TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi

Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-05 10:55:24
mail facebook google pos stwis
160 lượt xem

NGÔ MINH OANH

Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận (Giải A giải thưởng Lưu Trọng Lư) có tiếng vang khi đã mô tả khá thành công sự khốc liệt và tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam Trung bộ thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đầu năm 2026, anh cho xuất bản Tập truyện ký Rừng Đói (NXB Hội Nhà văn, 2006) gồm 26 truyện ký về cuộc sống của người lính trong chiến tranh và khi trở về sau hòa bình.

Nếu như tập truyện ký Cha và con lính trận tập trung mô tả khá thành công sự khốc liệt của chiến trường và tinh thần chiến đấu, hy sinh anh dũng của quân và dân ta, thì tập truyện ký Rừng Đói ngoài việc tiếp tục khắc họa cuộc sống, chiến đấu ở chiến trường, tác phẩm còn có nhiều truyện ký khắc họa hình ảnh người lính trở về hậu hương sau chiến tranh. Rừng đói đã cung cấp một mảnh ghép khác về hình ảnh người lính sau chiến tranh để người đọc hình dung và thấu hiểu trọn vẹn hơn hình ảnh người lính dũng cảm hy sinh trong chiến đấu, lại rất tình cảm, giàu lòng trắc ẩn trong cuộc sống đời thường, yêu cái đẹp và khát khao đi tìm cái đẹp.         

Sự khốc liệt của chiến tranh, sự chịu đựng, hy sinh quả cảm của người lính được anh tiếp tục khắc họa trong những câu chuyện Cha con tôi trên Trường Sơn ngày ấy, Trận đại hồng thủy năm Thìn (1864) trên chiến trường Khu 5, Tổ Quân báo Trinh sát kỹ thuật Sư đoàn Sao Vàng, Rừng đói, Quy Nhơn dậy sóng, Phan Rang những ngày không quên… Trong truyện Rừng đói, tác giả trình bày cái khốc liệt của chiến tranh không chỉ là bom đạn, chết chóc mà còn là cái đói khủng khiếp, đe dọa đến sự sống còn của những người lính nói chung và những thương binh nói riêng. Tác giả trình bày bối cảnh thời gian năm 1969, sau Mậu Thân, địch nống ra đẩy quân ta vào rừng sâu, tăng cường kiềm tỏa những vùng giáp ranh đồng thời tăng cường đánh phá vào những vùng căn cứ của ta. Thiếu lương thực, thực phẩm và kết cục là đói, đói triền miên thành một nguy cơ cho bộ đội ở chiến trường. “Ngay cả tư lệnh sư đoàn Huỳnh Hữu Anh ngày chỉ có 2 bữa tuyền sắn. Anh em thương, bệnh binh ngày chỉ có bát cháo cầm hơi. Bộ đội ta hy sinh ngày một nhiều. Chết đói, chết đau, chết trên đường đi lấy gạo, chết vì bom đạn, bị lụt bão núi đồi đất đá vùi lấp, trôi sông, chết suối…”(trang 74). “Bữa ăn, cầm củ sắn trên tay rưng rưng nuốt nghẹn đắng”, “mắm vẫn rỉ ra mùi thơm phức. Thằng Bơn trong cơn mê man than lên: “Anh Khởi ơi, mắm thơm quá… cho em nếm tý ! Vừa nói hắn vừa bò ra sau thùng gỡ nút giẻ ra rồi đưa mồm vào hút ừng ực”; “hình như hắn uống mắm trộn với máu của nó đang chảy đầy mặt, đầy miệng.” (trang 78). Nói về cái đói, một mặt của sự khốc liệt chiến tranh thì không có câu từ, chi tiết nào có thể thể hiện hơn thế nữa.

Tuy nhiên, may mắn thay, tác giả không để chúng ta tiếp tục đắm chìm trong những ác liệt của bom đạn và cái đói trên chiến trường mà còn đề cập đến một chủ đề khác, sự trở về của người lính sau chiến tranh, một mảnh ghép khác về hình ảnh người lính. Tuy lấy tên là Rừng Đói nhưng trong đó ngoài những truyện viết về chiến tranh, chiếm hơn một nửa là những truyện nhà văn viết về hòa bình, tức là những câu chuyện sau chiến tranh khi người lính trở về. Người lính trong những năm tháng chiến tranh, “nếm mật nằm gai” ở chiến trường đã chịu đựng gian nan, đến tận cùng của sự khổ cực, thử thách trước cái sống, cái chết. Sự hy sinh chịu đựng của họ để làm nên chiến thắng của dân tộc. Trong niềm vui thống nhất, họ trở về, những chấn thương thời chiến chưa nguôi, người lính lại tiếp tục đối diện với những thử thách khác. Đó là sự hội nhập của họ với cuộc sống đời thường sau nhiều năm quen với cuộc sống chiến trường. Sự xa cách và thiếu thốn tình thân, tình yêu đôi lứa, sự trở về với những kỷ niệm thời tuổi trẻ, đắp bù sự chịu đựng, tổn thương  của người thân trong những năm tháng xa nhau… Đó là một cơn đói khác mà người lính đang đối diện và nhà văn Trần Khởi muốn dẫn dắt người đọc đi tiếp những ngày tháng trong hòa bình của những người lính.

Ám ảnh biết bao, hình ảnh người mẹ khi người lính trở về. Người mẹ mà nỗi thống khổ cũng là nỗi khổ của những người mẹ Việt Nam thời chiến. Đằng đẳng nuôi con, chờ chồng, chạy giặc mà vẫn một lòng chung thủy. Chiến tranh ác liệt, trên bom dưới đạn vẫn phải lo cái ăn, cái mặc cho bốn miệng con. Nào đã hết, người mẹ còn phải lo chịu đựng điều tiếng của những nghĩ suy một thơi ấu trĩ. Hình như người mẹ đó lo sợ nỗi cô đơn cho đến lúc “gần đất xa trời”: Bà “cứ dặn dò hết người này đến người kia: Mai mốt mự mất, o mất, bay nhớ lên với mự, với o…ở lại cho được mấy ngày nghe con! Gặp mấy người trong xóm: Cậu ơi bữa mô tui chết, cậu nhớ liệm cho tui nghe cậu! Dặn dò cả bọn tui (con): Mạ đã chuẩn bị đầy đủ cả rồi ! Khi mô mạ đi, các con làm cho chu tất, nhớ mời bà con, chòm xóm cho đông đủ, dừng để sót một ai.” (trang 230). Không thấu cảm với người mẹ, người lính khó nhận ra những suy nghĩ chông chênh của mẹ mình như vậy.

Hết sà vào lòng mẹ, những kỷ niệm tuổi thơ lại ùa về, những mảng ký ức người lính được thể hiện đậm đặc trong những truyện Bến quê, Lưu dấu mái trường yêu, Biển Nhân Trạch ngày ấy… Những kỷ niệm ngày xưa lại ùa về ờ mái trường cấp 2, cấp 3 thân yêu ấy. Những gương mặt thầy cô, gương mặt bạn bè mà cậu học trò nhỏ thời ấy đã nhận ra những “người đẹp”, mà có người sau này trở thành nhà thơ nỗi tiếng Lâm Thị Mỹ Dạ. Những buổi tập văn nghệ với những vở diễn để đời như Gấu dữ và Nùng Phai, Ruồi và Kiến, Trắng và Đen… mà chính tác giả và những người bạn là những diễn viên. Cả những kỷ niệm bị thầy giáo chủ nhiệm hiểu nhầm để có bạn phải nghỉ học, rồi phải thanh minh mãi thầy mới hiểu. Mừng biết bao, trải qua những năm tháng dày dạn ở chiến trường khốc liệt mà những kỷ niệm, cảm xúc của người lính không bị chai lỳ và xơ cứng. Chính sự trỗi dậy những kỷ niệm ngày thơ ấu từ một mái trường yêu dấu ấy, mà tình cảm người lính gắn bó hơn với quê hương: “Lúc này cơn lũ đang hoành hành tàn phá quê hương, hàng trăm héc ta hoa màu và ruộng lúa đang thì ngậm hột bị mất trắng. Người dân quằn quại xót xa nhưng cố gồng mình đứng dậy làm lại mùa màng, làm nên cuộc sống. Chính hiện thực quê hương đó đã tạo ra cảm hứng cho chính tác giả - người lính tìm ra tứ để sáng tác  ra điệu vũ Cây lúa Lệ Ninh được dàn dựng công phu và đạt giải cao trong hội diễn nghệ thuật.(trang 242). Người lính sau chiến tranh đã thực sự hội nhập với cuộc sống ở quê hương.

Còn khi trở lại biển Nhân Trạch, nơi tác giả đã chứng kiến những chiến công của quân và dân ở đây thời chiến tranh, bắn rơi máy bay và tên trung úy phi công Mỹ Dickson bị chết chìm. Nhưng vùng biển Nhân Trạch cũng như nhiều vùng quê khác ở miền Bắc bị bom, pháo Mỹ tàn phá nặng nề. Người lính – tác giả sau những năm tháng chiến đấu ở chiến trường, chúng kiến sự mất mát hy sinh của đồng đội, đồng bào, tác giả như được bù đắp lại, ấm lòng lại: “Hơn nửa thế kỷ tôi mới có dịp trở lại Nhân Trạch. Nhân Trạch nay đã khác xưa. Cuộc sống nơi đây đổi thay nhiều. Cái vùng biển nghèo nàn ngày xưa giờ đã mọc lên những dãy nhà cao tầng. Trụ sở ủy ban Nhân dân xã khang trang, những công trình công cộng, phúc lợi thật tuyệt vời.” Tác giả đã bùi ngùi, xúc động kể lại những kỷ niệm xưa. “Tôi nghe như cát dưới chân mình nóng bỏng, nghe biển khơi gầm gào dữ dội. Và như còn nghe thấy cả tiếng bom đạn ngày ấy vọng về. Ai cũng đều cảm thấy tự hào, xúc động như đang sống lại những ngày tháng lịch sử hào hùng sôi động của dân tộc, của đất lửa Quảng Bình.”(trang 210).

Hành trình người lính trở về sau chiến tranh trong Rừng Đói của nhà văn Trần Khởi không thể không nhắc tới hành trình đi tìm cái đẹp được tác giả trình bày trong các truyện Nắng Nha Trang, Hơn hai mươi năm tình cờ gặp lại, Mùa Xuân đi tìm cái đẹp…    

Người lính Trần Khởi trở về sau chiến tranh và trở thành một thầy giáo dạy văn ở trường phổ thông. Ông không chỉ yêu say đắm văn học mà còn say sưa truyền dạy những cái hay, cái đẹp của văn chương cho học trò, nhất là những tác phẩm văn học thời chống Mỹ. Ông yêu bài thơ Quê hương và ngưỡng mộ nhà thơ Giang Nam, tác giả của bài thơ. Chính vẻ đẹp của tác phẩm văn học này mà ông đã khoác ba lô lặn lội vào Nha Trang để gặp tác giả bài thơ, để tìm hiểu thêm vẻ đẹp của bài thơ từ chính tác giả và nhân vật trong bài thơ này. Tác giả bài thơ, nhà thơ Giang Nam lúc này đã 92 tuổi. Người lính, nhà văn đã bộc bệch cùng nhà thơ Giang Nam: “Chính bài thơ Quê Hương của anh đã làm cho em say và thăng hoa trong quá trình dạy học. Học sinh ngưỡng mộ anh và yêu quý em. Bài thơ của anh, tên tuổi của anh đã theo em, theo thế hệ học trò, đi suốt cuộc đời, sống mãi với non sông đất nước. Họ tìm thấy nét đẹp của người lính cụ Hồ trong thi phẩm này.”(trang 182, 187). Mặc dù “cô bé nhà bên” đã bỏ nhà thơ Giang Nam đi rồi, nhưng tác giả “chia tay ông lòng bồi hồi xúc động, cám ơn nhà thơ Giang Nam với thi phẩm làm rung động trái tim tôi một thời trai trẻ. Bước chân ra về vẫn vẳng lại những câu thơ tình thế kỷ.”(trang 189).

Đi tìm cái đẹp và hòa mình trong cái đẹp khi trở về trở thành một nét đẹp của người lính sau chiến tranh. Truyện Nhớ mãi câu hò, người lính trong tâm trạng “Mười năm xa miền Bắc thân yêu, xa quê hương, gia đình, lũ chúng tôi trông mong đến cháy ruột, cháy gan. Ấy vậy mà khi đất nước thống nhất, gian sơn thu về một mối, lại phải im ỉm, nằm rúm ró một chổ ở đây thật buồn.” (trang 168). Tuy nhiên những người lính không chịu ngồi yên, khi có cơ hội cùng trao duyên bằng những câu hò. Những người lính thương binh mình còn đầy thương tật, đã không bỏ lỡ cơ hội một đêm hè trên bờ đê sông Đuống. Đêm thanh, gió mát, đối tác là những cô nàng áo trắng, trẻ trung, dễ thương ở trạm quân y mà mình đang điều trị, giao duyên bằng những câu hò thì không gì đẹp và đáng nhớ hơn thế. Đêm hò giao duyên đã kết tình thân giữa những người lính thương binh với các cô gái trẻ. “Đó là hạnh phúc bình dị mà thiêng liêng nhất của người lính sau bao năm chiến đấu trở về được sống giữa vòng tay ấm áp của hậu phương, giữa tình thương của nhân dân, của đất nước.”(trang 178).

Hình trình trở về của người lính trong Rừng Đói của Trần Khởi, có thể nói là một hành trình đi tìm cái đẹp, đi tìm người đẹp. Sự chia xẻ của người lính với những áng văn hay của bạn thơ cùng những éo le mà bạn gặp phải (Định mệnh trong thơ của Lê Đình Ty), tìm về những kỷ niệm và đi tìm người đẹp ở trong các truyện Bến quê, Hơn hai mươi năm tình cờ gặp lại, Mùa Xuân đi tìm cái đẹp… Truyện Mùa Xuân đi tìm cái đẹp, tác giả vui kể lại cuộc gặp gỡ giữa tác giả với Nhà thơ Nguyễn Trong Tạo, nhà thơ Ngô Minh cùng nhắc nhở về một người đẹp phương Nam, cô giáo, nhà thơ, diễn viên, rồi vui vẽ ôn lại bao kỹ niệm giữa thời bình. Những tình tiết trong những truyện ký này thật đời thường, đọc lên cứ cười phơ phớ mà  cảm nhận được sự sâu xa, thâm trầm của người viết khi nói về hình ảnh người lính sau chiến tranh: Đẹp, rất đời thường mà khát sống xiết bao !

Tập truyện ký Rừng Đói của Nhà văn Trần Khởi dày dặn 305 trang với 26 truyện, đã cho người đọc trải hết các cung bậc: cảm phục, thương yêu, lạc quan và hy vọng. Khi viết về chiến tranh và đề tài người lính, tác giả đã lựa chọn thể loại tác phẩm phù hợp là truyện ký. Thể loại này đã cho phép tác giả thể hiện được sự chân thật của sự kiện lịch sử, những con người, sự việc cụ thể kết hợp với liên tưởng, hư cấu, sắp xếp, xây dựng cốt truyện, nhân vật. Tập truyện ký vừa được kết cấu theo mạch thời gian kết hợp với mạch ký ức, liên tưởng phong phú. Với giọng văn giản dị, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc chìm vào không gian và thời gian mà nhà văn thể hiện. Nổi bật của tập truyện ký là tính chân thực của nó, những tình tiết, sự kiện, con người gần như phi hư cấu, là những trải nghiệm của chính cuộc đời người viết. Có một cô giáo dạy Văn ở trường phổ thông, sau khi đọc Rừng Đói của Trần Khởi đã viết: “Đã đến lúc những trái tim tìm về chân thật, những nhà văn, sống thật, viết thật như từng hơi thở, như từng bữa ăn thưởng thức hương vị cay, chát, mặn nồng. Mọi sự giả dối dù tinh vi đến đâu cũng đều lộ diện trước cái nhìn thấu thị của thời gian".

Đúng vậy, Rừng Đói của nhà văn Trần Khởi không chỉ khắc họa những hình ảnh sống động chân thực về chiến tranh trên chiến trường chống Mỹ mà còn cung cấp một mảnh ghép khác về hình ảnh, đời sống người lính trở về sau chiến tranh, họ đang đói cái đẹp và đang hành trình đi tìm cái đẹp. Rừng Đói nhắc nhở chúng ta không được phép lãng quá khứ mà ở đó sự hy sinh và cống hiến của những người lính đã làm nên cuộc sống hòa bình ngày hôm nay.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 4 năm 2026. 
 N.M.O  

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm