TIN TỨC

Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-06 00:32:04
mail facebook google pos stwis
18 lượt xem

NGUYỄN QUẾ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.

 

Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan

 

Thơ Kim Loan chứa đựng những nỗi niềm, rung cảm sâu sắc. Nữ nhà thơ say đắm tình yêu, nhận về mình nhiều niềm vui và không ít nỗi buồn. Thơ chị cũng là tiếng vọng từ trái tim mẫn cảm với những rung động sâu lắng về đấng sinh thành, quê hương và cuộc sống.

Cũng như nhiều nhà thơ nữ khác, Kim Loan dành không ít cảm xúc của thời trẻ cho tình yêu. Với chị, tình yêu trong đợi chờ thật đẹp đẽ và lãng mạn. Những ngày tháng  xa cách, hình bóng người thương hình như luôn hiện hữu trong lòng nữ nhà thơ. Trước cảnh vật và thanh âm quen thuộc gắn với những kỷ niệm đẹp đẽ, thân thương, lòng chị trào dâng nỗi nhớ da diết, bồi hồi:

“Phía bên kia ô cửa

Chùm hoa ướt đầm đung đưa theo giai điệu thân quen

Khúc mưa nhớ một người đi vắng

Lời yêu xưa xa xanh…”

(Phía bên kia ô cửa)

Nữ nhà thơ sử dụng các biện pháp nhân cách hoá và ẩn dụ một cách khéo léo. Hình ảnh “Chùm hoa ướt đầm” trong mưa tạo cảm giác hơi buồn, lạnh lẽo và cô đơn nhưng cũng rất lãng mạn, bởi nó đang “đung đưa” theo giai điệu của tình yêu. Cảnh huống ấy khắc hoạ một cách thanh thoát mà sâu sắc tâm trạng thiếu nữ nhớ người đi xa. Các cụm từ “đầm đung đưa”, “xưa xa xanh” tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa chất thơ với âm nhạc, điện ảnh và hội hoạ, đồng thời làm cho ký ức hiện về vừa gần gũi, vừa mơ hồ.

Hình như trong tình yêu, Kim Loan thường khắc khoái với những hoài niệm. Nhớ về những ngày tháng tươi đẹp đã xa, nữ nhà thơ không khỏi bâng khuâng trước miền ký ức ngọt ngào:

“Hoa mùa cũ, nồng nàn vương kỷ niệm

Níu chiêm bao về trên dấu môi cười

Vầng trăng chín thơm ngọc ngà trinh nữ

Tigon hồng tình e ấp vẹn nguyên”

(Mùa Tigon cũ)

Qua những câu thơ trên đây, tác giả đã khắc hoạ một không gian vừa thực, vừa mộng.  Trong thế giới ấy, thiên nhiên ngập tràn hương sắc, mọi cảnh vật đều thấm đẫm sắc thái của tình yêu và ký ức. Ở đó, hình ảnh “trinh nữ” - nhân vật trung tâm của câu chuyện tình yêu - cũng hiện lên với vẻ đẹp trong sáng, thanh cao. Tác giả đã sử dụng một loạt thủ pháp nghệ thuật khá điêu luyện như xây dựng hệ thống biểu tượng (hoa mùa cũ, trăng, trinh nữ, mùa tigon), kết hợp nhiều giác quan (thị giác, khứu giác) và chuyển đổi cảm giác một cách uyên chuyển, tinh tế. Ngôn ngữ, hình ảnh trong khổ thơ được chọn lọc kỹ. Những từ láy và động từ gợi cảm như “nồng nàn”, “ngọc ngà”, “e ấp”, “vương”, “níu” có tác dụng làm cho giọng thơ giàu nhạc điệu, mềm mại và uyển chuyển. Cái “dấu môi cười” vừa gần gũi, thân thương, vừa mơ hồ, tạo cảm giác xao xuyến, bâng khuâng. Câu thơ “Vầng trăng chín thơm ngọc ngà trinh nữ” khá xuất thần. “Vầng trăng chín thơm” là một biểu tượng mới mẻ và thơ mộng. Vầng trăng ấy gắn với hình ảnh “ngọc ngà trinh nữ” tạo nên một vẻ đẹp viên mãn, tinh khôi, Đọc những câu thơ trên, ta không chỉ rung cảm trước cảnh trí thiên nhiên mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi của tuổi trẻ và tình yêu cùng sự trở về của ký ức yêu thương. Thiên nhiên và con người ở đây như hoà quyện với nhau, gợi lên một nỗi nhớ tràn đầy, dịu dàng, sâu lắng.

Kim Loan cũng tạo đước dấu ấn khi viết về tình mẹ. Chị thể hiện tình cảm dạt dào mỗi khi viết về nỗi nhớ mẹ. Hình ảnh mẹ hiện lên trong thơ chị thật gần gũi, thân thương:.

“Con ngồi nhớ mẹ, lưng tròng

Ngày xưa, bậu cửa, mẹ mong con về

Thương người tất tả nón mê

Đồng xa gánh lúa đường đê nắng vàng?

Nghĩ về mẹ, lòng tác giả ngân lên câu thơ đầy tự hào:

“Cuộc đời dẫu mấy gian truân

Vầng trăng mẹ rọi trong ngần đời con”

(Vầng trăng mẹ)

Trong thơ ca Việt Nam, mẹ là một đề tài rất quen thuộc. Tuy nhiên, Kim Loan không quá sa đà vào những lối cũ sáo mòn mà có cách tiếp cận riêng và tạo được dấu ấn. Chị cảm nhận thật rõ hình bóng thân thương, tình cảm bao la và những phẩm chất cao quý của mẹ từ những kỷ vật người để lại, dẫu thời gian cứ vô tình lôi cuốn ngày tháng trôi đi:

“Mười mấy năm

Chiếc khăn rằn của nẹ vẫn theo cha như bóng hình

 

Chiếc khăn gói nghĩa tình của mẹ

Làm dịu cơn sốt đầu hè, ủ ấm những heo may

Con vẫn thường mơ mẹ gieo hạt trên luống cha cày

Khăn rằn thấm bao giọt mồ hôi, mằn mặn chén cơm cá kho với muối

Cha gối đầu lên mùi hương của mẹ

Giấc ngủ trưa giữa đồng có gió mát từ vành khăn”

(Chiếc khăn rằn của mẹ)

Chỉ qua một kỷ vật nhỏ, tác giả nói được rất nhiều điều: nỗi nhớ mẹ, tình cảm gia đình, nghĩa tình sâu nặng của cha mẹ và những giá trị tinh thần to lớn mẹ để lại cho những người thân. Khắc hoạ nỗi đau lớn nhất của đời mình - nỗi đau mất mẹ - Kim Loan viết nên những vần thơ bình dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc:

“Mẹ đi về phía non ngàn

Cỏ xanh xanh chỗ mẹ nằm đơn côi”

Với chị, mẹ ra đi không phải là mất tất cả, đó còn là hành trình gieo mầm cho sự sống mới. Hình ảnh “mẹ nằm đơn côi” “phía non ngàn” thể hiện nỗi mất mát đau thương to lớn, đồng thời “Cỏ xanh xanh chỗ mẹ nằm” hiện lên như một sự hoá thân để từ đó, hình ảnh mẹ vẫn còn mãi trong lòng chị và giữa đất trời. Từ đau thương, chị trở về, đón nhận và tự hào trước điều quý giá nhất mẹ để lại:

Con về mưa nắng giữa đời

Gia tài gói gọn những lời mẹ ru”

(Phía  mẹ)

Người Việt Nam vốn duy tình. Trong lời ru của mẹ có tình cảm gia đình, bè bạn,  quê hương, có lời răn về đạo lý làm người, có hồn thiêng sông núi của cha ông… Đó là những giá trị bất biến, cao quý hơn mọi của cái vật chất trên thế gian này. Với câu thơ trên, Kim Loan đã thể hiện sự thấu cảm triết lý nhân sinh của cha ông và chạm đến được miền sâu thẳm trong lòng người đọc.

Tình yêu quê hương, cuộc sống trong thơ Kim Loan được khắc hoạ rõ nét và mang một phong cách riêng. Đưa con đến giảng đường đại học trong một chiều mưa ở thành phố, lòng chị trào dâng niềm xúc động, vui sướng, tự hào về dải đất vốn rất sôi động nhưng cũng thật hiền hoà, nghĩa tình và bao dung:

 “Cay cay mí mắt

Ai bảo Sài Gòn đất chật?

Khi đường tương lai rộng mở vô cùng

Cho mẹ cho cha và giờ cả cho con

Chắp cánh ước mơ nối dài bao thế hệ”

(Sài Gòn & mưa giảng đường)

Về với làng gốm nổi tiếng trên chính quê hương mình, giữa niềm vui trước những thành quả nơi đây đã đạt được, chị như nghe từ lòng đất tiếng nói của tiền nhân vọng về. Trong lòng nhà thơ, hào khí xưa của cha ông và niềm vui của cuộc sống hôm hôm nay như hoà quyện với nhau:

“Về thăm làng gốm yêu thương

Mà nghe tiếng đất quê hương thì thầm

Ẩn trong trầm tích ngàn năm

Một hôm đất nở thành trăm nụ cười”

(Tình gốm Phương Nam)

Nhưng có lẽ điều đáng quý nhất trong thơ Kim Loan về đề tài quê hương, đất nước là tình cảm chị dành cho vùng quê nghèo, xa xôi, hẻo lánh. Tự đáy lòng mình, Kim Loan viết nên những câu thơ buồn man mác:

“Thời gian đã lạc con đò

Bến quê còm cõi câu hò mênh mang”

Đó là nỗi xót xa của tác giả trước dòng chảy của thời gian. Con đò, hình ảnh thân thuộc của quê hương đã “lạc” về đâu, không còn nữa! Bến quê cũng trở nên “còm cõi”. May sao, câu hò năm xưa còn vang vọng mãi trong ký ức, và đi qua nỗi buồn,  niềm vui cuộc sống đã hiện về. Đó là chứng tích “Rễ si bám chặt cổng làng” từ quá khứ xa xưa vẫn còn đấy, cùng với biểu tượng tươi đẹp của cuộc sống hôm nay đã và đang hiện diện ở làng quê, báo hiệu mùa màng sẽ bội thu, quê hương đang căng đầy nhựa sống:

“Cau non đã trổ đầy quài

Hương thơm thơm đến tận ngoài ngõ tre”

(Nợ quê)

Cây cau và “ngõ tre” vốn rất quen thuộc, mang tính đặc trưng, đã khắc hoạ rõ nét hình ảnh của làng quê. Từ láy “thơm thơm” vừa diễn tả được sự dịu dàng, tinh khiết và sức lan toả của hương hoa cau, vừa làm cho câu thơ có nhạc điệu, mượt mà, duyên dáng. Đó là những điều chúng ta cảm nhận rất rõ về sự nhạy cảm, tinh tế của tác giả chỉ qua hai câu lục bát.

Với sự quan sát tinh tế, Kim Loan đã nhận thức sâu sắc quy luật vần xoay của sự vật và sức mạnh diệu kỳ của sự sống, từ đó, chị liên hệ với thân phận con người:

“Sen của tôi

Tưởng đã chết vào mùa đông năm ngoái…

Rồi mùa xuân muôn hoa nở rợp trời

Không ai nhớ củ sen già ở đó

Nó đã bị lãng quên dưới lớp bùn

Như bao nhiêu người đã bị lãng quên

dưới lớp trầm tích thời gian

Những ngày dài và bao đêm sâu

Nơi tăm tối sen tự mình khâu vá

Vết thương liền da

Mầm mọc ra từ bùn đất…”

(Hồi sinh)

Đó là bài thơ mới của nhà thơ Kim Loan vừa được công bố trên Tạp chí Sông Hương. Đọc tác phẩm của chị, ta chợt nhớ hai câu thơ nổi tíếng của Mãn Giác Thiền sư:

“Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười”…

Thơ trữ tình của Kim Loan thường là sự trở về của ký ức. Ngay cả khi nói về chuyện của ngày hôm nay, nhiều lúc chị cũng đặt nó trong mối liên hệ với quá khứ. Vì vậy, câu thơ thường gợi về một khoảng không gian, thời gian mơ hồ, xa vắng cùng nỗi suy tư. Tâm thế ấy đưa chị đến gần thế giới thơ thiền. Gần vì chúng đều có yếu tố chiêm nghiệm về thời  gian, ký ức. Gần vì chủ thể dường như có nhu cầu dừng lại, tĩnh tâm và nhìn sâu hơn vào bản chất của sự sống. Có lẽ từ góc độ ấy, Kim Loan đến với thơ thiền một cách tự nhiên và chị rất có duyên với mảng thơ này. Hãy nghe Kim Loan dẫn người đọc đi từ cảnh thiền đến tâm thiền:

“Tàn trăng ướt đẫm phật đài

Thiền hoa soi bóng canh dài vô biên

Chén trà ôn chuyện tiền duyên

Trăm năm tựa cánh hoa huyền hoặc rơi”

(Thiền hoa)

Qua chén trà và câu chuyện tiền duyên, tác giả gợi nhắc rằng, mọi cuộc gặp gỡ đều là nhân duyên, còn đời người trăm năm cũng như một cánh hoa trôi giữa dòng vô thường. Tuy nhiên, khi thấu hiểu điều đó, con người có thể buông bỏ chấp niệm và sống thanh thản trong hiện tại.

Để biểu đạt nội dung cần nói, tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ và nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng như trăng, phật đài, thiền hoa, chén trà, cánh hoa. Nhịp thơ chậm, lắng đọng, phù hợp với thiền. Cảnh vật và triết lý nhân sinh như hoà quyện với nhau. Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, có sức gợi cảm, gần gũi với đời thường và gợi mở.

Ở một bối cảnh khác, tác giả đã lấy chén trà làm biểu tượng để chiêm nghiệm về thời gian và kiếp người:

“Nhấp trên môi một ngụm muà

Tiếng thời gian khẽ như vừa đi qua

Ngọt ngào đắng chát, can qua

Rót từng giọt nhỏ phù hoa xuống đời

 

Tách trà rót giữa chơi vơi

Hương còn đọng lại trên môi tháng ngày

(Tịch trà)

Trước sự vô tình của thời gian và cái “chơi vơi” của kiếp người, chén trà ở đây trở thành nơi neo giữ tâm thức, giúp con người tìm thấy sự bình yên. Đoạn thơ chứa đựng một triết lý nhẹ nhàng, sâu sắc: cuộc đời cũng như một ly trà, có vị ngọt của hạnh phúc, vị đắng của khổ đau, những can qua và cả phù hoa của kiếp người, nhưng tất cả sẽ trôi đi theo ngày tháng, điều còn lại chính là dư hương của những trải nghiệm và sự thức tỉnh.

Qua đoạn thơ trên, tác giả đã dùng nhiều ẩn dụ, giác quan tinh tế và những hình ảnh đời thường để gợi nên sự chiêm nghiệm về cái vô thường, về nhân sinh và sự an nhiên. Ngôn ngữ cũng rất sinh động và được sử dụng đắc địa như “ngụm mùa”, “nhấp”, “khẽ”, “rót từng giọt nhỏ”… Giọng thơ trầm lắng, giàu chất thiền và đậm chất đời.

Nhìn chung, thơ Kim Loan khá đa dạng, phong phú về cả nội dung và hình thức. Đọc thơ chị, ta cảm nhận được những rung động sâu sắc của một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm, được thể hiện bằng các thủ pháp nghệ thuật khá điêu luyện, kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố truyền thống và đổi mới, sáng tạo. Điều đáng quý ở thơ Kim Loan là thơ chị giàu chất thơ, mang đậm nữ tính cùng cốt cách Việt Nam, Nam bộ, và chị đã hình thành được một phong cách sáng tác riêng, ổn định.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm