TIN TỨC

Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-08-06 00:32:04
mail facebook google pos stwis
822 lượt xem

NGUYỄN QUẾ

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.

 

Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan

 

Thơ Kim Loan chứa đựng những nỗi niềm, rung cảm sâu sắc. Nữ nhà thơ say đắm tình yêu, nhận về mình nhiều niềm vui và không ít nỗi buồn. Thơ chị cũng là tiếng vọng từ trái tim mẫn cảm với những rung động sâu lắng về đấng sinh thành, quê hương và cuộc sống.

Cũng như nhiều nhà thơ nữ khác, Kim Loan dành không ít cảm xúc của thời trẻ cho tình yêu. Với chị, tình yêu trong đợi chờ thật đẹp đẽ và lãng mạn. Những ngày tháng  xa cách, hình bóng người thương hình như luôn hiện hữu trong lòng nữ nhà thơ. Trước cảnh vật và thanh âm quen thuộc gắn với những kỷ niệm đẹp đẽ, thân thương, lòng chị trào dâng nỗi nhớ da diết, bồi hồi:

“Phía bên kia ô cửa

Chùm hoa ướt đầm đung đưa theo giai điệu thân quen

Khúc mưa nhớ một người đi vắng

Lời yêu xưa xa xanh…”

(Phía bên kia ô cửa)

Nữ nhà thơ sử dụng các biện pháp nhân cách hoá và ẩn dụ một cách khéo léo. Hình ảnh “Chùm hoa ướt đầm” trong mưa tạo cảm giác hơi buồn, lạnh lẽo và cô đơn nhưng cũng rất lãng mạn, bởi nó đang “đung đưa” theo giai điệu của tình yêu. Cảnh huống ấy khắc hoạ một cách thanh thoát mà sâu sắc tâm trạng thiếu nữ nhớ người đi xa. Các cụm từ “đầm đung đưa”, “xưa xa xanh” tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa chất thơ với âm nhạc, điện ảnh và hội hoạ, đồng thời làm cho ký ức hiện về vừa gần gũi, vừa mơ hồ.

Hình như trong tình yêu, Kim Loan thường khắc khoái với những hoài niệm. Nhớ về những ngày tháng tươi đẹp đã xa, nữ nhà thơ không khỏi bâng khuâng trước miền ký ức ngọt ngào:

“Hoa mùa cũ, nồng nàn vương kỷ niệm

Níu chiêm bao về trên dấu môi cười

Vầng trăng chín thơm ngọc ngà trinh nữ

Tigon hồng tình e ấp vẹn nguyên”

(Mùa Tigon cũ)

Qua những câu thơ trên đây, tác giả đã khắc hoạ một không gian vừa thực, vừa mộng.  Trong thế giới ấy, thiên nhiên ngập tràn hương sắc, mọi cảnh vật đều thấm đẫm sắc thái của tình yêu và ký ức. Ở đó, hình ảnh “trinh nữ” - nhân vật trung tâm của câu chuyện tình yêu - cũng hiện lên với vẻ đẹp trong sáng, thanh cao. Tác giả đã sử dụng một loạt thủ pháp nghệ thuật khá điêu luyện như xây dựng hệ thống biểu tượng (hoa mùa cũ, trăng, trinh nữ, mùa tigon), kết hợp nhiều giác quan (thị giác, khứu giác) và chuyển đổi cảm giác một cách uyên chuyển, tinh tế. Ngôn ngữ, hình ảnh trong khổ thơ được chọn lọc kỹ. Những từ láy và động từ gợi cảm như “nồng nàn”, “ngọc ngà”, “e ấp”, “vương”, “níu” có tác dụng làm cho giọng thơ giàu nhạc điệu, mềm mại và uyển chuyển. Cái “dấu môi cười” vừa gần gũi, thân thương, vừa mơ hồ, tạo cảm giác xao xuyến, bâng khuâng. Câu thơ “Vầng trăng chín thơm ngọc ngà trinh nữ” khá xuất thần. “Vầng trăng chín thơm” là một biểu tượng mới mẻ và thơ mộng. Vầng trăng ấy gắn với hình ảnh “ngọc ngà trinh nữ” tạo nên một vẻ đẹp viên mãn, tinh khôi, Đọc những câu thơ trên, ta không chỉ rung cảm trước cảnh trí thiên nhiên mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi của tuổi trẻ và tình yêu cùng sự trở về của ký ức yêu thương. Thiên nhiên và con người ở đây như hoà quyện với nhau, gợi lên một nỗi nhớ tràn đầy, dịu dàng, sâu lắng.

Kim Loan cũng tạo đước dấu ấn khi viết về tình mẹ. Chị thể hiện tình cảm dạt dào mỗi khi viết về nỗi nhớ mẹ. Hình ảnh mẹ hiện lên trong thơ chị thật gần gũi, thân thương:.

“Con ngồi nhớ mẹ, lưng tròng

Ngày xưa, bậu cửa, mẹ mong con về

Thương người tất tả nón mê

Đồng xa gánh lúa đường đê nắng vàng?

Nghĩ về mẹ, lòng tác giả ngân lên câu thơ đầy tự hào:

“Cuộc đời dẫu mấy gian truân

Vầng trăng mẹ rọi trong ngần đời con”

(Vầng trăng mẹ)

Trong thơ ca Việt Nam, mẹ là một đề tài rất quen thuộc. Tuy nhiên, Kim Loan không quá sa đà vào những lối cũ sáo mòn mà có cách tiếp cận riêng và tạo được dấu ấn. Chị cảm nhận thật rõ hình bóng thân thương, tình cảm bao la và những phẩm chất cao quý của mẹ từ những kỷ vật người để lại, dẫu thời gian cứ vô tình lôi cuốn ngày tháng trôi đi:

“Mười mấy năm

Chiếc khăn rằn của nẹ vẫn theo cha như bóng hình

 

Chiếc khăn gói nghĩa tình của mẹ

Làm dịu cơn sốt đầu hè, ủ ấm những heo may

Con vẫn thường mơ mẹ gieo hạt trên luống cha cày

Khăn rằn thấm bao giọt mồ hôi, mằn mặn chén cơm cá kho với muối

Cha gối đầu lên mùi hương của mẹ

Giấc ngủ trưa giữa đồng có gió mát từ vành khăn”

(Chiếc khăn rằn của mẹ)

Chỉ qua một kỷ vật nhỏ, tác giả nói được rất nhiều điều: nỗi nhớ mẹ, tình cảm gia đình, nghĩa tình sâu nặng của cha mẹ và những giá trị tinh thần to lớn mẹ để lại cho những người thân. Khắc hoạ nỗi đau lớn nhất của đời mình - nỗi đau mất mẹ - Kim Loan viết nên những vần thơ bình dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc:

“Mẹ đi về phía non ngàn

Cỏ xanh xanh chỗ mẹ nằm đơn côi”

Với chị, mẹ ra đi không phải là mất tất cả, đó còn là hành trình gieo mầm cho sự sống mới. Hình ảnh “mẹ nằm đơn côi” “phía non ngàn” thể hiện nỗi mất mát đau thương to lớn, đồng thời “Cỏ xanh xanh chỗ mẹ nằm” hiện lên như một sự hoá thân để từ đó, hình ảnh mẹ vẫn còn mãi trong lòng chị và giữa đất trời. Từ đau thương, chị trở về, đón nhận và tự hào trước điều quý giá nhất mẹ để lại:

Con về mưa nắng giữa đời

Gia tài gói gọn những lời mẹ ru”

(Phía  mẹ)

Người Việt Nam vốn duy tình. Trong lời ru của mẹ có tình cảm gia đình, bè bạn,  quê hương, có lời răn về đạo lý làm người, có hồn thiêng sông núi của cha ông… Đó là những giá trị bất biến, cao quý hơn mọi của cái vật chất trên thế gian này. Với câu thơ trên, Kim Loan đã thể hiện sự thấu cảm triết lý nhân sinh của cha ông và chạm đến được miền sâu thẳm trong lòng người đọc.

Tình yêu quê hương, cuộc sống trong thơ Kim Loan được khắc hoạ rõ nét và mang một phong cách riêng. Đưa con đến giảng đường đại học trong một chiều mưa ở thành phố, lòng chị trào dâng niềm xúc động, vui sướng, tự hào về dải đất vốn rất sôi động nhưng cũng thật hiền hoà, nghĩa tình và bao dung:

 “Cay cay mí mắt

Ai bảo Sài Gòn đất chật?

Khi đường tương lai rộng mở vô cùng

Cho mẹ cho cha và giờ cả cho con

Chắp cánh ước mơ nối dài bao thế hệ”

(Sài Gòn & mưa giảng đường)

Về với làng gốm nổi tiếng trên chính quê hương mình, giữa niềm vui trước những thành quả nơi đây đã đạt được, chị như nghe từ lòng đất tiếng nói của tiền nhân vọng về. Trong lòng nhà thơ, hào khí xưa của cha ông và niềm vui của cuộc sống hôm hôm nay như hoà quyện với nhau:

“Về thăm làng gốm yêu thương

Mà nghe tiếng đất quê hương thì thầm

Ẩn trong trầm tích ngàn năm

Một hôm đất nở thành trăm nụ cười”

(Tình gốm Phương Nam)

Nhưng có lẽ điều đáng quý nhất trong thơ Kim Loan về đề tài quê hương, đất nước là tình cảm chị dành cho vùng quê nghèo, xa xôi, hẻo lánh. Tự đáy lòng mình, Kim Loan viết nên những câu thơ buồn man mác:

“Thời gian đã lạc con đò

Bến quê còm cõi câu hò mênh mang”

Đó là nỗi xót xa của tác giả trước dòng chảy của thời gian. Con đò, hình ảnh thân thuộc của quê hương đã “lạc” về đâu, không còn nữa! Bến quê cũng trở nên “còm cõi”. May sao, câu hò năm xưa còn vang vọng mãi trong ký ức, và đi qua nỗi buồn,  niềm vui cuộc sống đã hiện về. Đó là chứng tích “Rễ si bám chặt cổng làng” từ quá khứ xa xưa vẫn còn đấy, cùng với biểu tượng tươi đẹp của cuộc sống hôm nay đã và đang hiện diện ở làng quê, báo hiệu mùa màng sẽ bội thu, quê hương đang căng đầy nhựa sống:

“Cau non đã trổ đầy quài

Hương thơm thơm đến tận ngoài ngõ tre”

(Nợ quê)

Cây cau và “ngõ tre” vốn rất quen thuộc, mang tính đặc trưng, đã khắc hoạ rõ nét hình ảnh của làng quê. Từ láy “thơm thơm” vừa diễn tả được sự dịu dàng, tinh khiết và sức lan toả của hương hoa cau, vừa làm cho câu thơ có nhạc điệu, mượt mà, duyên dáng. Đó là những điều chúng ta cảm nhận rất rõ về sự nhạy cảm, tinh tế của tác giả chỉ qua hai câu lục bát.

Với sự quan sát tinh tế, Kim Loan đã nhận thức sâu sắc quy luật vần xoay của sự vật và sức mạnh diệu kỳ của sự sống, từ đó, chị liên hệ với thân phận con người:

“Sen của tôi

Tưởng đã chết vào mùa đông năm ngoái…

Rồi mùa xuân muôn hoa nở rợp trời

Không ai nhớ củ sen già ở đó

Nó đã bị lãng quên dưới lớp bùn

Như bao nhiêu người đã bị lãng quên

dưới lớp trầm tích thời gian

Những ngày dài và bao đêm sâu

Nơi tăm tối sen tự mình khâu vá

Vết thương liền da

Mầm mọc ra từ bùn đất…”

(Hồi sinh)

Đó là bài thơ mới của nhà thơ Kim Loan vừa được công bố trên Tạp chí Sông Hương. Đọc tác phẩm của chị, ta chợt nhớ hai câu thơ nổi tíếng của Mãn Giác Thiền sư:

“Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười”…

Thơ trữ tình của Kim Loan thường là sự trở về của ký ức. Ngay cả khi nói về chuyện của ngày hôm nay, nhiều lúc chị cũng đặt nó trong mối liên hệ với quá khứ. Vì vậy, câu thơ thường gợi về một khoảng không gian, thời gian mơ hồ, xa vắng cùng nỗi suy tư. Tâm thế ấy đưa chị đến gần thế giới thơ thiền. Gần vì chúng đều có yếu tố chiêm nghiệm về thời  gian, ký ức. Gần vì chủ thể dường như có nhu cầu dừng lại, tĩnh tâm và nhìn sâu hơn vào bản chất của sự sống. Có lẽ từ góc độ ấy, Kim Loan đến với thơ thiền một cách tự nhiên và chị rất có duyên với mảng thơ này. Hãy nghe Kim Loan dẫn người đọc đi từ cảnh thiền đến tâm thiền:

“Tàn trăng ướt đẫm phật đài

Thiền hoa soi bóng canh dài vô biên

Chén trà ôn chuyện tiền duyên

Trăm năm tựa cánh hoa huyền hoặc rơi”

(Thiền hoa)

Qua chén trà và câu chuyện tiền duyên, tác giả gợi nhắc rằng, mọi cuộc gặp gỡ đều là nhân duyên, còn đời người trăm năm cũng như một cánh hoa trôi giữa dòng vô thường. Tuy nhiên, khi thấu hiểu điều đó, con người có thể buông bỏ chấp niệm và sống thanh thản trong hiện tại.

Để biểu đạt nội dung cần nói, tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ và nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng như trăng, phật đài, thiền hoa, chén trà, cánh hoa. Nhịp thơ chậm, lắng đọng, phù hợp với thiền. Cảnh vật và triết lý nhân sinh như hoà quyện với nhau. Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, có sức gợi cảm, gần gũi với đời thường và gợi mở.

Ở một bối cảnh khác, tác giả đã lấy chén trà làm biểu tượng để chiêm nghiệm về thời gian và kiếp người:

“Nhấp trên môi một ngụm muà

Tiếng thời gian khẽ như vừa đi qua

Ngọt ngào đắng chát, can qua

Rót từng giọt nhỏ phù hoa xuống đời

 

Tách trà rót giữa chơi vơi

Hương còn đọng lại trên môi tháng ngày

(Tịch trà)

Trước sự vô tình của thời gian và cái “chơi vơi” của kiếp người, chén trà ở đây trở thành nơi neo giữ tâm thức, giúp con người tìm thấy sự bình yên. Đoạn thơ chứa đựng một triết lý nhẹ nhàng, sâu sắc: cuộc đời cũng như một ly trà, có vị ngọt của hạnh phúc, vị đắng của khổ đau, những can qua và cả phù hoa của kiếp người, nhưng tất cả sẽ trôi đi theo ngày tháng, điều còn lại chính là dư hương của những trải nghiệm và sự thức tỉnh.

Qua đoạn thơ trên, tác giả đã dùng nhiều ẩn dụ, giác quan tinh tế và những hình ảnh đời thường để gợi nên sự chiêm nghiệm về cái vô thường, về nhân sinh và sự an nhiên. Ngôn ngữ cũng rất sinh động và được sử dụng đắc địa như “ngụm mùa”, “nhấp”, “khẽ”, “rót từng giọt nhỏ”… Giọng thơ trầm lắng, giàu chất thiền và đậm chất đời.

Nhìn chung, thơ Kim Loan khá đa dạng, phong phú về cả nội dung và hình thức. Đọc thơ chị, ta cảm nhận được những rung động sâu sắc của một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm, được thể hiện bằng các thủ pháp nghệ thuật khá điêu luyện, kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố truyền thống và đổi mới, sáng tạo. Điều đáng quý ở thơ Kim Loan là thơ chị giàu chất thơ, mang đậm nữ tính cùng cốt cách Việt Nam, Nam bộ, và chị đã hình thành được một phong cách sáng tác riêng, ổn định.

N.Q

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm