TIN TỨC

Lòng Mẹ - Mạch nguồn của “Chữ gọi mùa trăng”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-25 17:06:46
mail facebook google pos stwis
1635 lượt xem

Bằng trái tim giàu cảm thông, nhà thơ Phan Thanh Tâm – tác giả của 7 tập truyện ngắn và thơ thiếu nhi – đã tìm thấy ở "Chữ gọi mùa trăng" hình tượng người Mẹ vừa đời thường, vừa thiêng liêng. Qua góc nhìn ấy, thơ của Triệu Kim Loan trở thành mạch nguồn yêu thương, nơi con người tìm lại niềm tin và chỗ dựa để vượt qua bão giông.

PHAN THANH TÂM

Tập thơ "Chữ gọi mùa trăng" của nhà thơ - nhà giáo Triệu Kim Loan là một thế giới nghệ thuật đa sắc, nơi có tình yêu và khát vọng, có nỗi đau thân phận mang tên “Đàn bà”, có quê hương - đất nước, và cả những ký ức tự hào, đau xót về những người đã ngã xuống cho màu xanh đất Việt hôm nay.

Nhà thơ Phan Thanh Tâm phát biểu tại buổi ra mắt sách, ngày 23/9/2025
 

Nhan đề tập thơ mở ra nhiều trường liên tưởng.

“Chữ” ở đây không chỉ là một signal, và “trăng” không chỉ là trăng mỗi lần tròn, khuyết mà trở thành biểu tượng cho khát vọng về cái đẹp, cái thiện và hạnh phúc viên mãn trong cuộc sống đời thường. Chữ nghĩa tự có bản thể, trong trẻo, ướp đầy hương sắc của niềm tin, niềm đam mê được dệt bằng cảm xúc nội tâm tinh tế.

Vượt lên trên tất cả, có một mạch cảm hứng cứ chảy âm thầm mà mãnh liệt xuyên suốt tập thơ. Đó là tình Mẹ. Không phải ngẫu nhiên tôi chọn và chia sẻ về đề tài này. Bởi trong từng mầm xanh, trong từng phận đời, trong từng nỗi nhớ hay tiếng gọi khắc khoải, tôi đều thấy thấp thoáng bóng dáng của Mẹ - người đàn bà đa đoan, kham nhẫn và giàu đức hi sinh thầm lặng.

Là một người Mẹ từng trải qua những đêm mất ngủ khi con đau ốm, từng thắt ruột khi chứng kiến đời va đập vào phận người, phận mình, tôi cảm thấy đồng cảm sâu sắc với nhà thơ Triệu Kim Loan và rung động trước cách chị tạc nên hình tượng người Mẹ.

Trong một trang viết, Mẹ hiện ra, đẹp một cách siêu thực:

Anh về gõ phím đợi trăng

Đêm hiền như mẹ ru Hằng nga non (Phút Rằm)

Bên cạnh những huyền diệu ấy, Mẹ trong thơ chị cũng hiện lên rất thật, rất đời. Nhà thơ không thần thánh hóa, cũng không gói gọn Mẹ trong khuôn mẫu đạo đức. Chị viết về những khoảnh khắc trần trụi nhất, khiến trái tim người đọc không thể dửng dưng.

Trong bài “Nghẹn ngào đêm”, hình ảnh:

“Thều thào mẹ lết gọi con”

như một vết dao cứa vào lòng. Chỉ một câu thơ thôi mà gợi ra cả một cảnh đau xót sau thiên tai, kiệt cùng nỗi đau, tận cùng tình thương và sự kiệt sức, vừa bi thương, vừa thiêng liêng.

Trong “Mắt bão”, chị khắc họa Mẹ giữa giông tố:

Dốc đời oằn một chơ vơ

Vít cong đòn gánh dại khờ cút côi…

Thuyền nan bão quật tơi bời

Nửa đêm lập cập mẹ soi lửa tìm…

Đây là bức tranh chân thực về người đàn bà chống chọi với bão giông. Dáng Mẹ “vít cong đòn gánh” chính là dáng của sự hy sinh, của sức chịu đựng không lời. Điều đặc biệt là dù cuộc đời trĩu nặng đến đâu, thử thách đến đâu, Mẹ trong thơ Triệu Kim Loan vẫn là mạch nguồn yêu thương:

Trớ trêu lắm nỗi ngậm ngùi

Bàn tay mẹ vẫn đơm chồi hoa yêu... (Trớ trêu)

Ngay cả khi đất đời cằn cỗi, bàn tay Mẹ vẫn gieo hạt, vẫn nuôi dưỡng sự sống.

Ám ảnh nhất là bài “Làng Nủ” với tiếng kêu “Mẹ ơi” vang lên từ lòng đất:

“Mẹ ơi! Mẹ ơi!

Con nằm trong đất…

…Mẹ ơi ở đâu

Có nghe con gọi

Chiều muộn từ lâu

Con thèm bữa tối…”

Tiếng gọi ấy là tiếng gọi muôn đời của nhân loại, là sự bấu víu cuối cùng của linh hồn. Tôi đọc mà bàng hoàng, nhớ lại những đêm yếu lòng chỉ biết thầm thì “Mẹ ơi…” như một cách cầu cứu giữa đời.

Mẹ trong thơ Triệu Kim Loan còn hòa vào thiên nhiên:

“Bàn tay Mẹ - vòng tay của đất

Giọt sương đêm - thắp nắng lòng người..” (Thắp nắng lòng người)

Mẹ là đất, là sương, là vòng tay bao dung. Mẹ vừa giữ cho con người bám rễ, vừa thắp sáng niềm tin giữa bóng tối. Lịch sử còn ghi, bao nhiêu nàng Tô Thị hiển hiện, sự bền bỉ đáng kính - một tình yêu không lời, một sự hy sinh âm thầm. Dẫu thời gian bào mòn tất cả, để lung linh son trẻ đã biến màu, Mẹ có nề chi:

Nước mắt

Đọng trong lúm đồng tiền một thời son trẻ

Giờ kiệt khô hoá vết đồi mồi

Người đàn bà đợi chồng

Hàng đêm

Hoá đá (Đợi anh)

Và cuối cùng, giữa những mệt mỏi của đời, thơ chị vẫn vút lên những lời ru- mạch nguồn:

Cánh cò thấp thoáng chiều quê

Lời ru mẹ gọi giấc mê thiện lành. (Giấc quê)

Lời ru ấy là nhịp tim, là nơi con người tìm thấy sự hiền hòa, thiện lương để trở về.

Có thể nói, hình tượng Mẹ là một trong những trục cảm hứng rất đẹp trong tập thơ "Chữ gọi mùa trăng". Mẹ vừa là ký ức, vừa là hiện tại, vừa là niềm tin để con người bước tiếp. Mẹ trong thơ Triệu Kim Loan không xa vời mà rất đời - với mồ hôi, nước mắt, với cả nụ cười đã “kiệt khô hoá vết đồi mồi”.

Đọc "Chữ gọi mùa trăng", tôi cảm nhận tình Mẹ chính là “mùa trăng” mà tác giả gọi về - một vầng sáng dịu dàng dẫn lối giữa đêm đen. Ở đâu còn tình Mẹ, ở đó còn niềm tin, còn chỗ để con người trở về sau bão tố. Và cũng vì thế, "Chữ gọi mùa trăng" không chỉ là một tập thơ để thưởng thức, mà còn là một tập thơ để tìm về cội nguồn yêu thương, để được tắm thêm lần nữa, lần nữa chính mình trong ánh trăng huyền diệu mang dáng hình Mẹ.

20g05 ngày 21/09/2025

P. T. T

Mời đọc bài liên quan: Khi chữ gọi trăng, khi thơ gọi bạn bè

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm