- Lý luận - Phê bình
- Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
NGUYỄN QUẾ
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.

Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan
Thơ Kim Loan chứa đựng những nỗi niềm, rung cảm sâu sắc. Nữ nhà thơ say đắm tình yêu, nhận về mình nhiều niềm vui và không ít nỗi buồn. Thơ chị cũng là tiếng vọng từ trái tim mẫn cảm với những rung động sâu lắng về đấng sinh thành, quê hương và cuộc sống.
Cũng như nhiều nhà thơ nữ khác, Kim Loan dành không ít cảm xúc của thời trẻ cho tình yêu. Với chị, tình yêu trong đợi chờ thật đẹp đẽ và lãng mạn. Những ngày tháng xa cách, hình bóng người thương hình như luôn hiện hữu trong lòng nữ nhà thơ. Trước cảnh vật và thanh âm quen thuộc gắn với những kỷ niệm đẹp đẽ, thân thương, lòng chị trào dâng nỗi nhớ da diết, bồi hồi:
“Phía bên kia ô cửa
Chùm hoa ướt đầm đung đưa theo giai điệu thân quen
Khúc mưa nhớ một người đi vắng
Lời yêu xưa xa xanh…”
(Phía bên kia ô cửa)
Nữ nhà thơ sử dụng các biện pháp nhân cách hoá và ẩn dụ một cách khéo léo. Hình ảnh “Chùm hoa ướt đầm” trong mưa tạo cảm giác hơi buồn, lạnh lẽo và cô đơn nhưng cũng rất lãng mạn, bởi nó đang “đung đưa” theo giai điệu của tình yêu. Cảnh huống ấy khắc hoạ một cách thanh thoát mà sâu sắc tâm trạng thiếu nữ nhớ người đi xa. Các cụm từ “đầm đung đưa”, “xưa xa xanh” tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa chất thơ với âm nhạc, điện ảnh và hội hoạ, đồng thời làm cho ký ức hiện về vừa gần gũi, vừa mơ hồ.
Hình như trong tình yêu, Kim Loan thường khắc khoái với những hoài niệm. Nhớ về những ngày tháng tươi đẹp đã xa, nữ nhà thơ không khỏi bâng khuâng trước miền ký ức ngọt ngào:
“Hoa mùa cũ, nồng nàn vương kỷ niệm
Níu chiêm bao về trên dấu môi cười
Vầng trăng chín thơm ngọc ngà trinh nữ
Tigon hồng tình e ấp vẹn nguyên”
(Mùa Tigon cũ)
Qua những câu thơ trên đây, tác giả đã khắc hoạ một không gian vừa thực, vừa mộng. Trong thế giới ấy, thiên nhiên ngập tràn hương sắc, mọi cảnh vật đều thấm đẫm sắc thái của tình yêu và ký ức. Ở đó, hình ảnh “trinh nữ” - nhân vật trung tâm của câu chuyện tình yêu - cũng hiện lên với vẻ đẹp trong sáng, thanh cao. Tác giả đã sử dụng một loạt thủ pháp nghệ thuật khá điêu luyện như xây dựng hệ thống biểu tượng (hoa mùa cũ, trăng, trinh nữ, mùa tigon), kết hợp nhiều giác quan (thị giác, khứu giác) và chuyển đổi cảm giác một cách uyên chuyển, tinh tế. Ngôn ngữ, hình ảnh trong khổ thơ được chọn lọc kỹ. Những từ láy và động từ gợi cảm như “nồng nàn”, “ngọc ngà”, “e ấp”, “vương”, “níu” có tác dụng làm cho giọng thơ giàu nhạc điệu, mềm mại và uyển chuyển. Cái “dấu môi cười” vừa gần gũi, thân thương, vừa mơ hồ, tạo cảm giác xao xuyến, bâng khuâng. Câu thơ “Vầng trăng chín thơm ngọc ngà trinh nữ” khá xuất thần. “Vầng trăng chín thơm” là một biểu tượng mới mẻ và thơ mộng. Vầng trăng ấy gắn với hình ảnh “ngọc ngà trinh nữ” tạo nên một vẻ đẹp viên mãn, tinh khôi, Đọc những câu thơ trên, ta không chỉ rung cảm trước cảnh trí thiên nhiên mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi của tuổi trẻ và tình yêu cùng sự trở về của ký ức yêu thương. Thiên nhiên và con người ở đây như hoà quyện với nhau, gợi lên một nỗi nhớ tràn đầy, dịu dàng, sâu lắng.
Kim Loan cũng tạo đước dấu ấn khi viết về tình mẹ. Chị thể hiện tình cảm dạt dào mỗi khi viết về nỗi nhớ mẹ. Hình ảnh mẹ hiện lên trong thơ chị thật gần gũi, thân thương:.
“Con ngồi nhớ mẹ, lưng tròng
Ngày xưa, bậu cửa, mẹ mong con về
Thương người tất tả nón mê
Đồng xa gánh lúa đường đê nắng vàng?
Nghĩ về mẹ, lòng tác giả ngân lên câu thơ đầy tự hào:
“Cuộc đời dẫu mấy gian truân
Vầng trăng mẹ rọi trong ngần đời con”
(Vầng trăng mẹ)
Trong thơ ca Việt Nam, mẹ là một đề tài rất quen thuộc. Tuy nhiên, Kim Loan không quá sa đà vào những lối cũ sáo mòn mà có cách tiếp cận riêng và tạo được dấu ấn. Chị cảm nhận thật rõ hình bóng thân thương, tình cảm bao la và những phẩm chất cao quý của mẹ từ những kỷ vật người để lại, dẫu thời gian cứ vô tình lôi cuốn ngày tháng trôi đi:
“Mười mấy năm
Chiếc khăn rằn của nẹ vẫn theo cha như bóng hình
Chiếc khăn gói nghĩa tình của mẹ
Làm dịu cơn sốt đầu hè, ủ ấm những heo may
Con vẫn thường mơ mẹ gieo hạt trên luống cha cày
Khăn rằn thấm bao giọt mồ hôi, mằn mặn chén cơm cá kho với muối
Cha gối đầu lên mùi hương của mẹ
Giấc ngủ trưa giữa đồng có gió mát từ vành khăn”
(Chiếc khăn rằn của mẹ)
Chỉ qua một kỷ vật nhỏ, tác giả nói được rất nhiều điều: nỗi nhớ mẹ, tình cảm gia đình, nghĩa tình sâu nặng của cha mẹ và những giá trị tinh thần to lớn mẹ để lại cho những người thân. Khắc hoạ nỗi đau lớn nhất của đời mình - nỗi đau mất mẹ - Kim Loan viết nên những vần thơ bình dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc:
“Mẹ đi về phía non ngàn
Cỏ xanh xanh chỗ mẹ nằm đơn côi”
Với chị, mẹ ra đi không phải là mất tất cả, đó còn là hành trình gieo mầm cho sự sống mới. Hình ảnh “mẹ nằm đơn côi” ở “phía non ngàn” thể hiện nỗi mất mát đau thương to lớn, đồng thời “Cỏ xanh xanh chỗ mẹ nằm” hiện lên như một sự hoá thân để từ đó, hình ảnh mẹ vẫn còn mãi trong lòng chị và giữa đất trời. Từ đau thương, chị trở về, đón nhận và tự hào trước điều quý giá nhất mẹ để lại:
“Con về mưa nắng giữa đời
Gia tài gói gọn những lời mẹ ru”
(Phía mẹ)
Người Việt Nam vốn duy tình. Trong lời ru của mẹ có tình cảm gia đình, bè bạn, quê hương, có lời răn về đạo lý làm người, có hồn thiêng sông núi của cha ông… Đó là những giá trị bất biến, cao quý hơn mọi của cái vật chất trên thế gian này. Với câu thơ trên, Kim Loan đã thể hiện sự thấu cảm triết lý nhân sinh của cha ông và chạm đến được miền sâu thẳm trong lòng người đọc.
Tình yêu quê hương, cuộc sống trong thơ Kim Loan được khắc hoạ rõ nét và mang một phong cách riêng. Đưa con đến giảng đường đại học trong một chiều mưa ở thành phố, lòng chị trào dâng niềm xúc động, vui sướng, tự hào về dải đất vốn rất sôi động nhưng cũng thật hiền hoà, nghĩa tình và bao dung:
“Cay cay mí mắt
Ai bảo Sài Gòn đất chật?
Khi đường tương lai rộng mở vô cùng
Cho mẹ cho cha và giờ cả cho con
Chắp cánh ước mơ nối dài bao thế hệ”
(Sài Gòn & mưa giảng đường)
Về với làng gốm nổi tiếng trên chính quê hương mình, giữa niềm vui trước những thành quả nơi đây đã đạt được, chị như nghe từ lòng đất tiếng nói của tiền nhân vọng về. Trong lòng nhà thơ, hào khí xưa của cha ông và niềm vui của cuộc sống hôm hôm nay như hoà quyện với nhau:
“Về thăm làng gốm yêu thương
Mà nghe tiếng đất quê hương thì thầm
Ẩn trong trầm tích ngàn năm
Một hôm đất nở thành trăm nụ cười”
(Tình gốm Phương Nam)
Nhưng có lẽ điều đáng quý nhất trong thơ Kim Loan về đề tài quê hương, đất nước là tình cảm chị dành cho vùng quê nghèo, xa xôi, hẻo lánh. Tự đáy lòng mình, Kim Loan viết nên những câu thơ buồn man mác:
“Thời gian đã lạc con đò
Bến quê còm cõi câu hò mênh mang”
Đó là nỗi xót xa của tác giả trước dòng chảy của thời gian. Con đò, hình ảnh thân thuộc của quê hương đã “lạc” về đâu, không còn nữa! Bến quê cũng trở nên “còm cõi”. May sao, câu hò năm xưa còn vang vọng mãi trong ký ức, và đi qua nỗi buồn, niềm vui cuộc sống đã hiện về. Đó là chứng tích “Rễ si bám chặt cổng làng” từ quá khứ xa xưa vẫn còn đấy, cùng với biểu tượng tươi đẹp của cuộc sống hôm nay đã và đang hiện diện ở làng quê, báo hiệu mùa màng sẽ bội thu, quê hương đang căng đầy nhựa sống:
“Cau non đã trổ đầy quài
Hương thơm thơm đến tận ngoài ngõ tre”
(Nợ quê)
Cây cau và “ngõ tre” vốn rất quen thuộc, mang tính đặc trưng, đã khắc hoạ rõ nét hình ảnh của làng quê. Từ láy “thơm thơm” vừa diễn tả được sự dịu dàng, tinh khiết và sức lan toả của hương hoa cau, vừa làm cho câu thơ có nhạc điệu, mượt mà, duyên dáng. Đó là những điều chúng ta cảm nhận rất rõ về sự nhạy cảm, tinh tế của tác giả chỉ qua hai câu lục bát.
Với sự quan sát tinh tế, Kim Loan đã nhận thức sâu sắc quy luật vần xoay của sự vật và sức mạnh diệu kỳ của sự sống, từ đó, chị liên hệ với thân phận con người:
“Sen của tôi
Tưởng đã chết vào mùa đông năm ngoái…
Rồi mùa xuân muôn hoa nở rợp trời
Không ai nhớ củ sen già ở đó
Nó đã bị lãng quên dưới lớp bùn
Như bao nhiêu người đã bị lãng quên
dưới lớp trầm tích thời gian
Những ngày dài và bao đêm sâu
Nơi tăm tối sen tự mình khâu vá
Vết thương liền da
Mầm mọc ra từ bùn đất…”
(Hồi sinh)
Đó là bài thơ mới của nhà thơ Kim Loan vừa được công bố trên Tạp chí Sông Hương. Đọc tác phẩm của chị, ta chợt nhớ hai câu thơ nổi tíếng của Mãn Giác Thiền sư:
“Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười”…
Thơ trữ tình của Kim Loan thường là sự trở về của ký ức. Ngay cả khi nói về chuyện của ngày hôm nay, nhiều lúc chị cũng đặt nó trong mối liên hệ với quá khứ. Vì vậy, câu thơ thường gợi về một khoảng không gian, thời gian mơ hồ, xa vắng cùng nỗi suy tư. Tâm thế ấy đưa chị đến gần thế giới thơ thiền. Gần vì chúng đều có yếu tố chiêm nghiệm về thời gian, ký ức. Gần vì chủ thể dường như có nhu cầu dừng lại, tĩnh tâm và nhìn sâu hơn vào bản chất của sự sống. Có lẽ từ góc độ ấy, Kim Loan đến với thơ thiền một cách tự nhiên và chị rất có duyên với mảng thơ này. Hãy nghe Kim Loan dẫn người đọc đi từ cảnh thiền đến tâm thiền:
“Tàn trăng ướt đẫm phật đài
Thiền hoa soi bóng canh dài vô biên
Chén trà ôn chuyện tiền duyên
Trăm năm tựa cánh hoa huyền hoặc rơi”
(Thiền hoa)
Qua chén trà và câu chuyện tiền duyên, tác giả gợi nhắc rằng, mọi cuộc gặp gỡ đều là nhân duyên, còn đời người trăm năm cũng như một cánh hoa trôi giữa dòng vô thường. Tuy nhiên, khi thấu hiểu điều đó, con người có thể buông bỏ chấp niệm và sống thanh thản trong hiện tại.
Để biểu đạt nội dung cần nói, tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ và nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng như trăng, phật đài, thiền hoa, chén trà, cánh hoa. Nhịp thơ chậm, lắng đọng, phù hợp với thiền. Cảnh vật và triết lý nhân sinh như hoà quyện với nhau. Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, có sức gợi cảm, gần gũi với đời thường và gợi mở.
Ở một bối cảnh khác, tác giả đã lấy chén trà làm biểu tượng để chiêm nghiệm về thời gian và kiếp người:
“Nhấp trên môi một ngụm muà
Tiếng thời gian khẽ như vừa đi qua
Ngọt ngào đắng chát, can qua
Rót từng giọt nhỏ phù hoa xuống đời
Tách trà rót giữa chơi vơi
Hương còn đọng lại trên môi tháng ngày
(Tịch trà)
Trước sự vô tình của thời gian và cái “chơi vơi” của kiếp người, chén trà ở đây trở thành nơi neo giữ tâm thức, giúp con người tìm thấy sự bình yên. Đoạn thơ chứa đựng một triết lý nhẹ nhàng, sâu sắc: cuộc đời cũng như một ly trà, có vị ngọt của hạnh phúc, vị đắng của khổ đau, những can qua và cả phù hoa của kiếp người, nhưng tất cả sẽ trôi đi theo ngày tháng, điều còn lại chính là dư hương của những trải nghiệm và sự thức tỉnh.
Qua đoạn thơ trên, tác giả đã dùng nhiều ẩn dụ, giác quan tinh tế và những hình ảnh đời thường để gợi nên sự chiêm nghiệm về cái vô thường, về nhân sinh và sự an nhiên. Ngôn ngữ cũng rất sinh động và được sử dụng đắc địa như “ngụm mùa”, “nhấp”, “khẽ”, “rót từng giọt nhỏ”… Giọng thơ trầm lắng, giàu chất thiền và đậm chất đời.
Nhìn chung, thơ Kim Loan khá đa dạng, phong phú về cả nội dung và hình thức. Đọc thơ chị, ta cảm nhận được những rung động sâu sắc của một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm, được thể hiện bằng các thủ pháp nghệ thuật khá điêu luyện, kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố truyền thống và đổi mới, sáng tạo. Điều đáng quý ở thơ Kim Loan là thơ chị giàu chất thơ, mang đậm nữ tính cùng cốt cách Việt Nam, Nam bộ, và chị đã hình thành được một phong cách sáng tác riêng, ổn định.
N.Q