hồng), Donal Bathemer (Lớp học), Milan Kundera (Cuộc sống không ở đây, Hãy để cho người chết cũ nhường chỗ cho người chết mới), Garcia Marquez (Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma..), Pavic (Từ điển Khaza) và dù muốn hay không, khó ai có thể phủ nhận những đột phá trong cách viết và kiến tạo tác phẩm mang đầy tính thách thức của các cây bút thuộc thế giới thứ ba (những nước nghèo nàn, lạc hậu, vẫn chưa thể hoàn tất quá trình hiện đại hoá). Họ đã tạo nên một diện mạo mới cho văn chương thế giới. Mỗi người theo những cách thức rất riêng, đã chứng minh cho cả thế giới thấy rằng có nhiều phương thức để chiếm lĩnh nghệ thuật, có nhiều con đường để đến với cái đẹp và có nhiều cách để thể hiện khát vọng tự do.

Văn chương hậu hiện đại hướng đến sự tự do, trước hết đó là sự tự do trong cách viết. Bản thân mỗi cây bút đã tự mình cởi trói khỏi những ràng buộc, trì níu, vượt thoát khỏi những ba rem, đường mòn đã định sẵn. Họ cũng tự giải thoát mình khỏi dư luận với những đòi hỏi, yêu cầu, thách đố. Cao hơn hết là họ tự đập vỡ những bức tường vô hình vốn cầm tù bản thân mình. Và họ đã cầm bút với ý thức tự giải phóng.

Với Umberto Eco thì một tác phẩm hậu hiện đại là một tác phẩm thể hiện thái độ, một cách nhìn, một lối nói đã khác trước. Theo ông công việc sáng tác của các nhà hậu hiện đại đã khác trước về căn bản. Trước hết là thái độ của nguời sáng tác và người tiếp nhận, nó đã chịu sự chi phối của những gì đã có từ trước, chấp nhận quá khứ như những cái không thể loại trừ và vì thế nó buộc cả người viết và người đọc phải tìm ra phương cách để thích ứng. Đó là những cuộc chơi mà cả người viết và người đọc “bắt buộc” phải hiểu luật chơi cũng như cách thức chơi.

2. Những biểu hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học

Một tác phẩm văn chương hậu hiện đại trước hết phải chuyên chở cảm quan hậu hiện đại. Cảm quan hậu hiện đại “là kiểu cảm nhận thế giới đặc biệt, là sự phản ánh tâm thức thời đại hậu hiện đại” [1, tr. 8], là cách nhìn nhận của con người trước các hiện tượng đời sống, trước chính mình và trước nghệ thuật, là sự khủng hoảng niềm tin vào tất cả những giá trị đã từng tồn tại trước đó. Con người hậu hiện đại không tin vào những cuộc cách mạng cải tổ, hoài nghi về một mẫu hình thế giới lý tưởng, vĩnh viễn, đặt câu hỏi trước tất cả những gì đã tồn tại, phản biện trước tất cả những gì thuộc về chân lý, đạp đổ thần thánh, giết chết thượng đế. Họ cũng không đặt niềm tin vào những quy luật phổ quát “mà tin vào những thí nghiệm và ứng dụng ở quy mô nhỏ, đoản kỳ và thiết thực” [1, tr. 227]. Các cây bút hậu hiện đại cho rằng: Hiện thực chỉ tồn tại được ở dạng tạm thời, không hoàn chỉnh, đó là “Những bản thế vì của hiện thực, nơi ranh giới giữa cái thực và cái ảo, giữa cái bề mặt và cái bề sâu, giữa hiện tượng và ý nghĩa không còn hiện hữu nữa” [3, tr. 7]. Chủ nghĩa hậu hiện đại chính là sự sụp đổ của những cái toàn trị, là sự xoá bỏ hoàn toàn những cái lớn lao, mang tính chất phổ quát, là sự nở rộ của những cái ngoại biên, là sự lên ngôi của những phân mảnh. Sự thay đổi về cảm quan tất yếu sẽ dẫn tới việc các cây bút hậu hiện đại phải tìm đến những phương thức thể hiện khác trước. Họ phải tự mình mở những con đường mới để tiếp cận và chiếm lĩnh địa hạt nghệ thuật. Vì thế, hiện thực mà các nhà văn hậu hiện đại hướng đến là hiện thực mảnh vỡ, vụn rời, đổ nát - là thứ hiện thực được viết lên từ chính tâm thức của nhà văn hậu hiện đại, là hiện thực trong con mắt cảm nhận chứ không phải thứ hiện thực cố tình được tạo ra bởi chủ ý hay bởi kỹ xảo ngôn từ, cũng vì thế mà “không một nghệ sỹ hậu hiện đại nào đã trình bày tác phẩm của mình như là sự chứng minh cho một tư tưởng cách mạng hoặc một dự án cho sự chuyển hoá lịch sử” [1, tr. 404].

Khác với các nhà văn hiện đại luôn hướng tới những đại tự sự, những hiện thực vĩ đại lớn lao, phổ quát, những câu chuyện vĩ đại mang tính toàn nhân loại, các cây bút hậu hiện đại lại ưa thích những tiểu tự sự, những câu chuyện nhỏ mang tính địa phương, những tình huống nhất thời, không dung nạp tính phổ quát, loại bỏ tính ổn định, trật tự. Khác các cây bút hiện đại luôn khao khát tìm đến sự trọn vẹn cho một hiện thực nham nhở, trầy xước, các nhà hậu hiện đại lại đồng ý chung sống với những bức tranh gồ ghề, xù xì của hiện thực. Khi các nhà hiện đại cố gắng tìm kiếm, hàn gắn những mảnh vỡ của hiện thực hòng đạt đến một bức tranh toàn vẹn, không tỳ vết thì các nhà hậu hiện đại để mặc hiện thực phơi bày tất cả những chiều kích, đường nét, góc cạnh của nó. Họ cũng không hề có ý định lắp ghép, hàn gắn lại hiện thực. Chủ nghĩa hậu hiện đại thực sự đã tạo ra những cách thức độc đáo để khám phá ra sự bấp bênh của những giấc mơ đại tự sự, sự hoài nghi về những thứ chính thống hoá, toàn trị hoá có tham vọng điều phối cả nhân loại.

Với các cây bút hậu hiện đại thì “chẳng có gì ngoài văn bản”. Họ tận dụng tối đa những khoảng trống, những yếu tố có thể sử dụng được để sáng tạo và biểu hiện. Họ sử dụng ngôn ngữ cũng hoàn toàn khác so với những nhà hiện đại. Với quan niệm không thể làm chủ được ngôn từ “nhà văn hoạt động như một kẻ tôi tớ đã để cho văn bản hoạt động một cách tự do vượt ra ngoài ý định của chính mình” [1, tr. 409], rất nhiều cây bút hậu hiện đại đã đảo lộn ngôn ngữ của mình, đoạn tuyệt với ngữ pháp, không chú trọng tới sự mạch lạc của ngôn từ, không thừa nhận giá trị, ý nghĩa nội tại của ẩn dụ và của tượng trưng. Ngôn ngữ với các cây bút hiện hậu đại, vì thế, cũng chỉ là một trong rất nhiều mắt xích của cỗ máy sáng tạo trò chơi, của những thử nghiệm vô bờ bến. Và không thể có một trục, một tâm điểm nào trong tác phẩm hậu hiện đại - đó là một trong những biểu hiện của lối sáng tác phi trung tâm hoá.

Khác các nhà văn hiện đại thường chú ý tới một trung tâm nhất định, xoay quanh một trục chính duy nhất, chú tâm vào những điểm chói sáng của văn bản, các cây bút hậu hiện đại lại chú ý đến những vùng ngoại biên, dung nạp những thứ được coi là ngoại lệ, bất toàn như nền văn học của các thổ dân, các cộng đồng di dân và tị nạn, những người đồng tính luyến ái. Một tác phẩm hậu hiện đại có thể dung nạp cả truyền thống lẫn hiện đại, quá khứ, hiện tại và tương lai, không phân biệt văn hoá cao cấp hay văn hoá bình dân. Nó có thể mở rộng biên độ đến vô cùng, có xu hướng tìm về những nền văn hoá trước đây bị cho là những cái khác, bị lãng quên, loại trừ, và miệt thị. Nó chấp nhận những sự lắp ghép ngẫu nhiên và những sự nhại lại, chấp nhận sự kết hợp lỏng lẻo giữa các thành tố trong tác phẩm như những thủ pháp nghệ thuật quan trọng. Tính nhất quán đã không còn, thay vào đó là sự lên ngôi của những dị biệt; tính hệ thống đã trở nên lỗi thời thay vào đó là sự thăng hoa của tính đa tạp; tính trung tâm đã mất thay vào đó là sự nở rộ của tính ngoại biên. Đó là những tác phẩm biết rút gần khoảng cách giữa trung tâm và ngoại biên, giữa nền văn hoá non trẻ và nền nền văn hóa lâu đời, giữa lĩnh vực nghệ thuật này với lĩnh vực nghệ thuật khác (hay ít nhất nó cũng hướng tới mong đạt được điều đó).

Chủ nghĩa hậu hiện đại có xu hướng sáng tác theo lối phản thể loại. Tất cả những quy định về thể loại của văn học hiện đại dường như còn rất ít tác dụng. Mọi đường biên của thể loại đã bị phá vỡ, tháo tung, xáo trộn. Có khi không thể gọi được tên thể loại của tác phẩm. Barem, đường biên giữa tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ, ký… đã bị xoá mờ. Do đó, rất khó có thể áp dụng những quy tắc thể loại của văn học hiện đại cho văn học hậu hiện đại. Xuất phát từ việc thể loại của văn học hiện đại là hiện thân của những đường biên chế định, ràng buộc khắt khe nên chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương phá vỡ, vượt thoát khỏi những khuôn khổ đó. Người ta đã nói đến sự cạn kiệt trong hình thức tiểu thuyết, và vì thế người ta phải đi tìm những hình thức khác phù hợp. Người ta có thể mặc sức dung nạp các hình thức nghệ thuật khác, các thể loại khác vào trong tiểu thuyết của mình. Chúng ta khó có thể tìm thấy một thể loại thuần nhất, tinh khiết nào trong khu vườn của văn chương hậu hiện đại: “Rất khó nói được đâu là ranh giới giữa tiểu thuyết và tuyển tập truyện ngắn trong cuốn Lives of Girls and women của Alice munro, giữa tiểu thuyết và trường thi trong cuốn Coming through Slaughter của Michael Ondaatje; giữa tiểu thuyết và tự truyện trong cuốn China men của Maxine Hong Kingston; giữa tiểu thuyết và lịch sử trong cuốn Shame của Salman Rushdie” [3, tr. 159]. Nếu văn học thế giới suốt thời kỳ Phục Hưng và Ánh sáng ở châu Âu thiên về những trường thiên tiểu thuyết với hàng trăm nhân vật, hàng ngàn sự kiện được tổ chức trong một kết cấu chặt chẽ tạo nên những kiểu kết cấu kinh điển thì văn học hậu hiện đại “bỏ ngoài tai” vấn đề hình thức. Tác phẩm văn chương hậu hiện đại không “ôm” quá nhiều chi tiết, không xây dựng quá nhiều nhân vật với những tính cách phức tạp, xoá bỏ mọi điển hình, không nốt nhấn, không điểm sáng, có thể kết thúc bất cứ lúc nào, cũng có thể mọi việc bị bỏ ngỏ, dở dang như chính hiện thực cuộc sống. 

Các nhà hậu hiện đại coi công việc sáng tác như một trò chơi. Mỗi tác phẩm có thể dung nạp trong nó rất nhiều chất liệu: Chất liệu của hội họa, kiến trúc, điêu khắc, thủ thuật cắt dán hay âm nhạc. Các cây bút hậu hiện đại không hướng đến những gì được nói tới hay nói khác đi là nó không quan tâm tới những cái được biểu đạt mà chỉ cốt sao thể hiện được cảm giác của người viết về một hiện thực nát rã, không kết nối. Người viết thậm chí không cần chú ý tới thái độ của độc giả; nhà văn có thể sáng tác và không ngần ngại cho thấy bản thân đang gặp khó khăn bởi một chiếc máy tính trục trặc hay bị quấy rầy bởi những cú điện thoại; họ có thể gửi một tác phẩm đang sáng tác dở qua bưu điện để cho những người khác hoàn thành tác phẩm. Các nhà hậu hiện đại còn có xu hướng xoá mờ ranh giới giữa hư cấu và phi hư cấu, văn học và triết học, giữa văn học và nhiều lĩnh vực khoa học khác. Có những tác phẩm cốt truyện chính nằm ngổn ngang bên những thư từ, bài tựa, những hình vẽ, những mảnh gỗ ghép, bản kê niên đại, quốc kỳ hay hình vẽ âm dương. Cần phải nói thêm rằng việc giao thoa thể loại không phải đến chủ nghĩa hậu hiện đại mới xuất hiện mà ở các trào lưu văn học trước đó đã có rồi, tuy nhiên sự thẩm thấu về thể loại là hiện tượng chỉ xuất hiện ở chủ nghĩa hậu hiện đại.

Bằng việc tạo ra các cách kết hợp thể loại, tận dụng những phương tiện phi ngôn từ, khả năng biểu đạt bởi khoảng trống trên giấy, các nhà hậu hiện đại đã tạo thêm cho mình những cách thức để dãn đường biên, để mở rộng không gian, để kéo dài chiều kích, để lấn chiếm biên giới, để có thể dung nạp được thứ  “hiện thực thậm phồn” đang diễn ra ngay trước mắt, để có thể diễn tả được những điều tưởng như không thể diễn tả được.

Trong việc xây dựng nhân vật, rất nhiều cây bút hậu hiện đại cũng đã thể hiện một quan niệm khác các cây bút hiện đại. Nhân vật trong tác phẩm hậu hiện đại chỉ còn thấp thoáng, không rõ hình rõ ảnh; chỉ còn là tôi với “những ảo tưởng, mộng mơ, ác mộng của chính tôi” [1, tr. 76]. Chúng “đã bị phế bỏ, mà không được thay thế”. Không ít nhà văn hậu hiện đại đã xây dựng tính cách nhân vật theo “chủ nghĩa vật thực” (chữ của Alanin Robbe Grillet) nghĩa là thế giới tồn tại những con người lạnh lùng, dửng dưng trước mọi sự, chẳng khác nào sự vật. Chúng tồn tại đấy nhưng thực ra là vắng mặt “trong cuộc viễn du sang đầu mút của đêm khuya, nhân vật đã thải bỏ dần dần tất cả những gì khiến nó nên người, để trở thành bóng ma vô danh làm người ta chỉ còn nghe được giọng nói” [1, tr. 75]. Giờ đây nhiều nhà văn hậu hiện đại không chủ tâm trong việc liệt kê ra những tích cách hay kể lể, xót thương cho những cảnh ngộ nữa, một tác phẩm có thể chỉ hướng đến những đối thoại tiềm ẩn, những xúc động sâu kín, hầu như không mang tính phổ quát (khác với những tác phẩm hiện đại luôn có xu hướng khắc họa nhân vật chìm sâu trong những suy tư của thời đại và của những cảm xúc mang tính toàn nhân loại).

Và tác giả thực sự cũng không còn vị trí quan trọng trong tác phẩm (nhìn trong tương quan với vị trí tác giả của chủ nghĩa hiện đại). Nhiều nhà hậu hiện đại đã tuyên bố về cái chết của tác giả như sự minh chứng cho một quan niệm mới về vị thế của tác giả trong một tác phẩm văn chương hậu hiện đại. Roland Barthes cho sự xuất hiện của người đọc phải trả giá bằng cái chết của tác giả. Họ không tham gia vào các sự kiện trong tác phẩm, để mặc chúng tự do với những cảm xúc, hành động của riêng chúng, để cho chúng tự kết liễu nhau (nếu có thể). Họ cũng không còn là người thứ ba biết tuốt, không còn dẫn dắt độc giả đi tìm ý nghĩa, không lên gân, và không rao giảng đạo đức. Kỳ thực tất cả những cách nói mang tính hài hước: “cái chết của tác giả”, “giải nhân cách hoá”, “sự hòa tan tính cách trong tiểu thuyết”, “khủng hoảng của cá tính, đứng sau cánh gà gặm móng tay”... chẳng qua là một kiểu nói nhằm nhấn mạnh tới vị thế, vai trò của độc giả trong tác phẩm hậu hiện đại. Các nhà hậu hiện đại muốn thể hiện rằng đã đến lúc văn chương cần được giải thoát khỏi những ách kìm kẹp, mà đầu tiên phải loại tác giả ra khỏi những dự tính, ý đồ mang đầy tính chủ quan; văn chương phải là nơi thể hiện sự tự do, và độc giả cũng phải là những người được tự do trong cảm nhận, trong cách giải mã tác phẩm. Các tác phẩm hậu hiện đại, vì thế, nhiều khi không có kết thúc, không có những lời giải thích, mất hẳn những sơ đồ chỉ dẫn mách bảo. Độc giả tự tìm cho mình những lời giải đáp, những bài học, những ý nghĩa sâu xa hay chỉ đơn thuần là tìm đến những gì họ cảm thấy thích thú.

Không chỉ dừng lại ở đó, các học giả đã khám phá ra một “kích thước” khác của văn bản hậu hiện đại - tính liên văn bản. Trong một tác phẩm hậu hiện đại bất cứ chữ nào cũng có hai mối quan hệ một là mối quan hệ nội tại với những chữ khác trong văn bản; hai là mối quan hệ ngoại tại với chính chữ ấy trong các văn bản khác. Văn bản hậu hiện đại, do vậy là những văn bản khổng lồ, là những “camera ghi tiếng vọng độc đáo”[1, tr. 35], là “một quần thể những giả định của văn bản khác” [1, tr. 35], là sự đan dệt bởi rất nhiều những mảng màu của các nền văn hoá khác nhau, trong đó mọi việc đã được nói đến vào một lúc nào đó, trong một văn bản nào đó, “là nơi tất cả các thực tiễn, các phong cách và chiến lược diễn ngôn của quá khứ tìm thấy tiếng vọng của mình, tìm thấy những hành vi bắt chước mình và gia nhập vào một cuộc chơi bất tận tạo lại các mã ký hiệu” [1, tr. 311]. Là nơi mà mỗi tác phẩm không thể tồn tại độc lập tự nó, không thể cắt đứt với những gì đã từng tồn tại trong quá khứ, là nơi mà “tác phẩm của một cá nhân luôn là một loại kết nút đánh dấu được tạo ra bên trong tấm dệt văn hóa và trong lòng cái nôi này, nó cảm thấy mình không chỉ chìm ngập, mà chính là được xuất hiện. Cá nhân xét về xuất xứ của mình, chỉ là một yếu tố của tấm dệt văn hoá đó. Cũng như vậy, tác phẩm anh ta chỉ là tác phẩm tập thể” [1, tr. 39]. Các yếu tố trong văn bản đều ít nhiều có quan hệ với một hệ thống liên văn bản rộng lớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát của tác giả. Tính liên văn bản cũng là một đặc điểm cho thấy chủ nghĩa hậu hiện đại không phủ định sạch trơn những gì tồn tại trước đó. Có nghĩa là quá khứ không bị phá huỷ mà vẫn được kế thừa, tiếp nối. Bàn luận về điều này Umberto Eco đã dùng một cách ví von rất độc đáo như sau: “Tôi nghĩ về thái độ hậu hiện đại như về câu chuyện của ai đó yêu một người đàn bà, rất có học thức, và biết rằng không thể nói với cô ta: “Anh yêu em đến thẫn thờ”, bởi vì chàng biết là nàng biết (và nàng biết là chàng biết) rằng câu này Liala đã từng viết rồi. Tuy nhiên có một cách giải quyết. Chàng có thể nói: “như thể Liala nói, anh yêu em một cách tuyệt vọng”. Đến điểm này, tránh được sự ngây thơ giả dối trong lúc nói rõ là không thể còn nói một cách ngây thơ nữa, tuy nhiên chàng con trai này đã nói với nàng con gái điều chàng ta muốn nói: rằng chàng yêu nàng, nhưng yêu nàng trong thời đại của sự ngây thơ đã đánh mất. Nếu nàng con gái chịu vào cuộc chơi, nàng sẽ, y như thể, nhận được một sự tỏ tình. Không ai trong hai người cảm thấy ngây thơ, cả hai chấp nhận sự thách thức của quá khứ, của cái đã nói không thể loại trừ, cả hai đều vào cuộc chơi một cách có ý thức và với sự thú vị cho cái trò chơi của sự trào phúng… nhưng cả hai sẽ thành công một lần nữa để nói chuyện tình yêu” [3, tr. 274-275]. Độc giả của văn chương hậu hiện đại vì vậy phải tiếp cận tác phẩm theo những nguyên tắc khác trước. Tùy thuộc vào phông văn hoá, người đọc được tự do trong việc tìm ra cho mình một cách đọc thích hợp, tự đi tìm những kết luận cho tác phẩm. Mỗi người sẽ có một cách kiến giải tác phẩm theo những quan niệm riêng, theo những gì anh ta đã thu nhận được trong quá trình sống, theo nếp nghĩ từ cái nôi anh ta đã sinh ra và lớn lên, theo kiểu tư duy mà anh ta đã được thừa hưởng của dân tộc mình.

Những văn bản hậu hiện đại được tổ chức rất đặc biệt. Về cấu trúc, nó không còn kiểu cấu trúc tuyến tính thông thường, nó phá vỡ mọi trật tự, xáo tung mọi mạch lạc. Các cây bút hậu hiện đại không ưa những trục trung tâm mà thường tạo ra những cấu trúc phân mảnh. Mỗi tác phẩm có khi là sự đan xen, lồng ghép rất nhiều mạch truyện khác nhau, không có truyện nào liên quan đến truyện nào (còn gọi là kiểu chuyện lồng trong chuyện). Cũng có khi một cốt truyện được trình bày theo kiểu tháo rời. Người đọc có thể đọc ngược đọc xuôi, có thể đọc bất cứ phần nào trước rồi ghép chúng lại với nhau. Tác phẩm hậu hiện đại rất chú ý cái biểu đạt và gần như không coi trọng cái được biểu đạt “dẫn đến việc tuỳ tiện trong ghép từ, tạo câu bất kể sự trống rỗng trong nội dung” [1, tr. 77]. Tạo ra cốt truyện phân mảnh là một trong những cách thức để các nhà văn hậu hiện đại thể hiện cảm quan của mình về một thế giới đổ nát, phân rã, không thể nối kết và họ cũng không có ý định hàn gắn lắp ghép, sắp xếp lại cho toàn vẹn như các nhà văn  hiện đại.

Đặc biệt trên phương diện tổ chức văn bản thì các tác phẩm hậu hiện đại sử dụng giọng điệu giễu nhại như một chủ âm. Tất cả những vấn đề dù nghiêm túc đến đâu, dù kỳ vĩ ra sao đều có thể trở thành tâm điểm của giọng điệu giễu nhại, đó là “lối u mua màu đen kết hợp với hoang đường khủng khiếp với hoạt kê, thông qua cái hài để biểu đạt cái bi đát nhất. Tác giả thường lập ý quái dị, tưởng tượng phong phú, nhưng là nhằm vạch ra cái tính chất buồn cười trong những sự việc thường thấy, cười cợt khôi hài một cách chua chát, kể cả tự trào trong một trạng thái lạnh lùng, bế tắc, tiến thoái lưỡng nan… U mua màu đen, do đó, là sự phản ánh vào văn học loại khôi hài tuyệt vọng, nó cố gây tiếng cười cho con người, xem như sự phản ứng lớn nhất của loài người đối với những cái vô nghĩa hoang đường mà lại thường thấy trong cuộc sống” [1, tr. 80 - 81]. Người nghệ sỹ không mơ ước một xã hội tiến bộ hơn, không kỳ vọng tới những thay đổi lớn lao, vĩ đại mà thông qua sáng tạo họ tạo ra một thế giới nghệ thuật song song với thế giới hiện thực và từ đó “với tiếng cười ha hả, họ chiêm ngưỡng những hình ảnh được thai nghén từ một thế giới nguyên mẫu trong đó những ấu trĩ của tính hiện đại vẫn được vận dụng một cách nghiêm chỉnh” [1, tr. 410]. Giọng điệu giễu nhại tạo nên sức mạnh của các tác phẩm hậu hiện đại. Thái độ châm biếm, giọng điệu u mua, hài hước là cách thức duy nhất để người ta tiếp tục viết lách. Giọng điệu giễu nhại cũng chính là liều thuốc hữu hiệu nhằm thích ứng với thời đại đánh mất hoàn toàn sự ngây thơ. Đó cũng là cách mà các cây bút hậu hiện đại tạo ra nhằm tiến tới một khoảng đất rộng rãi, trên đó họ có thể thoả sức thử nghiệm thông qua bất kỳ cách kết hợp nào mà họ có thể tạo ra. Đó cũng là giọng điệu rất tương xứng, phù hợp khi mà thần thánh và thượng đế đã chết.

Một tác phẩm văn chương hậu hiện đại là một sản phẩm độc đáo của những thử nghiệm, là sự thách thức tất cả những gì đã tồn tại trước đó, là sự dấn thân, trải nghiệm và đương đầu với rất nhiều rào cản để được vươn tới chân trời của tự do. Xét đến cùng cái mới bao giờ cũng bị cái cũ, cái bảo thủ kìm hãm và tìm mọi cách loại bỏ, song cuộc sống muốn tồn tại, phát triển phải luôn được đổi mới mà mầm mống đầu tiên là từ những cuộc thử nghiệm và dấn thân.

3. Xung quanh vấn đề Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam vẫn còn rất nhiều tranh cãi. Người ủng hộ, kẻ phản đối, không ít kẻ nghi ngờ, không ít người lên tiếng phủ nhận, lên án, phản đối kịch liệt. Nhưng có thể khẳng định chủ nghĩa hậu hiện đại và những gì liên quan đến nó đang có sức hấp dẫn với nhiều cây bút sáng tác và nghiên cứu tại Việt Nam. Mặc dù ở Việt Nam chưa có nền kinh tế, chính trị, văn hoá hậu hiện đại như nhiều nước tư bản phát triển trên thế giới nhưng trong một số tác phẩm của các cây bút đương đại, những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại đã được biểu hiện trong cách quan niệm nhìn nhận về văn chương, nghệ thuật, vai trò của nghệ sĩ, trong cách đánh giá về đời sống, xã hội, con người và trong cách tổ chức, sáng tạo văn bản. Tất cả đều thể hiện những nỗ lực của các nhà văn Việt Nam mong trả công việc sáng tạo về với đúng nghĩa của nó là làm ra cái mới.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang nằm trong một bầu khí quyển thuận lợi của quá trình hoàn cầu hoá. Các nước trên thế giới cùng bắt tay với nhau trong việc giải quyết các vấn đề chung, cùng trao đổi, giao lưu văn hoá. Bởi vậy hậu hiện đại đã không còn là một hiện tượng quá xa lạ với người Việt. Nó thực sự đã tồn tại, đã hiện diện tại Việt Nam, đặc biệt sau khi chúng ta tiến hành đổi mới tư duy. Mặt khác cần phải khẳng định rằng: Chúng ta đã có một đội ngũ những nghệ sĩ mang trong mình khát vọng được cống hiến và sáng tạo thực sự. Rất nhiều cây bút trong số họ muốn đi tìm cho mình những con đường chưa ai khai phá, bởi vậy có nhiều người đã tìm thấy trong lý thuyết hậu hiện đại những yếu tố, những kỹ thuật viết phù hợp, có khả năng đáp ứng đòi hỏi được thể nghiệm và sáng tạo của họ.

Những nỗ lực cách tân của các cây bút như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Viện, Bùi Hoằng Vị, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương (văn xuôi) Đặng Đình Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Dương Tường (thơ)… đã góp phần đổi mới đáng kể cách viết của văn học Việt Nam hiện đại.

Tuy vậy, Việt Nam chưa thể có một nền văn học hậu hiện đại, cũng chưa thể có cái gọi là tác phẩm hậu hiện đại theo đúng tinh thần của thuật ngữ này trên thế giới. Chúng ta mới chỉ dám ghi nhận những dấu hiệu thấp thoáng đây đó trong những tác phẩm văn chương đương đại. Chắc chắn, vấn đề này còn được nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.

Nguyễn Công Thanh – Trương Ngọc Hân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm và biên soạn), Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lý thuyết, NXB Hội Nhà văn, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây-2004.

[2] Trương Thị Ngọc Hân, Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại, Luận văn cao học Ngữ văn, Đại học Vinh, Nghệ An-2006.

[3] Umberto Eco, Đi tìm sự thật biết cười (Vũ Ngọc Thắng dịch), NXB Hội Nhà văn-Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội-2004.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hào quang và bóng tối của Công tử Bạc Liêu: Từ huyền thoại giàu sang đến những suy ngẫm xã hội
Khi việc di chuyển bằng máy bay còn xa lạ với đa số người dân Đông Dương, gia đình Trần Trinh Huy đã có thể thuê hoặc sở hữu máy bay riêng để đi lại, thăm ruộng đất. Điều làm chấn động dư luận là cả nước Việt Nam khi ấy chỉ có 2 máy bay: một chiếc của Vua Bảo Đại và một chiếc của Trần Trinh Huy. Ngôi nhà của gia đình - nay là điểm tham quan, di tích văn hóa lịch sử - được xây dựng theo kiến trúc Pháp với nội thất nhập khẩu từ châu Âu, trở thành biểu tượng cho sự giàu sang vượt trội của tầng lớp địa chủ Nam Kỳ bấy giờ.
Xem thêm
Hội Nhà văn TP.HCM nhiệm kỳ 2020–2025: Một chặng đường nhiều thử thách và thành tựu
Videoclip Hội Nhà văn TP.HCM nhiệm kỳ 2020–2025: Một chặng đường nhiều thử thách và thành tựu phác họa bức tranh toàn cảnh về những dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ: từ hoạt động sáng tác, xuất bản, các cuộc thi, trại viết, hội thảo chuyên môn, Ngày Thơ Việt Nam, công tác văn học dịch, xây dựng Website Văn chương TP.HCM và Thư viện tác giả điện tử, đến những hoạt động nghĩa tình vì hội viên và cộng đồng.
Xem thêm
Cuộc tranh luận “nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh”
Thiển nghĩ, nghệ thuật là sản phẩm của con người sản sinh ra nhằm phục vụ con người nên luôn phải chịu sự tác động tất yếu của xã hội loài người. Văn nghệ sĩ tùy theo hoàn cảnh xã hội mà sáng tác tác phẩm của mình trên mối dung hòa giữa hai khuynh hướng vị nhân sinh hoặc vị nghệ thuật vậy.
Xem thêm
Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên và thông điệp của cha ông về sự vẹn toàn giang sơn
Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên là một trong những huyền thoại đẹp nhất, sâu nhất và bền bỉ nhất trong tâm thức người Việt. Câu chuyện ấy không chỉ trao cho dân tộc một cách hình dung thiêng liêng về nguồn gốc chung, mà còn gửi gắm một quan niệm rất sớm về giang sơn: giang sơn không chỉ có núi rừng, đồng bằng, làng mạc, ruộng lúa, mà còn có biển cả, cửa sông, bến thuyền, ngư trường, đảo xa và những cộng đồng cư dân sống đời đời với sóng nước.
Xem thêm
5 dòng chảy bazan: Những đối thoại với Tây Nguyên
Chương trình giao lưu và ra mắt sách mang tên “5 dòng chảy bazan” đã diễn ra trong bầu không khí ấm áp, cởi mở và giàu cảm xúc tại Đường sách TP. Hồ Chí Minh sáng 24/5/2026. Sự kiện không chỉ giới thiệu chùm 5 tiểu thuyết của 5 cây bút trẻ đến từ Gia Lai, mà còn mở ra một cuộc gặp gỡ nhiều ý nghĩa giữa văn chương Tây Nguyên với bạn đọc thành phố.
Xem thêm
Văn nghệ miền Nam với Bác Hồ - Phim tài liệu của VTV
Hình ảnh Bác Hồ vẫn hiện diện trong đời sống sáng tạo của nhiều văn nghệ sĩ miền Nam như một nguồn cảm hứng lặng thầm mà bền bỉ.
Xem thêm
30-4 và mệnh lệnh của hòa bình: Xây dựng một Việt Nam hùng cường nhân văn hạnh phúc
Ngày 30-4 không chỉ là ngày toàn thắng của một cuộc kháng chiến trường kỳ, mà còn là ngày hòa bình trao cho dân tộc Việt Nam một mệnh lệnh mới: Phải dựng xây đất nước xứng đáng với những hy sinh đã làm nên độc lập, thống nhất. Từ mùa xuân lịch sử 1975 đến kỷ nguyên phát triển mới hôm nay, bài học lớn nhất vẫn là bài học về niềm tin, đại đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên. Hòa bình không phải là điểm dừng của lịch sử, mà là điểm khởi đầu của trách nhiệm: Xây dựng một Việt Nam hùng cường về tiềm lực, nhân văn trong phát triển, hạnh phúc trong đời sống của mỗi người dân.
Xem thêm
Văn xuôi đương đại - sự vận động theo hướng dân chủ và nhân bản
Sau năm 1975, đặc biệt từ 1986 với công cuộc đổi mới, văn học nước nhà vận động mạnh mẽ theo một quỹ đạo tinh thần mới.Sau nhiều năm bị ràng buộc bởi hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo của thời chiến, đời sống văn học cởi mở hơn rất nhiều. Trong không khí dân chủ được mở ra từ Đại hội Đảng VI, nhiều vấn đề mới được đặt ra, nhiều tác phẩm văn học cũ trước Cách mạng tháng Tám từng bị phê phán được khôi phục giá trị, đồng thời văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975 cũng được đánh giá lại.
Xem thêm
Hội thảo khoa học “Họ Phùng Việt Nam - Dòng chảy và hội tụ” tại Đà Nẵng
Ngày 5/4/2026, tại thành phố Đà Nẵng, Hội đồng Họ Phùng Việt Nam phối hợp cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng sẽ tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Họ Phùng Việt Nam - Dòng chảy và hội tụ”.
Xem thêm
Ra mắt tập 4 thuộc Tổng tập Văn học dân gian Nam Bộ
Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh vừa ra mắt tập 4 của Tổng tập Văn học dân gian Nam Bộ của 2 tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương. Tập 4 mang chủ đề Tuồng tích sân khấu và diễn xướng dân gian Nam Bộ.
Xem thêm
Đại thi hào Nguyễn Du và những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi”
Nếu chỉ làm một thống kê số học thì hành trình trong cả cuộc đời của Đại thi hào Nguyễn Du chỉ cần ghi lại bằng vài ba nét gạch đầu dòng kiểu lý lịch trích ngang như ta hay dùng theo công nghệ số ngày nay. Vấn đề là qua cuộc hành trình tưởng như đơn giản ấy, ta rút ra được nhận xét gì, hiểu được gì về con người nổi tiếng này?
Xem thêm
Sự đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng từ năm 1986 đến nay
​Tóm tắt: Trải qua 40 năm Đổi mới, tư duy lý luận văn hóa của Đảng ta từ năm 1986 đến nay đã phát triển mạnh mẽ, liên tục có sự đổi mới về nhận thức: từ nhìn nhận văn hóa là lĩnh vực tư tưởng đến xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đảng ta đã đưa ra quan điểm, đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tập trung xây dựng hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học gắn với hệ giá trị gia đình Việt Nam trong mối quan hệ biện chứng với hệ giá trị quốc gia, để văn hóa, con người sẽ là nguồn sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Xem thêm
Đặng Thùy Trâm đã hóa thân vào mùa xuân đất nước
Gần 20 năm kể từ ngày đầu tiên vở diễn về bác sĩ Đặng Thùy Trâm ra đời, NSƯT Huy Thục ngồi điểm lại bao lần rơi nước mắt ở nơi in dấu chân của chị. Rồi ông kể những câu chuyện kỳ lạ mà ông cho rằng: Bác sĩ Đặng Thùy Trâm rất linh thiêng! Nhà thơ Thanh Thảo thì tâm sự, mong nơi chị hy sinh sẽ xây dựng một đền thờ để đón du khách, vì chị rất linh thiêng, chị đã hóa thân vào đất nước.
Xem thêm
Cảm hứng từ trò chơi dân gian Việt qua bộ phim “Báu vật trời cho”
Lấy cảm hứng từ các trò chơi dân gian Việt Nam để thiết kế hình ảnh quảng bá phim chiếu Tết là nỗ lực sáng tạo từ bộ phim Báu vật trời cho của đạo diễn Lê Thanh Sơn. Bộ phim sẽ ra rạp vào mùng 1 Tết Bính Ngọ (17/2).
Xem thêm
“Ngọn gió” chính sách cho văn học Việt vươn xa
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực cho hoạt động sáng tác, quảng bá và phổ biến văn học Việt Nam trong bối cảnh mới.
Xem thêm
Phan Bội Châu - người “đốt đuốc giữa ban ngày”
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người mà tên tuổi của họ vượt khỏi khuôn khổ thời gian, trở thành ngọn lửa soi sáng cho nhiều thế hệ sau. Một trong những ngọn lửa ấy là Phan Bội Châu – nhà cách mạng lỗi lạc, người mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ 20.
Xem thêm
Kiến tạo nền tảng văn hóa số
AI đang thay đổi cách sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật. Bên cạnh những cơ hội, AI cũng đặt ra thách thức về quyền tác giả, đạo đức nghề nghiệp và vai trò con người trong sáng tạo - những yếu tố cốt lõi để xây dựng văn hóa sáng tạo có trách nhiệm, lấy con người làm trung tâm.
Xem thêm
Thi ca – Nhịp cầu nhân văn kết nối Việt Nam & Palestine
Sáng ngày 17/12/2025, tại Hội trường A – Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh, đã diễn ra chương trình “Gặp gỡ thi ca Việt Nam – Palestine”, một sự kiện văn học quốc tế đặc sắc mang đậm tinh thần nhân văn và liên văn hóa.
Xem thêm
Hơn hai thế kỷ vẫn nghe tiếng Nguyễn Du
Hơn hai trăm năm đã trôi về phía sau lịch sử nhưng tên tuổi Nguyễn Du vẫn như ngọn hải đăng soi rọi vào đời sống tinh thần dân tộc. Từ những nếp nhà cổ ở Tiên Điền, đến các giảng đường văn chương, từ câu hát ru của người mẹ đến những trang sách mỏng lật qua tay lớp trẻ, bóng dáng người thi sĩ bạc mệnh vẫn hiện hữu, lặng lẽ mà bền bỉ.
Xem thêm