Hành trình thơ của Nguyễn Thị Thúy Hạnh trước hết khẳng định một tinh thần hiện sinh rõ nét. Ở đó, con người – đặc biệt là người nữ – luôn hiện diện trong trạng thái bất an, tổn thương, đồng thời mang khát vọng vượt thoát và kiếm tìm hạnh phúc. Chữ trở thành nơi lưu trú của nỗi cô đơn, đồng thời là phương tiện giúp nhân vật trữ tình phục sinh và tiếp tục hiện hữu trong một thế giới nhiều biến động, đổ vỡ.
Mùa mưa ở vùng biên như một lời thách thức của thiên nhiên. Những con đường mòn dẫn vào bản bỗng hóa thành dải bùn đặc quánh, trơn như mỡ. Mây sà xuống tận mặt người, núi rừng hùng vĩ, hoang dại, đẹp đến nghẹt thở nhưng cũng dữ dằn không kém. Con đường này Khương đã thuộc đến từng khúc cua, từng con dốc và anh biết chỉ cần lỡ tay là sẽ lao xuống vực sâu hun hút. Vượt qua những khó khăn ấy, bản Khe Nặm hiện ra như nốt nhạc bình yên giữa bản giao hưởng dữ dội của núi rừng.
Văn chương TPHCM trân trọng mời quý vị và các bạn cùng xem một trích đoạn và suy ngẫm cùng Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM bên kia ranh giới chữ nghĩa – về nơi từ tiếng nói cá nhân có thể kết nối với mạch nguồn văn hóa chung.
Bằng trái tim giàu cảm thông, nhà thơ Phan Thanh Tâm – tác giả của 7 tập truyện ngắn và thơ thiếu nhi – đã tìm thấy ở "Chữ gọi mùa trăng" hình tượng người Mẹ vừa đời thường, vừa thiêng liêng. Qua góc nhìn ấy, thơ của Triệu Kim Loan trở thành mạch nguồn yêu thương, nơi con người tìm lại niềm tin và chỗ dựa để vượt qua bão giông.
Tập thơ "Lời ru bão giông" của Trần Hóa mở ra 59 câu chuyện đời đầy mất mát nhưng vẫn chan chứa ánh sáng nhân văn, niềm tin và tình yêu thương. Bằng cảm nhận tinh tế, nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long đã chỉ ra những vần thơ biết nâng con người vượt lên giông bão để sống tử tế hơn. Và trong mạch đồng vọng ấy, chị viết bài thơ "Lời ru giông bão hóa vầng trăng say" như một khúc tri âm, tặng riêng cho tác giả.
Anh vẫn như nghe trong đá núi
Âm vang rầm rập bước quân hành
Anh vẫn như nhận ra nụ cười em
Trong sắc hoa đào xứ sở…