- Thơ
- Giới thiệu thơ Nastassia Nareika
Giới thiệu thơ Nastassia Nareika
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Thơ của Nastassia Nareika, nữ thi sĩ vùng Brest (Cộng hòa Belarus), song hành giữa những địa danh của Belarus và cõi nội tâm. Lịch sử trong thơ chị sống động qua tiếng vó ngựa, ánh gươm và những tường thành cổ. Mùa thu trong thơ chị là mùa vọng về từ quá khứ, mùa của những vết thương chưa lành, của dòng máu lịch sử vẫn rung lên trong huyết quản người đương thời. Song hành với cảm thức ấy là một trái tim yêu thương mãnh liệt, đi qua mọi thử thách.

Nhà thơ Nastassia Nareika
Chị sinh ngày 28/10/1986 tại Maladzechna, tốt nghiệp Viện Báo chí thuộc Đại học Quốc gia Belarus năm 2009. Hiện chị công tác tại báo “Naviny Kamyanyetchyny”. Nastassia sáng tác thơ từ năm 10 tuổi và chỉ viết bằng tiếng Belarus; là tác giả tập thơ “Quyền Magdeburg nơi tâm khảm” (2013), từng được đăng trên các tạp chí văn học uy tín của Belarus. Năm 2017, chị nhận Giải thưởng Văn học Brest mang tên nhà văn Uladzimir Kalesnik.
Nastassia Nareika góp một tiếng nói riêng, khắc khoải và kiên cường, vào dòng chảy chung của thế hệ nhà thơ trẻ Belarus đương đại, những người đang viết tiếp lịch sử dân tộc bằng chính ngôn ngữ và số phận của mình.
(Mai Văn Phấn dịch từ tiếng Nga và giới thiệu)
☆☆☆
Đêm nay những vì sao
Như hàng trăm năm trước,
Ngôi sao của Ragneda[1],
Ngôi sao của Jadwiga[2],
Và sao của Barbara[3].
Những vì sao cháy mãi,
Không hề biết tại sao.
Những vì sao tồn tại,
Chừng nào trong tâm hồn
Còn bùng lên ngọn lửa.
Lửa tình yêu rực rỡ,
Lửa cảm hứng dâng tràn,
Cùng nỗi đau âm ỉ.
Cháy mãi chẳng lụi tàn,
Một tâm hồn sáng tỏ.
Tôi cũng chẳng mờ phai,
Xin nguyện sống trọn đời
Của thiên mệnh phụ nữ.
Phụ nữ và thời gian.
Phụ nữ và số phận.
Thắp sáng mọi khoảng trời...
Ngôi sao soi lối đi,
Ngôi sao xa thăm thẳm.
Muôn đời sao vẫn cài
Lên mái tóc thiếu nữ.
Ragneda, Jadwiga, Barbara…
Những người thân, người xa.
Cách mọi người một bước
Bao trăn trở xuôi ngược
Là khao khát khôn nguôi.
Sẽ viết dưới sao trời,
Ngôi sao của phụ nữ.
Hồn tôi chẳng giam cầm
Lời ca và ý nghĩ.
Mặc vầng trăng cứ trôi,
Sáng trong hay buốt giá,
Sao sáng lên vội vã,
Tựa thế kỷ đi qua.
Mùa thu trở lại
1.
Turov[4] gọi tôi giữa đêm đông lạnh giá,
Gọi tôi, Halshany[5], Mir[6], Grodno[7], Nesvizh[8],
Cùng Navahrudak[9], Polotsk[10] gọi – tôi cứ đi,
Khi lòng tê dại nơi ngả đường hình Thánh Giá.
Giọng ai gọi tôi – tôi bừng tỉnh, hãi hùng,
Không lãng quên, chẳng thể nào quên được.
Chiếc lá phong bé nhỏ, đỏ như màu đồng,
Áp bàn tay mềm, thay tôi canh đêm mất ngủ.
2.
Mùa thu đã về. Đêm thu tôi thức trắng,
Mùa thu lần theo những mộ phần và dấu chân xưa,
Mùa thu cúi mình trước bức tường, từng trang sách cũ,
Mùa thu lang thang giữa những thành phố cổ.
Mùa thu rũ sạch bụi mờ, đánh thức giấc mơ lịch sử,
Mùa thu, trận chiến ngàn năm lại tái diễn một lần,
Mùa thu, tôi ngước nhìn sao đến hoa mắt, phân vân,
Mùa thu, dòng máu tiền nhân cuộn sôi trong huyết quản.
Có lẽ vì thế họ chỉ gọi tôi vào mùa thu,
Có lẽ vì thế những vết thương lại mở.
Chiếc lá phong màu đồng vừa thay sắc xanh lam.
Chẳng còn lòng xót thương. Chẳng cần đâu, Halshany.
☆☆☆
Người là duy nhất, được Chúa sinh ra,
Người là cội rễ, chẳng phải đâu xa.
Người là vĩnh hằng, ngàn đời ghi tạc,
Người không thể chối từ, chẳng gì khuất phục.
Người – sự sống của tôi, tuyết trắng muôn đời,
Người – mùa gặt chín vàng, thanh gươm sáng ngời.
Người – cánh buồm nâu, cối xay gió cũ,
Người – mảnh gương trời, tường thành phố cổ.
Người – cánh đồng xa, bước chân bò rừng,
Người – tiếp nối sự sống, bài học vô cùng.
Người là vô tận, là đêm mất ngủ,
Người bị săn đuổi. Người là tù nhân.
Người gai góc trong tôi – tay không tấc sắt,
Người đau đớn trong tôi – vết thương chẳng dứt.
Người là duy nhất, giữa bầy sói hoang,
Người là thẳm sâu... Người là quê hương.
☆☆☆
Khi ở Navahrudak
Mưa rơi,
Bức tường ấm áp
Dần nguội lạnh,
Tôi bước qua thời gian,
Như đi trên mặt nước,
Tôi biết,
Không còn lối thoát.
Khi ở Maladzechna[11]
Bão tuyết cuộn về,
Tuyết đổ không ngơi,
Tôi nghe tiếng ai gọi:
“Ngươi ở đâu?”,
Và cuộc sống
Bỗng không thể chịu nổi.
Khi gần Brest[12]
Gió lốc xoay vòng,
Mà chẳng thể
Lọt vào bên trong,
Tôi ngủ như chết,
Ở đó, như sâu hút,
Những giấc mơ
Bất tận hiện về.
Khi ở Maladzechna
Thượng Đế mỉm cười
Trên cao vời vợi
Bầu trời sáng trong,
Tôi lao về phía Người
Bằng tất cả sức mình,
Thành phố của tôi
Trên những vì sao và số phận!
☆☆☆
Họ bảo: “Đi đi!
Suy nghĩ để sau”.
Còn em bên vệ đường,
Đứng lặng như cây bạch dương.
Còn em nhìn anh
Rụt rè, từ thăm thẳm,
Còn em cứ nhìn
Để anh bước đi lặng lẽ.
Họ giục: “Nhanh lên!
Đừng đứng đó – chạy theo…”
Còn em như bén rễ vào đất
Dõi theo, và cứ nhìn.
Anh bước đi thật nhanh,
Rẽ khuất sau những cây Thánh Giá[13]
Tha lỗi cho em, nhưng em
Chưa bao giờ bật khóc.
Họ cứ nói... Mặc họ
Trôi qua bên em,
Trôi như đám mây xám,
Lặng lẽ phủ kín bầu trời.
Nỗi đau khiêm nhường của em
Đã ẩn sâu tận đáy
Tâm hồn. Nó chẳng muốn âu sầu.
Kiêu hãnh đến khổ đau!
Họ cứ nói. Nhưng nào biết,
Rằng hồn ta
Từ lâu lạc lối
Mỗi người một ngả.
Ngày xưa em đón anh
Từ cuộc chiến đáng nguyền rủa trở về,
Giờ đây, cho tình yêu của kẻ khác,
Em buông tay để anh đi.
☆☆☆
Tôi vẫn có con đường riêng mình,
Có và còn. Một con đường duy nhất –
Về Chúa, về Mẹ, về Thơ, về Quê Hương –
Qua đầm lầy, đường ray, sỏi đá vấn vương.
Lặng lẽ bước đi trên con đường thẳm,
Tôi mang theo trọn vẹn mảnh hồn tôi.
Tự nghiêm khắc nếu chính mình xét xử,
Chẳng cần đâu sự phán xét người đời.
Chỉ trước tòa Chúa, tôi mới chịu vâng lời,
Sợ uy Ngài hơn sợ chính tâm hồn trong tôi.
Bắt hồn mình thay đổi qua từng giây từng phút,
Mỗi bước đi lỗi lầm, đều tại chính tôi thôi.
Có những lúc tôi rơi vào sợ hãi,
Sợ linh hồn mình biến mất đâu rồi,
Về thiên đường tràn đầy nắng ấm,
Để thân xác tôi ngơ ngác trên đời.
Hỡi linh hồn bé nhỏ, đáng thương ơi –
Giá chuộc trái tim, thân xác và tâm trí.
Nếu phải xét xử tôi – xin cứ xét xử,
Cho linh hồn tôi sớm được bình yên.
☆☆☆
Khu vườn sạm gió của tôi.
Khu vườn lạnh cóng, đẫm lệ!
Bằng cành cây đau đớn, trơ trụi
Người khẽ chạm vào trái tim tôi…
Người thức trắng suốt đêm.
Linh cảm trận tuyết sắp đổ,
Rồi Người chờ đợi tuyết rơi,
Đón từng giọt ân sủng từ trời.
Rồi màu trắng sẽ đổ ập xuống
Trên Người, người thân yêu, và trên tôi.
Vào một cành cây mảnh mai yếu ớt,
Rồi sẽ có ngày một đám mây mắc lại…
Tuyết rơi như tấm ga giường mỏng
Phủ lên tấm lưng tật nguyền của Người.
Cảnh giam cầm trắng xóa đất này –
Vừa hạnh phúc, giấc mơ và hy vọng.
Khu vườn sạm gió của tôi!
Chính tôi là mảnh vỡ, hạt bụi thức dậy
Tôi là mảnh rời của tâm hồn, trang giấy,
Của khát khao, của những vần thơ.
Tôi gom góp, tôi thu nhặt mãi,
Nhưng chúng vẫn rơi xuống dưới chân tôi,
Như chiếc lá mùa thu. Người có nhớ?
Chiếc lá đầu tiên và cuối của Người.
Không cưỡng được, nó cứ nặng thêm –
Trên đôi vai mùa đông, tấm lụa.
Người không còn tin nữa,
Rằng mùa xuân kì diệu sẽ về.
Tôi đã hiểu, hiểu Người lắm chứ.
Tôi đang vượt qua nỗi sợ như thế.
Tôi gọi mùa xuân. Chỉ có lặng im...
Nó chưa quên ngày xưa hờn giận.
Đưa tay đây, khu vườn kiệt sức!
Khu vườn sạm gió của tôi…
Tôi sẽ không rời bỏ Người,
Vì ta mãi mãi gắn vào nhau, đau đớn.
Tôi sẽ chữa lành vết thương Người,
Không kém gì trận tuyết rơi năm cũ.
Người sẽ chữa lành vết thương tôi chứ?
Vậy thì tuyệt quá, vườn ơi –
Thế là trọn ân tình rồi.
☆☆☆
Anh biết gì về biển, hỡi anh yêu?
Chính em vẫn còn đang tìm kiếm.
Em gục xuống, đang dần cạn kiệt,
Chẳng gọi hải âu từ trên ban công.
Hải âu ở đâu?! Đây là thành phố.
Chỉ có nước khi trời đổ mưa rào.
Ở đây đôi khi giá lạnh ngự trị,
Tựa biển sâu. Anh hạnh phúc không?
Nếu không, thôi đành chia đôi ngả.
Em là thi sĩ. Và đã từng như thế.
Phố xá, bầu trời như mái nhà xám xịt,
Mặt đất chỉ là vỉa hè phủ đầy lá rơi.
Sao xa lạ quá với em. Troy[14]? Troy!
Nơi ấy là tai họa, cũng là điểm tựa.
Biển ư? Biển chính là mơ ước cũ...
Ta biết gì về biển, hỡi anh yêu?
Nastassia Nareika
---
Ghi chú
[1] Ragneda (thế kỷ X): Công nữ xứ Polatsk, biểu tượng cho khát vọng độc lập và tự chủ của vùng đất Belarus thời sơ khai. (ND)
[2] Yadviga (thế kỷ XIV): Nữ vương Ba Lan kiêm Công nữ Đại công quốc Litva, người đóng vai trò lịch sử quan trọng trong việc gắn kết văn hóa và chính trị vùng Đông - Trung Âu. (ND)
[3] Barbara Radziwiłł (thế kỷ XVI): Vương hậu Ba Lan và Đại Công nương Litva, nổi tiếng với vẻ đẹp đài các, tình yêu bi tráng cùng huyền thoại bất tử trong văn học dân gian Belarus. (ND)
[4] Turov – thành phố cổ, một trong những trung tâm quyền lực và tôn giáo sớm nhất của người Đông Slav (thế kỷ 10–12). (ND)
[5] Halshany – thị trấn nhỏ nổi tiếng với lâu đài cổ đổ nát, gắn liền với dòng họ quý tộc Halshanski. (ND)
[6] Mir – nổi tiếng với lâu đài Mir, di sản UNESCO, biểu tượng kiến trúc Gothic–Phục Hưng. (ND)
[7] Grodno – thành phố cổ vùng biên giới phía tây, từng là kinh đô thứ hai của Đại Công quốc Litva. (ND)
[8] Nesvizh – nổi tiếng với lâu đài Nesvizh của dòng họ Radziwiłł, di sản UNESCO. (ND)
[9] Navahrudak – kinh đô đầu tiên của Đại Công quốc Litva (thế kỷ 13). (ND)
[10] Polotsk – thành phố cổ nhất được ghi chép của Belarus, trung tâm Công quốc Polotsk thời trung cổ. (ND)
[11] Maladzechna – thành phố ở vùng Minsk, Belarus, nằm bên bờ sông Uša. (ND)
[12] Brest – thành phố biên giới phía tây Belarus, giáp Ba Lan, nổi tiếng với Pháo đài Brest – biểu tượng lịch sử về cuộc kháng chiến trong Thế chiến II. (ND)
[13] Ở đầu và cuối mỗi làng Belarus thường dựng một cây Thánh Giá như biểu tượng che chở và gìn giữ cộng đồng.
[14] Troy – thành cổ trong thần thoại Hy Lạp, nổi tiếng qua cuộc vây hãm mười năm được kể lại trong sử thi Iliad. (ND)