TIN TỨC

“Lời ru bão giông” – Từ cảm nhận đến vần thơ tri âm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-25 15:36:48
mail facebook google pos stwis
1262 lượt xem

Tập thơ "Lời ru bão giông" của Trần Hóa mở ra 59 câu chuyện đời đầy mất mát nhưng vẫn chan chứa ánh sáng nhân văn, niềm tin và tình yêu thương. Bằng cảm nhận tinh tế, nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long đã chỉ ra những vần thơ biết nâng con người vượt lên giông bão để sống tử tế hơn. Và trong mạch đồng vọng ấy, chị viết bài thơ "Lời ru giông bão hóa vầng trăng say" như một khúc tri âm, tặng riêng cho tác giả.

Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

NGUYỄN THỊ THANH LONG

“Lời ru bão giông” gồm 59 bài thơ, 59 câu chuyện về những thân phận, những mảnh đời thiếu may mắn, những phụ nữ chân yếu tay mềm, những mẹ già, những em nhỏ, những cuộc kiếm tìm đồng đội, thậm chí có khi tác giả thương cảm trò chuyện cùng cả những vật tưởng vô tri vô giác (nhành bưởi trắng, hay cây cột điện đứng giữa đường…). Trái tim đa cảm chứa nhiều nỗi đau, rồi những câu thơ tuôn chảy, chắt lọc từ những mất mát, thương yêu, thăng trầm số phận, nhưng vẫn ngân lên âm điệu dịu lành, ấm áp tình người. Đó cũng chính là thái độ sống của người cầm bút.

Bài “Lời ru bão giông” được tác giả lấy tên cho cả tập thơ, ta bắt gặp những câu thơ:

“À ơi tiếng mẹ ru con

 Chưa thành câu giọng vẫn còn trẻ thơ”

Một bé gái vị thành niêm phải làm mẹ, là nỗi thương thắt ruột cho phận đơn côi, chịu lời đàm tiếu. Bão giông ập đến cuộc đời em ư? Bà ôm con cháu vào lòng và cất lời ru “thấm ân tình” , “ Ngã rồi cây lại đâm cành nở hoa” không chỉ để an ủi, mà còn để nâng dậy vượt qua nghịch cảnh trái ngang. …Lời ru thấu đất trời, bão giông sẽ tan:

“Con ơi thôi hãy yên lòng

Vững vàng đi giữa long đong mà thành”.

Ở đây, tính nhân văn không dừng ở cảm thương, mà là niềm tin vào sức mạnh nội tâm của con người.

Tác giả Trần Hóa đau nỗi đau của những người dân bị bão lũ, đó là sự chia sẻ, tình yêu thương cộng đồng. Hình ảnh “Trang sách giáo khoa nhòe vào số phận” hay “Tiếng trẻ ê a đã lạc vào giông bão” trong bài “Bão dữ số 3 và quê Mẹ”, là tiếng nói xót xa cho tương lai trẻ thơ, cho giấc mơ học hành bị cuốn phăng trong một đêm bão dữ.

Qua từng bước chân người mẹ già tìm con nơi hàng mộ vô danh. Cái run rẩy của câu “Hàng mộ vô danh lặng lẽ đến rùng mình” câu thơ đã chạm đến trái tim của mỗi chúng ta, chúng ta cũng lặng đi và không thể cầm lòng. Trần Hóa đã biến nỗi đau riêng của một người mẹ thành nén tâm hương cho tất cả những anh hùng liệt sĩ để “sang năm Mẹ lại đến tìm”, như một lời thề khắc ghi.

Ngay cả khi viết về tình yêu tan vỡ trong “Chỉ cần em hạnh phúc”, một sự bao dung, không trách móc, không níu kéo, nhân vật trữ tình chấp nhận hi sinh: “Anh chấp nhận dẫu tim mình đau thắt”, miễn sao người mình yêu được hạnh phúc và trọn hiếu với mẹ cha.

Nỗi nhớ thương đồng đội đã hóa thành lời nhắn gửi nhân hậu: “Xin những con thuyền qua đó nhẹ tay bơi”. Trong bài “Chỗ bạn tôi nằm”, chỉ một câu thôi, đủ thấy tấm lòng nâng niu ký ức, trân trọng xương máu của những người đã ngã xuống cho hòa bình hôm nay.

Điều nổi bật trong thơ Trần Hoá là chất liệu nguyên sơ qua cuộc giông bão đời mình, được cất giữ dưới hình thức nghệ thuật chắt lọc. Những cơn “bão giông” ở đây không chỉ là bão giông của thiên nhiên, mà còn là bão giông của phận người: những bất trắc, mất mát, day dứt và cả niềm tin được tôi luyện trong thử thách. Tác giả không tô đậm bi kịch, cũng không sa vào than thở, anh chọn cách để chữ nghĩa chạm khẽ, nhưng đủ để người đọc nghe tiếng quẫy đạp của những tâm hồn muốn vươn về phía trước tốt đẹp hơn.

Điều đáng quý nhất là trong từng bài, từng câu, anh vẫn giữ được ánh sáng nhân văn. Anh tin vào sự hồi sinh sau đổ nát, tin vào sức mạnh của yêu thương như một điểm tựa vượt qua giông bão.

“Lời ru bão giông” vì thế không chỉ là một tập thơ để đọc, mà còn là một tấm gương soi, giúp người đọc nhận ra chính mình, những mất mát từng trải, khát vọng được sống tử tế hơn, ấm áp hơn.



Nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long

 

LỜI RU GIÔNG BÃO HÓA VẦNG TRĂNG SAY

                    Tặng tác giả Trần Hóa
 

Thương em - Một mảnh trăng gầy

Một nhành bưởi trắng đơm đầy nỗi đau

Ước gì anh có phép màu

Dáng Xuân trở lại - Trầu cau hẹn thề

Chân tình - Anh vạt nắng quê

Xót xa - Buông bỏ - Đường về Lệ hoa

Lâu đài bằng cát nhạt nhòa

Cần em hạnh phúc - em là mùa Xuân

Duyên tiền định, chớ phân vân

Thương lòng đã chữa mấy lần Trăng say

Về với anh, có những ngày

Giã từ - Bão dữ đắng cay qua rồi

Tháng Ba - Hạt nắng thềm rơi

Dẫn con về phía mặt trời - Mẹ ru

Tổ quốc tôi sạch bóng thù

Chiều nghĩa trang Mẹ - Mùa Thu thuở nào

Cánh cò thân mẹ chênh chao

Bạn tôi nằm đó, tạc vào núi sông

Tìm bạn, Tìm bạn dốc lòng

Lời ru giông bão hóa vầng Trăng say
 

10/8/2025 Nguyễn Thị Thanh Long

Chữ in đậm là tên các bài thơ trong tập thơ Lời ru bão giông của tác giả Trần Hóa.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm