TIN TỨC

Đến với bài thơ hay: “Chiều Ải Bắc tìm em”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-25 14:55:07
mail facebook google pos stwis
1352 lượt xem

CHIỀU ẢI BẮC TÌM EM 

 

Tiếng súng đã chìm vào quá khứ

Anh trở lại tìm trong sương khói Pha Long

Anh đi tìm em

Chỉ có tiếng chim buồn kêu trong rừng lá

Biên ải chiều hun hút gió…

 

Em đã ngã xuống lòng đất mẹ

Ngay trong trận đánh đầu tiên

Khi trên đầu tóc vẫn còn xanh

Lá thư cho người yêu chưa kịp gửi.

 

Tháng hai đường biên nhuộm máu

Ngực em làm khiên che đỡ đất mẹ hiền

Cho rừng cho núi bình yên

Và lời ru ngọt ngào hương bên nôi con trẻ

 

Bây giờ em hóa thân trong chập chùng đỉnh đá

Hay em kia vầng may trắng Mường Khương

Linh hồn đan lũy thép trường thành

Chở che cả một vùng biên ải

 

Anh vẫn như nghe trong đá núi

Âm vang rầm rập bước quân hành

Anh vẫn như nhận ra nụ cười em

Trong sắc hoa đào xứ sở…
 

(Thơ Nguyễn Văn Mạnh)
 


 

Lời bình của Nguyễn Văn Hòa

Chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979, là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Trung Quốc và Việt Nam, diễn ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước. Cuộc chiến diễn ra trong thời gian ngắn nhưng để lại những tổn thất nặng nề. Để bảo vệ biên giới - lãnh thổ của Tổ quốc, quân và dân ta đã đồng lòng lên đường chiến đấu. Dù hiểm nguy, ác liệt nhưng với truyền thống yêu nước quân và dân ta đã chiến đấu hết mình để đem lại sự bình yên cho dân tộc.

Trong ngày đầu tiên cùng đông đội chống quân Trung Quốc Quốc xâm lược ở chốt Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai thì em trai của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh đã hy sinh. Sự hy sinh của đứa em - người thân yêu ruột thịt càng làm cho anh tiếc thương và day dứt khôn nguôi. Thời gian sau đó, khi tiếng súng đã chìm vào quá khứ, Nguyễn Văn Mạnh có dịp trở lại nơi này, không kìm nổi xúc động anh đã viết ngay bài thơ Chiều ải Bắc tìm em.

Chiều ải Bắc tìm em là một trong số những bài thơ hay của Nguyễn Văn Mạnh viết về đề tài người lính, về đồng đội, về chiến tranh. “Em” - một chiến sĩ đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.  Nguyễn Văn Mạnh không giấu được nỗi thương nhớ về “em”, anh tìm “em” trong sương khói Pha Long. Trong chiến tranh, sự sống và cái chết vô cùng mong manh. Mới gặp nhau đấy nhưng có thể trong phút chốc sẽ mãi mãi vĩnh viễn rời xa. Và “em” đã là người có số phận không may như thế. Em đã hy sinh trong trận đánh đầu tiên. Sự hy sinh của em là mất mát lớn lao với gia đình, đồng đội, bạn bè và cả những người thân yêu. Đáng chú ý và cũng tạo nên niềm tiếc thương, trân trọng em hơn bởi em hy sinh khi tuổi đời còn quá trẻ, tóc trên đầu vẫn còn xanh và lá thư cho người yêu chưa kịp gửi...

Chiều ải Bắc tìm em bài thơ xúc động, gợi lên bao nỗi niềm khó tả, sự mất mát và cả những day dứt về sự hy sinh của đồng chí, đồng đội và sự hy sinh của em. Lời thơ như xoáy vào tâm can những người còn sống nỗi đau khôn cùng về sự thiệt thòi của người đã xuống trong sự tàn khốc của khói lửa chiến tranh.

Mở đầu bài thơ, chủ thể trữ tình anh trở lại ải Bắc tìm em khi tiếng súng đã chìm vào quá khứ. Anh trở lại tìm em trong sương khói Pha Long. Anh tìm em nhưng chỉ có chim buồn kêu trong rừng lá, nơi biên ải chiều hun hút gió…  Hình ảnh thiên nhiên gợi buồn, cô đơn, hoang vắng và đó cũng chính là tâm trạng của người trở lại chiến trường xưa. Như thước phim quay chậm, ngược về quá khứ, anh nhớ rõ mồn một về những gì đã xảy ra, trong đó em là người mà anh nhớ rõ nhất, em là người để lại ấn tượng sâu đậm nhất đối với anh…

Mặc cho sự tàn khốc của chiến tranh nhưng đồng đội của em và em đều vẫn luôn sống và chiến đấu với tinh thần quả cảm, bất diệt để bảo vệ sự bình yên của quê hương, núi rừng và đất mẹ.

Tháng hai đường biên nhuộm máu

Ngực em làm khiên che đỡ đất mẹ hiền

Cho rừng cho núi bình yên

Và lời ru ngọt ngào hương bên nôi con trẻ

Cảm thức về cái biến động, sự bất ổn, phi lý đã được nhà thơ đưa vào trong thơ bằng những ngôn từ mang tính ẩn dụ, nhân hóa, liên tưởng đa chiều... Vì thế, mỗi sự việc, hình ảnh, con người, thế giới tự nhiên... đều mang dáng vóc và tâm trạng, thấm đẫm cảm xúc. Những hình ảnh giàu sức gợi, tạo nên những dư ba: “đường biên nhuộm máu”, “ngực em làm khiên che đỡ đất mẹ hiền”, “cho núi rừng bình yên”, “lời ru ngọt ngào hương bên nôi con trẻ”. Hình tượng em hiện lên trong bài thơ đẹp đến lạ kỳ. Ở đó là nghị lực phi thường, lòng dũng cảm, đức hy sinh vì sự nghiệp chung. Sự hy sinh của em đã tạo động lực, tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội em chiến đấu và giành chiến thắng.

Cái hay của Nguyễn Văn Mạnh là dù anh không trực diện phản ánh chi tiết sự tàn khốc, dữ dội của cuộc chiến; anh lại càng không trực tiếp ngợi ca em qua những lời thơ bay bổng nhưng người đọc vẫn nhận ra cuộc chiến khủng khiếp, ác liệt, tàn bạo thế nào và cả sự quả cảm của em. Đất nước này, dân tộc này đã sản sinh ra những người con vĩ đại, họ sẵn sàng xả thân khi Tổ quốc lâm nguy mà không một chút đắn đo, toan tính. Và em cũng là một người đáng trân trọng như thế!

 Nhà thơ đã thay lời đồng đội, thay lời nhân dân nói lời tri ân sâu sắc đến em. Nén nhang lòng để cảm tạ, biết ơn em, tiếc thương em khi em hy sinh ở tuổi đời còn quá trẻ. Câu thơ “Và lời ru ngọt ngào hương bên nôi con trẻ” càng làm cho người đọc rưng rưng, nấc nghẹn. Em đã vĩnh viễn nằm lại ở đất này. Em đã ngã xuống vì độc lập tự do, để bảo vệ bờ cõi, biên cương của Tổ quốc nên chưa được hưởng những ngày hạnh phúc của tình yêu đôi lứa, chưa thực hiện được thiên chức thiêng liêng là làm chồng, làm cha của người đàn ông.

Nguyễn Văn Mạnh đi qua những năm tháng chiến tranh và những khúc xạ từ cuộc sống luôn làm cho anh suy ngẫm nhiều về giá trị của sự sống, cái chết; của niềm tin và sự thật phũ phàng, tàn khốc của chiến tranh.

Bây giờ em hóa thân trong chập chùng đỉnh đá

Hay em kia vầng mây trắng Mường Khương

Linh hồn đan lũy thép trường thành

Chở che cả một vùng biên ải

Sự hy sinh của em cho sự bình yên của đất mẹ, cho quê hương, cho núi rừng biên giới đã bất tử hóa. Linh hồn em, máu xương em, xác thịt em đã hòa vào hồn thiêng sông núi. Em vẫn sống mãi trong lòng dân tộc. Sự hóa thân và quẩn quanh trong chập chùng đỉnh đá, trong mây trắng Mường Khương, hay lũy thép trường thành như sự nhắc nhớ, lòng thành kính biết ơn vô hạn đến em. Sự hy sinh của em, của đồng đội em đã đem lại sự bình yên và hạnh phúc đến với muôn nhà.

Nỗi đau đến từ mỗi nhà, mỗi người trong trận tồn vong giữa mưa bom bão đạn. Những ông bố, bà mẹ, những người vợ, người chồng... có người thân tham gia chiến trận đều có nỗi đau, nỗi giằng xé riêng. Nỗi đau ấy sẽ đeo đuổi dai dẳng suốt cuộc đời của những người còn đang sống hôm nay. Sự hy sinh cao cả ấy của lớp lớp bao thế hệ sẽ luôn bất tử trong lòng dân. Đặc biệt, trong lòng nhân vật trữ tình anh thì em vẫn còn đang hiện hữu, anh vẫn nghe/ thấy em và những đồng chí đồng đội đang rầm rập bước quân hành. Ấn tượng nhất, đáng nhớ nhất là anh như nhận ra nụ cười của em trong sắc hoa đào xứ sở của mùa xuân năm nào…

Anh vẫn như nghe trong đá núi

Âm vang rầm rập bước quân hành

Anh vẫn như nhận ra nụ cười em

Trong sắc hoa đào xứ sở…

Hình ảnh của em trở thành một biểu trưng sáng nhất, đẹp nhất mang đầy đủ những phẩm chất của người Việt Nam: bình dị mà anh dũng - sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn mà không tiếc bất cứ điều chi.

Thế mạnh của thơ Nguyễn Văn Mạnh là được tạo dựng theo cấu trúc hồi ức. Miền ký ức đã qua lần lượt được gợi lên/ sống dậy qua tâm hồn đa cảm, sự đa mang, tinh tế của anh. Đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc nhà thơ có những suy nghĩ và nhìn nhận thấu đáo về những được - mất, tổn thương của một thời đã qua. Nhìn về quá vãng, kiếm tìm những cái đã qua cũng là cách nhân vật trữ tình anh gợi nhớ, tri ân đến với em trong niềm rưng rưng, nuối tiếc... em đã bất tử trong lòng những người đồng đội, bất tử với anh và bất tử trong lòng dân tộc... Sự tàn khốc của chiến tranh là một điều không ai chối cãi, sự thật ấy luôn là niềm đau dai dẳng, bất tận cho những người còn sống hôm nay, bởi chiến tranh không phải trò đùa! 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm