TIN TỨC

Chim câu tung cánh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-04 08:45:06
mail facebook google pos stwis
1720 lượt xem

Bút ký của NGUYỄN TRƯỜNG


Nhà văn Nguyễn Trường

Nhân kỷ niêm 40 năm sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh, huyện Cần Giờ tổ chức cuộc thi sáng tác biểu trưng của huyện. Cuộc thi thu hút rất nhiều người tham gia trong cả nước.  Sáng tác của tác giả Lê Anh Dũng đã được chọn. Biểu trưng này xuất phát từ ý tưởng, nhìn trên bản đồ, Cần Giờ giống hình con chim bồ câu đang cất cánh bay lên. Hình con chim nội tiếp vòng tròn như cái gì đó hoàn hảo, bền vững trong tự nhiên, được thể hiện qua ba màu cơ bản: Màu xanh tượng trưng cho biển, màu trắng cho sông, màu xanh lá cây cho rừng. Cách điệu cánh chim câu đang tung cánh bay lên, tượng trưng cho khát vọng vươn lên ấm no hạnh phúc của người dân Cần Giờ.

1. Không gian huyền thoại

Những ngày mùa thu này chúng tôi đến với Cần Giờ, một huyện nằm ở phía Đông thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố khoảng 55 km. Con đường xuyên Cần Giờ từ bến phà Bình Khánh, giống như hình cái mỏ của chú chim câu trên bản đồ, theo con lộ mới mở đến thị trấn Cần Thạnh, chừng 40 km, con lộ nhựa rộng, bốn làn xe,  chỗ sáu làn xe có dải phân cách cứng, xe chúng tôi cứ lướt bon bon 80 km/giờ. Hai bên đường chỉ rừng là rừng, có cảm giác như chúng tôi đang đi trong rừng Cát Tiên hay rừng quốc gia Cúc Phương. Khác chăng, chỉ  thấy cây đước cao vút, ken dày, rễ xõa xuống như những chiếc nơm bám chặt lấy đất một cách kiên cường. Cũng khác là rừng không có núi, không có khe, suối, được chia cắt bởi những con sông chằng chịt, tạo nên cảnh quan ngoạn mục bởi những hàng cây vươn ra đón ánh mặt trời như xõa tóc soi gương, mặt sông bắt ánh nắng sáng long lanh, từng đàn chim trắng bay lượn rập rờn, một cảnh yên bình khó nơi nào sánh được. Những chiếc cầu bê tông xinh xắn bắc qua sông, như nối những mảng màu trên bức tranh màu xanh đậm nhạt khác nhau của rừng, của sông, của biển. Nói về rừng Sát, sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết: “Từ Tam giang Nhà Bè xuống phía đông đến Cần Giờ, phía Bắc đến cửa Tắc Ký, phía tây đến Ký Giang, trong khoảng ấy có đến trăm ngàn cồn bãi, các bãi ấy đều có rừng chằm cả. Cây ở đó gọi là cây dà, đước, sú ,vẹt  và những cây tạp khác, rừng xanh, cây rậm, tán nhánh giao nhau, che kín mặt trời. Người ta dùng những cây ấy để làm nhà cửa, rào dậu, cột cọc, than củi, không ngày nào ngớt. Còn hải sản như cá, tôm, cua, sam và ốc len thì bắt dùng không hết mà cũng không ai ngăn cấm. Ấy là chỗ chí công vô cùng của trời đất ban cho để nuôi dưỡng người dân Gia Định vậy.”

Cách đây hơn bốn mươi năm chúng tôi có dịp đi qua đây, con đường này chỉ là những đoạn bờ đất, bị chia cắt bởi những con sông, chưa có cầu, rừng loang lổ vì những cây hoang dại, bị bom và chất độc khai quang từ trong chiến tranh. Cây đước Cần Giờ bị hủy hoại nhất là giai đoạn từ năm 1964 -1973, máy bay Mỹ rải 3,8 triệu lít chất độc hóa học để xóa bỏ rừng Cần Giờ vì rừng ngập măn Cần Giờ vốn là căn cứ của cách mạng, trấn giữ tuyến đường thủy quan trọng nối Sài Gòn đi các nơi và thông ra biển lớn.

 Các chuyên gia thế giới đánh giá ta phải mất ít nhất 100 năm mới khôi phục lại được khu rừng ngập mặn này. Thế mà chỉ sau 20 năm, rừng ngập mặn Cần Giờ đã được khôi phục hoàn toàn. Điều này cũng làm các chuyên gia thế giới rất ngạc nhiên, họ không hiểu bằng cách nào khu rừng được tái tạo nhanh như vậy, trở thành khu rừng trồng đẹp nhất Đông Nam Á. Năm 2000 khu rừng ngập mặn Cần Giờ được công nhận là khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn đầu tiên trên thế giới với diện tích 75 740 ha.

Do thủy triều lên xuống ngày 2 lần đã rửa sạch dần chất khai quang, nhưng đó chỉ đúng một phần, phần còn lại- quan trọng hơn chính là do con người quyết  định. Khi mới sáp nhập huyện Duyên Hải về thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố đã có chủ trương tái lập vành đai xanh quanh thành phố. Tiến sĩ Lê Đức Tuấn, chuyên viên cao cấp ngành lâm nghiệp Cần Giờ, người lăn lộn ngay từ những ngày đầu quy hoach, trồng rừng ngập mặn Cần Giờ cho chúng tôi biết: Chung quanh thành phố có 3 hệ sinh thái: Hệ sinh thái Củ Chi, hệ sinh thái rừng tràm ở Bình Chánh- Tân Tạo- Lê Minh Xuân và hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ. Đồng chí Võ Văn Kiệt, lúc đó là Bí thư thành ủy tp Hồ Chí Minh bàn với các nhà khoa học để nâng cấp huyện Cần Giờ phát triển cả về kinh tế, xã hội, môi trường. Có nhà khoa học bàn sẽ trồng cỏ, chăn nuôi gia súc như trâu bò. Có người đề xuất nên biến nơi đây thành rừng dừa như Bến Tre. (Thời thuộc Pháp có một số nhà tư sản Pháp đầu tư trồng thí nghiệm 100 ha dừa ở rừng Sát bây giờ). Cuối cùng ý kiến khôi phục rừng ngập mặn được chọn. Thành phố điều 250 anh em thanh niên xung phong thành lập nông trường Duyên Hải. Các nhà khoa học, như TS. Giám đốc Lê Văn Khôi, Phó Giám đốc Bích Liên... Họ nghiên cứu và nhất trí chọn cây đước, vì loại cây này có đặc tính phát triển nhanh, bình quân mỗi năm mọc lên 0,8m đến 1m, có giá trị kinh tế cao. Cây đước dùng trong vật liệu xây dựng rất bền vững, than đước có nhiệt lượng cao, cháy lâu tàn nên cho hiệu quả kinh tế tốt.

Họ tính toán trồng đước với tỷ lệ bao nhiêu cây trên một ha là hợp lý. Trồng cách 1 m/ cây, hay 1,5 m / cây, tùy theo sử dụng, làm hàng rào, làm cần câu, lấy gỗ để trồng với mật độ khác nhau. Các nhà khoa học lâm nghiệp đề nghị trồng 10 ngàn cây/ ha, cách 1m /cây. Thành phố chủ trương trồng rừng đước, sau 5 năm ta có thể tỉa thưa còn 1,5 m/ cây. Cây tỉa ra dùng làm củi. Sau 10 năm, tỉa lần 2, còn khoảng cách 1,7- 1,8m/ cây, sau 15 năm tỉa lần 3, để cây có không gian quang hợp ánh nắng và phát triển, ta lại thu được gỗ quý. Sau 25 năm, lúc đó rừng có tỷ lệ 200 cây/ha, ta có gỗ tốt xây dựng, có chất đốt tuyệt vời. Đặc điểm của rừng ngập mặn là không lo bị cháy rừng, vì độ ẩm cao. Các nhà lâm nghiệp cho biết trên thế giới chưa ở đâu trồng được 1000 ha/ năm đối với rừng ngập mặn. Ta phải tính toán chu đáo về vốn, vật tư, thiết bị, con giống để trồng hoàn thành một diện tích vô cùng rộng lớn như thế. Giống cây đước ở Cần Giờ đã bị biến mất từ lâu, phải đi mua tận Cà Mau cũng là những trở ngại, vì địa bàn xa, vận chuyển mất nhiều ngày, cây con bị chết nhiều. Lúc đó ngành lâm nghiệp đề nghị trồng 200 ha/ năm là hết năng lực. Tính ra ta phải trồng đến 20 năm mới hết diện tích. Nhưng lãnh đạo thành phố đã họp ra quyết tâm mỗi năm phải trồng 4000 ha trong ba năm đầu. Muốn thế phải huy động lực lượng toàn bộ các xã, các tập đoàn ngư dân trong huyện. Xã Thạnh An đi đầu vì có diện tích rừng lớn, rồi đến xã Cần Thạnh, Long Hòa, Lý Nhơn. Lực lượng thanh niên xung phong được đào tạo thành chuyên viên kỹ thuật rải đi các xã hướng dẫn bà con cách trồng. Năm đầu tiên toàn huyện đã trồng được 4000 ha, không ai có thể tưởng tượng được huyện có thể hoàn thành diện tích như thế. Năm thứ hai, người dân nghĩ ra sáng kiến, họ đề nghị thay lao động chính bằng những người khác trong gia đình như vợ con họ, để người chồng- lực lượng chủ lực đi đánh bắt cá. Lớp trẻ mới lớn lội bùn nhanh nhẹn, đẩy xuồng nhỏ chở cây lướt băng băng. Còn phụ nữ thì hai tay hai giỏ giống, rút cây giống, gim thoăn thoắt. Phụ nữ lại ít bị đau lưng như nam giới nên năng suất trồng hơn nam giới. Đây là kết quả hết sức bất ngờ, cũng là sáng kiến của dân. Năm thứ 3, ta thành lập thêm 21 nông trường. Đến năm 1990, mục tiêu đổi khác, quốc tế chú trọng hơn đến môi trường. Thành phố lại chủ trương trồng thêm các loại cây như cây bần, cây mắm, sú, vẹt...để tạo đa dạng sinh học, trong đó có cả những động vật sinh sống trong rừng đước như khỉ, dơi, chim, trăn, rắn, cá, cua, rùa.... Sau hai mươi năm ta đã phủ xanh toàn bộ đất trống Cần Giờ.

Cần Giờ có khu dự trữ sinh quyển tầm cỡ thế giới, trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn. Huyện liền chủ trương lấy du lịch là kinh tế mũi nhọn. Về nông nghiệp, Cần Giờ chỉ còn 10 ha trồng lúa, năng suất thấp, chỉ 2,5 tấn/ ha vì nước mặn, nên không chú trọng vào cây lúa nữa. Cần Giờ còn khu đô thị du lịch lấn biển với diện tích hàng trăm ha do tập đoàn Vingroup làm chủ đầu tư, đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, cũng hứa hẹn thêm cho nghành du lịch điểm đến hấp dẫn.

Cần Giờ cũng có khu cảng tương lai hoành tráng, nằm đối diện với cảng Cái Mép, Bà Rịa- Vũng Tàu. Xây dựng cảng ở đây có thuận lợi là nằm trên móng đá, là đuôi của dãy Trường Sơn chạy lan đến Bà Rịa- Vũng Tàu, móng đá nằm ngầm dưới đáy cửa biển. Nếu như xây dựng nơi khác, đóng cọc nhồi bê tông phải sâu xuống đến hàng trăm mét, còn ở đây có móng đá chỉ cần đóng cọc xuống 5-7 m là chắc chắn, như thế sẽ đỡ tốn kém trong xây dựng. Từ thị trấn Cần Thạnh, cũng có dự án xây một cây cầu nối với thành phố Vũng Tàu thì Cần Giờ càng thu hút khách du lich từ Vũng Tàu sang. Cùng với cây cầu thay bến phà Bình Khánh, du khách từ tp Hồ Chí Minh đi vũng Tàu qua ngã Cần Giờ rút ngắn được hơn một nửa chặng đường, lại được xuyên qua rừng đước mênh mông, như đi trong không gian huyền thoại.

2. Thời gian hiện thực

Cần Giờ còn có đặc điểm là từ trái cây như xoài, mãng cầu ta... đến con tôm, con cá... đều ngon hơn các nơi khác. Có lẽ vì thổ nhưỡng ở đây rất đặc biệt, là nơi hợp lưu của các con sông Sài Gòn, Đồng Nai chảy ra biển, gọi là sông Nhà Bè cùng với sông Soài Rạp, Lòng Tàu, Giữa, Đồng Tranh, bốn con sông lớn và hàng trăm con sông nhỏ thông thủy với nhau tạo nên một Cần Giờ chằng chịt sông rạch, nhận lượng phù sa vô tận, hòa với nước mặn từ biển, tạo nên hợp chất giàu vi lượng, nên cây trái có vị ngon ngọt đặc biệt, cá tôm, cua...kể cả muối cũng có độ ngon khác thường. Đến nỗi, huyện chưa cần phải quảng bá sản phẩm vì đã có sẵn uy tín về chất lượng thủy hải sản và trái cây Cần Giờ, sản lượng đánh bắt hải sản, cũng như thu hoạch trái cây không đủ cung cấp cho thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ.

Cần Giờ có xã đảo Thạnh An bốn bề là sông biển. Xã có dân số khoảng 5000 người, dân ở đây chủ yếu là làm nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và làm muối. Chúng tôi có một ngày lang thang trên đảo Thạnh An. Ở đây có chợ, có trường trung học, bệnh xá và có cả nhà nghỉ cho khách du lịch muốn ở lại qua đêm. Dạo gần đây xã đảo đón rất nhiều khách du lịch. Họ đến để thư giản, được hít thở không khí trong lành, thưởng thức không gian yên tĩnh, được lang thang trên các con đường bê tông dọc theo mép nước biển, ngắm rừng đước bạt ngàn, những con tàu hàng ngàn tấn chạy trên sông để vào cảng Cát Lái, cảng Nhà Bè. Cũng có con tàu đậu ngay trên sông Lòng Tàu để các tàu thuyền nhỏ hơn đến dỡ hàng. Đêm về, hòn đảo càng trở nên yên tĩnh, mặt biển sáng rực nhấp nháy như sao sa bởi đèn của các thuyền đánh cá xếp thành đủ mọi hình thù khác nhau.

 Đêm ở ấp Thiềng Liềng, thuộc xã Thạnh An, đèn điện sáng rực rỡ. Người dân ý ới gọi nhau kéo về cuối ấp, nơi sinh hoạt văn hóa. Anh Hai, ấp trưởng, cũng là người mê đờn ca tài tử, anh ca sáu câu vọng cổ ngọt như mía lùi. Hầu như buổi văn nghệ nào anh cũng có mặt, vừa tham gia ca hát vừa chỉ đạo anh em văn nghệ sỹ phục vụ bà con. Vì ấp này là hòn đảo xa nhất trong mấy hòn đảo thuộc xã Thạnh An nên cuộc sống rất bình yên, nếu không có văn nghệ thì buổi tối dễ trở nên buồn tẻ. Anh là người gốc tỉnh Tiền Giang sang định cư. Vốn là công an viên, kiêm trưởng ấp, nhưng mấy năm nay anh xin về hưu sớm, chỉ làm trưởng ấp. Nói chung dân Cần Giờ, có đến một phần ba là người các nơi đến định cư. Người Cần Giờ hoan nghênh dân các nơi về lập nghiệp vì họ thích cái mới do người tứ xứ mang đến. Đội văn nghệ của ấp tập hợp được nhiều tài năng từ các nơi. Đoàn chúng tôi chủ yếu là văn nghệ sĩ của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Anh chị em nghệ sĩ mang theo nhạc cụ, nên buổi ca hát giao lưu giữa hai đội diễn ra thật sôi nổi. Anh chị em ở đảo đã thuộc những bài cải lương mà không ngờ hôm nay lại gặp chính các tác giả nên rất cảm động. Các nghệ sỹ thành phố cũng không ngờ, đội đờn ca tài tử một ấp nhỏ mà trình diễn không kém gì các nghệ sỹ chuyên nghiệp của thành phố lớn. Qua đó chúng tôi càng cảm phục người dân xã đảo, tưởng xa xôi, cách trở vẫn có vốn văn hóa phong phú.

Anh Hai trưởng ấp cho biết, Thiềng Liềng có 870 người, sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng thủy sản (Như hàu, tôm, cua, cá...). Ấp có 120 ha sân muối, mỗi năm trung bình thu được 25 ngàn tấn. Năm nay muối được giá (3000đ/kg), mà theo anh Hai, chỉ cần 1000 đ/kg đã có lời rồi. Tôi nhẩm tính, chỉ phơi muối thôi, diêm dân đã thu về 75 tỷ đồng/ năm. Chưa kể nghề nuôi trồng thủy sản, dân Thiềng Liềng có cuộc sống chưa phải giàu có nhưng cũng kha khá.

3. Lễ hội Nghinh Ông

Đoàn chúng tôi đến Cần Giờ đúng vào dịp tết Trung thu, được hòa trong niềm vui của người dân nơi đây. Ngày này thị trấn Cần Thạnh nhà nhà cắm cờ, kết hoa, treo đèn lồng trước cửa, buổi tối đường phố chật cứng người. Xe máy, ô tô không thể đi vào trung tâm. Trai gái ăn mặc đẹp, có nhiều đôi từ thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận kéo về. Thị trấn cũng có khá nhiều khách sạn, nhà nghỉ vì vốn là điểm du lịch, thế mà đã hết phòng từ hôm trước. Thì ra những ngày rằm này Cần Giờ có lễ hội Nghinh Ông. Người dân lập lăng thờ cá voi gọi là Lăng Ông thủy tướng. Theo ông Phan Văn Chấn, một người có uy tín trong ban tổ chức cúng tế Lăng Ông: “Lăng Ông thủy tướng hình thành từ “Miếu Hải thần” xưa, trải qua gần hai trăm năm, cùng bị hủy hoại, di dời nhiều lần do thiên tai địch họa, từ cơn bão lớn vào năm Giáp thìn 1904, gây thiệt hại thảm khốc về người và tài sản, trong đó có Lăng Ông thủy tướng...Từ năm 1946 đến năm 1952 Lăng Ông di dời về vị trí hiện nay”. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đã viết: “Ở phía đông nam thủ sở, kính thờ thần Nam Hải (Tức thần cá voi, còn gọi là cá Ông) ...Cột kèo miếu này được chạm trổ, tô vẽ nghiêm chỉnh, thường năm vào tháng giêng quan trấn dùng lễ thái lao (gồm dê, heo, trâu) thân hành đến tế, cầu cho thuận gió để thuyền vận tải về kinh đi về cho được tiện lợi, tất cả có chép trong tự điển. Còn những thuyền buôn ra vào cũng sắm lễ vật trọng hậu đến chiêm bái, hương đèn thường ngày thơm tho, sáng rực”. Lăng Ông thủy tướng nằm ở thị trấn Cần Thạnh, nhìn trên bản đồ vị trí như là mũi của con tàu đang rẽ sóng ra khơi. Hiện trong lăng đang thờ bộ xương cá voi khổng lồ. Đêm trước rằm trung thu, huyện Cần Giờ tổ chức thả đèn hoa đăng trên biển. Người ta làm hàng ngàn chiếc đèn rồi chờ con nước lên, khi trăng vành vạnh tỏ xuống thị trấn, mặt biển sáng lung linh thì từ trên đầu con nước hai chiếc ghe lớn bắt đầu thả đèn lồng. Con nước lên đẩy đèn lồng đã được thắp sáng trôi trên biển. Đèn thả nhiều như sao sa trên mặt nước nối đuôi nhau chạy về hướng Lăng Ông thủy tướng, có cảm giác như linh hồn các tiên hiền, các liệt sỹ, các ngư phủ đã hy sinh, tử nạn cùng kéo về Lăng Ông dự hội.

Sáng này 15 tháng 8 âm lịch là chính lễ, ngay từ sáng sớm, các nhà dân trong thị trấn bày mâm lễ cúng trước nhà đón Ông thủy tướng từ biển khơi về lăng. Thị trấn nhộn nhịp hơn đêm ba mươi Tết. Hầu như tất cả các tàu đánh cá của các xã trong huyện kéo về thị trấn, trên bãi gần Lăng Ông, tàu kéo cờ, kết hoa rực rỡ. Hầu hết các đơn vị trong huyện tham gia, từ công an, phòng văn hóa, cho đến nhà hát thiếu nhi. Sáng đội Nghinh Ông lên đường, hội Vạn lạch đã chuẩn bị lễ vật như hương đăng, hoa quả, bài vị, văn tế...đặt trên kiệu Nghinh Ông. Đội khiêng kiệu, khiêng trống mặc y phục, mang dày, quấn xà cạp theo cung cách quân lính triều đình nhà Nguyễn. Các cụ mặc áo dài, khăn đống, 6 người cầm cờ ngũ hành, 16 quân hầu, 8 quân cầm binh khí. Đoàn còn có trống kèn, lân sư của đội thiếu nhi. Sau khi cúng đại lễ ở Lăng Ông, đoàn đi rước bắt đầu. Trống chiêng rộn ràng, đoàn có xe cảnh sát hú còi mở đường. Người dân đứng chật hai bên đường đón đoàn.

Đoàn rước xuống một chiếc tàu trang trí đẹp nhất gọi là tàu Nghinh. Trên tàu có kiệu Nghinh Ông và chánh lễ, phó lễ, ban nhạc lễ, chiêng trống, quân khiêng kiệu cùng lễ vật cúng tế. Tàu xuất phát, lập tức hàng trăm tàu khác cũng ào ào tiến theo. Tàu tăng tốc dần, tiếng động cơ vang dội, chạy rẽ nước trắng xóa trên sông. Tất cả đều phải chấp hành, quy ước các tàu dù có động cơ mạnh đến đâu cũng phải chạy sau tàu Nghinh. Tham gia theo đoàn có 5 tàu cao tốc của cảnh sát, bộ đội biên phòng, lực lượng hải quân, có con tàu lấp ló nòng súng đại bác... Có lúc tàu cao tốc của cảnh sát phải vượt lên phất cờ ra hiệu ngăn nhưng con tàu quá hăng, áp sát con tàu Nghinh dẫn đầu, dễ tạo ra nguy hiểm. Trên trời 5 chiếc dù lượn gắn máy, bay chao đi chao lại trên đoàn tàu đi Nghinh Ông, hòa trong không khí náo nhiệt.

Tàu đến cửa biển cách vũng tàu chừng ba cây số thì chạy chậm lại. Đã đến vị trí, gọi là “ba miệng”, hợp lưu của 3 dòng nước của ba con sông Lòng Tàu, Cần Giờ, Thị Vải. Nghi thức cúng tế để Nghinh Ông bắt đầu. Tiếng chiêng trống nổi lên, tiếng nhạc, tiếng trống điểm sau mỗi đoạn văn tế của ông chánh lễ. Hàng trăm con tàu vừa hăng sức phóng rẽ sóng trên biển như một cuộc đua rầm rộ bỗng dừng lại, như đang dàn trận. Tất cả hướng mũi tàu về tàu Nghinh, nghe tiếng chiêng trống, họ hiểu giây phút thiêng liêng đã đến. Các ghe tàu bày lễ vật bắt đầu cúng tế Ông thủy tướng, cầu mọi sự bình an, thu hoạch được mùa cá bội thu. Du khách tham quan cũng chiêm bái cầu mọi điều tốt lành cho mình.

Ông Phan Văn Chấn, chánh lễ cho chúng tôi biết: Lễ cúng Nghinh Ông có hai phần: Lễ cúng cầu ngư, là cúng cá ông sống, linh hiển, ngư dân tôn kính gọi là nhân ngư, là vị thần cứu tinh của người đi biển, phù trợ sự bình an trên biển, được đánh bắt bội thu. Lễ cúng Nghinh Ông, là cúng cá Ông lụy (chết), ngư dân tôn kính linh hồn cá ông, là phúc thần, phù hộ mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, nhân sinh an lạc. Lễ Nghinh Ông có nghĩa là rước linh hồn cá Ông từ ngoài biển về lăng để cộng đồng, ngư dân bá tánh cúng lễ tạ ơn.

Sau khi lễ cúng tế hoàn tất, tàu Nghinh lại dần đầu đoàn rước trở về, hàng trăm con tàu, ghe lại rầm rộ nối đuôi nhau chạy rẽ sóng trên sông, trên biển để trở về Lăng Ông. Khi tàu cập bờ, lễ rước ông trên bộ lại náo nhiệt cả thị trấn. Đây là nét văn hóa đặc sắc của Cần Giờ đã có truyền thống hàng trăm năm nay.

Ngày hội Nghinh Ông còn kéo dài ba ngày nữa, sau phần lễ là phần hội, cũng có chương trình phần lễ hội xen kẽ với nhau. Riêng phần hội có: đấu thể thao (Bóng đá bãi biển, bóng chuyền, chạy đua). Chương trình trò chơi dân gian như: Đẩy cây, kéo co, nhảy bao bố, đi cần vọt, leo cây tha mỡ, thi đan lưới, đua xuồng, ca hò vè, thi đấu cờ tướng, đờn ca tài tử, trò chơi dân gian gắn liền với nghề biển... Đúng là những ngày hội của người dân sông nước Cần Giờ.

Hôm chúng tôi trở về mới để ý đến quy hoạch đường sá, nhà cửa ở thị trấn Cần Thạch. Các con đường thẳng tắp, trồng cây, trải nhựa phẳng phiu, còn đường nào cũng chừa một khoảng đất để sau này mở rộng thành đường nhiều làn xe. Các khoảng đất trống đã quy hoạch để xây dựng thị trấn thành thành phố Cần Giờ vào một thời gian không xa. Đúng là người Cần Giờ có tầm nhìn thoáng rộng, như là thiên nhiên, thổ nhưỡng nơi đây, cái gì cũng thật đặc biệt. Chẳng phải ngẫu nhiên mà hình bản đồ Cần Giờ lại giống như con chim câu đang tung cánh bay lên.

 Cần Giờ, rằm tháng Tám năm 2022
N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm