TIN TỨC

Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-24 10:42:20
mail facebook google pos stwis
552 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016,  một tai nạn thương tâm xảy ra  đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, nhà thơ Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.

 

Nhà thơ Hoa Níp

 

Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm

Ai rồi cũng đi qua kiếp người với cách của riêng mình. Có người đó là cuộc rong chơi, có người lại là cuộc vật vã và có người thì như chiếc lá vàng rơi… Còn nhà thơ Hoa Níp đi qua kiếp người giống như một vệt sao băng mang theo bao điều dang dở.

Thế là, đã tròn 10 năm (25/5/2016 - 25/5/2026) Hoa Níp rời xa cõi tạm.

Sự tiếc thương chia sẻ của nhiều người, đặc biệt là những tấm lòng của bạn hữu văn nghệ sĩ dành cho Hoa Níp dường như vượt qua khuôn khổ đời thường. Có lẽ chính sự thấu cảm đó đã giúp cho Hoa Nip phục sinh và gia đình chúng tôi vượt qua được nỗi đau kinh hoàng điên dại.

Nhân dịp tròn 10 năm Hoa Níp đi xa, tôi là Trần Vinh thân sinh của nhà thơ Hoa Níp, xin có những giải bày chia sẻ cùng mọi người.

 

Trần Quang Minh Giảng và bút danh Hoa Níp

Vợ chồng tôi đều là giáo viên dạy văn nên đặt tên con trai đầu lòng là Minh Giảng. Từ năm học lớp 2, Minh Giảng đã biết làm thơ. Lên lớp 3 Minh Giảng từng có thơ đăng báo và có tiền nhuận bút để khao cả nhà. Học đến cấp 2 Minh Giảng tiếp tục làm thơ với bút danh là Phong Khê. Thơ của Phong Khê lúc đó được nhận xét là “rất già dặn”, có những bài nặng trĩu suy tư.

Khi vào Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, Trần Quang Minh Giảng bắt đầu lấy bút danh là Hoa Nip. Nhà thơ Hoa Níp vốn vô cùng đam mê những điều mới lạ, rất thích tìm hiểu về nước Mỹ, nước Anh qua sách báo phim ảnh. Vì đam mê nên Hoa Níp đã lấy tên truyện ngắn “Nàng là nước Mỹ” đặt tên cho bản thảo tập truyện ngắn. Hai tiếng “nước Mỹ” trở thành một tính từ để nói về những giá trị muốn vươn tới. Đối với nước Anh, Hoa Níp cũng thường xuyên tìm đọc và xem những bộ phim của điện ảnh xứ sở sương mù. Mê đến nỗi Hoa Níp đã viết bản thảo tiểu thuyết “Rốc Shakespeare”.

 

Các nhà thơ TP.HCM cùng gia đình viếng mộ nhà thơ Hoa Nip

 

Tuy nhiên, vùng đất xa lạ mà Hoa Níp say đắm nhất chính là “Lục địa đen” nơi có con sông Nile dài nhất thế giới chảy qua. Từ tình yêu và niềm tin mãnh liệt về dòng sông Nile, Hoa Níp tin rằng không có dòng sông Nile sẽ không có nền văn minh Ai Cập cổ đại và cả vùng sa mạc Sahara chỉ là hoang mạc không bóng người. Chính vì vậy mà đất nước Ai Cập có biệt danh “Món quà của sông Nile”. Cảm xúc về hoang mạc - sông Nile - Ai Cập đã mê hoặc Hoa Níp. Sông Nile giúp cho hoang mạc nở hoa. Sông Nile sản sinh ra nền văn minh Ai Cập. Sông Nile là con đường kết nối giữa thực tại với thế giới bên kia nơi có “Cánh đồng lau sậy” - thiên đường cho sự tái sinh. Trong cảm xúc mê hoặc đó, bút danh Hoa Níp đã ra đời. “Hoa” là ba chữ cái đầu của từ “hoang mạc” và cũng có nghĩa bóng là dòng sông nở hoa trên hoang mạc. “Ni” là hai chữ cái đầu của sông Nile, ghép với chữ  “p” cuối của Ai Cập thành ra chữ “HOA NIP”. Bút danh này lúc đầu chỉ là “Hoa Nip” nhưng về sau nhiều người tự thêm dấu sắc vào cho dễ đọc mới thành ra “Hoa Níp”.

 

Quan điểm văn chương của Hoa Níp

Có thể nói Hoa Níp chịu ảnh hưởng lớn nhất về quan điểm sáng tác và cách tân đổi mới văn chương cũng như nhân cách lối sống từ ba nhà thơ nhà văn nổi tiếng là Nguyễn Quang Thiều, Phan Hoàng và Trần Nhã Thuỵ.

Vào năm 2011 trước khi Hoa Níp đi dự Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII, tôi hỏi Hoa Níp:

- Con rất có năng khiếu cả thơ và văn xuôi. Vậy con muốn mình được gọi là nhà thơ hay nhà văn?

Con trai trả lời ngay:

- Nhà thơ bố ạ! Nhà thơ Hoa Níp!

- Vì sao?

- Vì nhiều thứ lắm bố ạ. Nói về nền tảng truyền thống thì từ thời vua Lê Thánh Tông đã có hội Tao Đàn rồi. Được trở thành nhà văn hay nhà thơ đều rất tuyệt vời, tuy nhiên con thích làm nhà thơ hơn là vì nhà thơ luôn được viết ra những cảm xúc, nỗi niềm của chính mình. Viết không có cảm xúc, không thật lòng thì không thành thơ được. Còn nhà văn thì thường tưởng tượng ra cảm xúc của nhân vật, của người khác để mà áp đặt. Người ta cho đó là quyền hư cấu. Con thấy bản chất của sáng tạo thơ và văn khác nhau nhiều lắm.

Khi đó tôi rất vui vì con trai đã có nhận thức rõ ràng để dấn thân vào thế giới thi ca. Và cũng từ hôm đó, tôi bắt đầu trân trọng gọi con trai của mình là “Nhà thơ Hoa Níp”!

 

Gia đình xoay chiều theo Hoa Níp

Bản thân tôi từ khi còn nhỏ cũng đã đam mê văn chương. Vợ chồng tôi lập thân bằng nghề dạy văn. Chúng tôi từng suy ngẫm về câu thơ xưa của thi sĩ Viên Mai: “Lập thân tối hạ thị văn chương” và cũng rất thấu hiểu câu thơ “Cơm áo không đùa với khách thơ” của Xuân Diệu. Đó là sự thật nghiệt ngã giữa việc dấn thân vào văn chương với nỗi lo sinh kế.

Vì vậy vợ chồng tôi chỉ muốn con trai của mình phải có một cái nghề kiếm sống, đủ sức làm trụ cột cho gia đình trước khi dấn thân vào văn chương. Có nền tảng kinh tế thì văn chương càng có điều kiện thăng hoa.

Tuy nhiên, sự đam mê văn chương như một thứ định mệnh mà Hoa Níp không thể cưỡng lại được.

Đến lúc biết chắc Hoa Níp sẽ không đi theo sắp đặt, vợ chồng tôi đành phải “xoay chiều” tạo điều kiện để Hoa Níp theo đuổi sự nghiệp văn chương. Khi mọi sự chuẩn bị cho một nền tảng giúp Hoa Níp được tự do sáng tạo đã sẵn sàng thì bất ngờ tai hoạ ập xuống, tất cả đều dở dang.

 

Thơ Hoa Níp - điềm báo định mệnh

Đối với nhà thơ Hoa Níp thì hiện tượng thơ vận vào người là rất rõ ràng. Khi đang học Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, Hoa Níp đã đoạt giải trong một cuộc thi với bài thơ “Một ngày bình yên”.

 

“Một ngày,

nhặt được nỗi buồn

người ta đánh rớt trên đường đông vui

 

một ngày,

nhặt được tiếng cười

trên môi lũ trẻ mồ côi đánh giày

 

một ngày,

vét được cơn say

từ trong đáy cốc loay hoay gạo tiền

 

một ngày,

nghe được bình yên

trong cơn hoảng loạn, cuồng điên, vội vàng

 

một ngày,

may vội khăn tang

đeo vào trí nhớ để nàng quên tôi…

 

một ngày kia, rất xa xôi”.

 

Vừa đọc bài thơ tôi đã rợn người rồi nói với Hoa Níp: “Thơ khá hay nhưng nên sửa lại mấy câu cuối. Đang bình yên sao lại nỡ “một ngày may vội khăn tang…”?

Hoa Níp cũng nhận ra cái sự bẻ quặt rợn người đó nhưng chẳng hiểu sao lại không sửa được. Thì ra đó chính là điềm báo trong thơ đã vận vào người.

Đến bài thơ “Bao giờ đến được cánh đồng”, Hoa Níp không có ý định đưa bài này vào tập thơ đầu tay. Và không ngờ đó lại là bài thơ dùng để khắc lên phần mộ của Hoa Níp:

“Đời còn lắm cuộc nhiễu nhương

đành thôi nép lại bên đường cho xong

bao giờ đến được cánh đồng

quay đầu nhìn lại bóng hồng phôi pha…”.

Mỗi lần nhìn ngôi mộ của Hoa Níp đã “nép lại bên đường” vợ chồng tôi càng thêm ngậm ngùi. Câu thơ như một lời tiên đoán, trăng trối và buông xuôi. Một sự buông xuôi bất đắc dĩ. Buông xuôi “cho xong”, buông xuôi để tự giải thoát chính mình. Biết bao lần ngồi bên mộ con, tôi đã thầm thì: “Con ơi! Cuộc đời chỉ đưa con đến với bố mẹ chừng đó năm tháng mà thôi. Bây giờ con hãy yên lòng đến với cánh đồng mơ ước của con, đến nơi không còn nhiễu nhương đau khổ. “Bóng hồng” đã “phôi pha” thật rồi con ạ. Sự phôi pha nào mà không đáng tiếc phải không con? Anh Thư, Phùng Vân đành phải lùi vào khoảng lặng của đời; các bạn gái thương mến khác cũng đã cất giấu hình bóng của con vào miền sâu lắng… Hãy yên lòng siêu thoát, con ơi”!

Với Hoa Níp thơ đã vận vào đời. Thơ ẩn chứa những điềm báo rùng mình nhưng không thể nào tránh được.

 

Luận giải về câu thơ độc lạ

Hoa Níp viết bài thơ “Đi cạn chân trời” đúng ngày sinh nhật 2/3/2011. Viết xong hai câu thơ cuối:

“dưới gầm trời có một điều thật nhất

người yêu người như sâu bọ yêu nhau”.

Hoa Níp liền chia sẻ với mẹ: “Chẳng hiểu lấy đâu ra cảm hứng để con viết được một câu thơ như thế”!

Sau khi Hoa Níp rời cõi tạm, không ít người hỏi tôi về ý nghĩa của câu thơ độc lạ này. Tôi hẹn khi nào Hoa Níp tròn 10 năm đi xa thì tôi sẽ viết lại nội dung mà Hoa Níp đã tự luận giải về câu thơ đó.

Theo Hoa Níp, “dưới gầm trời” là tất cả mọi thứ hỉ nộ ái ố. Với một góc nhìn triết lí nhân sinh, không bị pha tạp lãng mạn hoá. Hoa Níp đã lạnh lùng nói ra bản chất sâu xa trần trụi nhất của tình người: “người yêu người như sâu bọ yêu nhau”.

Câu thơ dùng hình ảnh so sánh rất độc lạ tạo nên luồng cảm xúc vừa bất ngờ trần trụi vừa lạnh lùng bạo liệt. Một câu thơ thật lạ lẫm của nhà thơ trẻ.

Tình yêu vốn dĩ là sự gắn kết đồng cảm giữa người với người. Phải chăng loài người đã ngộ nhận những “mặt nạ” phù phiếm đang trộn lẫn trong nhân tình thế thái?

 

Quang cảnh trong buổi lễ ra mắt sách tưởng nhớ nhà thơ Hoa Níp

 

Sâu bọ chỉ là loài côn trùng nhỏ bé, tận cùng của sự yếm thế thua thiệt. Vậy mà được dùng làm hình ảnh ẩn dụ để nói đến thứ đẹp nhất, thật nhất của con người. Sâu bọ không biết diễn, không lãng mạn nhân văn. Chúng yêu nhau trên nền tảng sinh tồn; yêu nhau không sắp đặt toan tính. Tình yêu của con người nếu lột bỏ hết những thứ “không thật” hoa mĩ thì tận cùng cũng chỉ còn lại sự cuốn hút của bản năng sinh tồn như sâu bọ mà thôi.

Có ai dám thừa nhận trong cái sự “người yêu người” vẫn bị thói sang hèn chi phối? Những gì là nguồn cội thì đều là cốt lõi vững bền. Tình yêu thương dù cao đẹp văn hoá đến đâu cũng vẫn mang bản năng tự nhiên của sinh vật. Thực ra tôn vinh tình yêu của con người là tôn vinh thứ tình yêu không toan tính; thứ tình yêu như hơi thở của lẽ tự nhiên; thứ tình yêu của mạch nguồn để mà sinh tồn mãi mãi.

Câu thơ của Hoa Níp như một biểu tượng đầy ám ảnh về tình yêu, tình người. Một biểu tượng vừa có chút phiêu diêu của cõi vô thường vừa định danh được sự chân thành đến tận cùng trong cõi nhân sinh.

Hoa Níp “Đi cạn chân trời” với khát vọng tìm ra sự thuần khiết “dưới gầm trời” nhân sinh. Khi nào tình yêu của con người thật nhất, sạch nhất thì đó mới là thứ tình yêu đẹp nhất.

 

Tấm lòng đến với tấm lòng

Sau tang lễ của Hoa Níp, gia đình tôi và cả nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - một bậc thầy văn chương và cũng như một người cha tinh thần của Hoa Níp, đều mong muốn in ấn hai tác phẩm thơ và truyện của Hoa Níp. Tuy nhiên, các nhà văn trẻ của Hội Nhà văn TPHCM - nơi Hoa Níp luôn gắn bó và có nhiều đóng góp trong gần 7 năm trước khi ra đi đã giành quyền xuất bản. Nhà văn Trần Nhã Thụy - người anh vô cùng thân thiết của Hoa Níp đã bỏ nhiều công sức nhất cho việc hoàn thiện bản thảo, thiết kế và in ấn.

Về kinh phí, tập truyện ngắn “Nàng là nước Mỹ” được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nơi nhà thơ Hoa Níp là hội viên, tài trợ một phần. Còn tập thơ “Bao giờ đến được cánh đồng” - tên sách đặt theo gợi ý của Phan Hoàng, thì do Quỹ Tình thơ cùng các bạn văn trẻ ở TPHCM chung tay tài trợ. NXB Hội Nhà văn cấp phép hoàn toàn miễn phí. Tập thơ này đã đoạt Tặng thưởng của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm 2016. Tôi nhắc lại việc xuất bản hai tập sách để một lần nữa thay lời tri ân đến bạn hữu văn chương của Hoa Níp - những người thật sự chí tình chí nghĩa.

Bên cạnh nỗi đau kinh hoàng điên dại khi Hoa Níp mất đi, gia đình tôi cũng vô cùng ngỡ ngàng và xúc động trước “làn sóng” tiếc thương của bạn hữu văn chương dành cho Hoa Níp. Hàng loạt bài thơ, bài báo, bài hát rất xúc động đã xuất hiện ngay trong và sau mấy ngày tang lễ. Đồng thời có vô số lời sẻ chia, an ủi động viên đã tràn ngập không gian mạng. Gia đình tôi mãi mãi ghi nhớ tình nghĩa của các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, nhà báo, hoạ sĩ, nhạc sĩ và bạn hữu gần xa:

Nguyễn Quang Thiều, Phan Hoàng, Trần Nhã Thuỵ, Trần Văn Tuấn, Phạm Sĩ Sáu, Trầm Hương, Lê Thị Kim, Thu Trân, Trịnh Bích Ngân, Lê Huy Mậu, Phạm Quốc Toàn, Trần Đức Tiến, Vũ Thanh Hoa, Quách Thị Ngọc Thiện, Phùng Hiệu, Trần Huy Minh Phương, Bùi Đế Yên, Hoàng Quý, Châu Hoài Thanh, Lương Xuân Khôi, Văn Công Hùng, Ngô Thảo, Nguyễn Vũ Tiềm, Hoàng Hường, Triệu Từ Truyền, Tô Hoàng, Nguyễn Minh Ngọc, Nguyễn Trí, Xuân Trường, Trương Tri, Phạm Trung Tín, Nguyễn Tiến Toàn, Miên Đức Thắng, Vũ Cẩm, Hữu Đố, Lâm Xuân Thi, Lương Minh Chung, Hoàng Vũ Thuật, Hoàng Thuỵ Anh, Phan Huyền Thư, Hoàng A Sáng, Nguyễn Một, Phạm Phương Lan, Minh Đan, Nguyễn Hoàng Hải, Bình Địa Mộc, Đoàn Đại Trí, Trung Dũng, Nguyễn Sơn, Trần Trung Lĩnh, Ngô Thuý Nga, Bùi Chí Vinh, Trần Hữu Dũng, Lê Minh Quốc, Ngô Đình Hải, Bùi Thanh Truyền, Trần Thanh Hà, Nguyễn Hữu Duyên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn, Trương Gia Hoà, Hồ Thị Ngọc Hoài, Phạm Phương Lan, Hoà Bình, Trần Hoàng Nhân, Minh Đan, Đoàn Phương Huyền, Ngô Thuý Nga, Phan Duy, Như Trân, Tiểu Vũ, Trần Võ Thành Văn, Chu Ngọc, Hồ Tịnh Văn, Trường Giang…

Đặc biệt còn có các toà soạn báo chí, nhóm Du ca Sài Gòn, nhóm Cà phê Nhà hát, hội Vespa cổ, thầy cô giáo và thân bằng quyến thuộc gần xa đã giúp đỡ động viên chia sẻ cùng gia đình.

Có những sự việc mà mỗi lần nhớ lại tôi vẫn rất xúc động. Đó là nhóm bạn văn chương Văn Công Hùng từ Tây Nguyên đến thắp hương đã ôm lấy mẹ Hoa Níp rồi thốt lên một câu chia sẻ khác lạ, nó như liều thuốc an thần để làm dịu nỗi đau mất con: “Chị là người mẹ thật hạnh phúc, đã sinh ra Hoa Níp”!

Mấy ngày sau, thơ Hoàng Vũ Thuật cùng con gái là nhà thơ Hoàng Thuỵ Anh lặn lội từ Quảng Bình vào Vũng Tàu để thắp hương cho Hoa Níp và động viên gia đình tôi. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật than thở tiếc nuối cho những tài thơ trẻ đoản mệnh như Hoa Níp, Lãng Thanh… rồi ông cảm thán: “Giá mà những người như tôi thay được lẽ sinh tử, thì tương lai của văn học nước nhà gặt hái được rất nhiều”!

 

“Hoa Níp vẫn sống bên cạnh chúng ta”

Khi Hoa Níp mất đi, gia đình tôi phải chịu nỗi đau buồn khủng khiếp. Có khi bỗng hoảng hốt giật mình đau đớn, có khi lại hụt hẫng chơi vơi như đang bị rơi tự do, mất phương hướng. Vợ chồng tôi lo sợ không đủ sức để sống qua kiếp nạn.

Rồi chúng tôi cũng phải bíu vào những lời an ủi mà sống. Và trong những ngày đã cạn nước mắt thì tôi nhận được lời khuyên chân thành từ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “Tôi chưa viết một bài thơ nào khóc ai. Nhưng tôi đã viết thơ khóc Hoa Níp và công khai cho mọi người biết những gì tôi nhìn thấy ở con người Hoa Níp.

Tôi xin anh và gia đình đừng quá đau buồn mãi. Hãy trò chuyện với em nó trong một tinh thần khác, chúng ta sẽ thấy Hoa Níp vẫn sống bên cạnh chúng ta. Đây không phải là một lời động viên. Đây là một sự thật”.

Thế là vợ chồng tôi cùng trò chuyện tâm sự với Hoa Níp “trong một tinh thần khác”. Và rồi chúng tôi cảm nhận được vẫn có Hoa Níp bên cạnh. Hoa Níp vẫn kết nối với bố mẹ, vẫn dẫn dắt che chở cho cả gia đình. Vợ chồng tôi đã được vực dậy để sống tiếp và sống thay cho Hoa Níp.

Đã 10 năm trời, dù nắng hay mưa vợ chồng tôi vẫn đều đặn viếng thăm mộ Hoa Níp. Những ngày cuối tuần, ngày Rằm, mồng Một, ngày lễ tết, sinh nhật hoặc bất cứ lúc nào có nhu cầu trò chuyện là vợ chồng tôi lại đến thăm viếng mộ Hoa Níp. Hình ảnh đôi vợ chồng già đội mưa đội nắng ròng rã trong 10 năm qua đã trở thành hình ảnh quen thuộc của nghĩa trang Long Hương.

Đã 10 năm trời, với hơn 500 lần đi thăm viếng mộ Hoa Níp, nếu tính ra quảng đường thì có lẽ đã dài hơn 10 lần chiều dài đất nước. Đó là chiều dài của tình thương con, mà tình thương con thì không bao giờ vơi cạn.

5/2026

Trần Vinh

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm