TIN TỨC
  • Tư liệu văn học
  • 30-4 và mệnh lệnh của hòa bình: Xây dựng một Việt Nam hùng cường nhân văn hạnh phúc

30-4 và mệnh lệnh của hòa bình: Xây dựng một Việt Nam hùng cường nhân văn hạnh phúc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-30 11:46:42
mail facebook google pos stwis
28 lượt xem

Ngày 30-4 không chỉ là ngày toàn thắng của một cuộc kháng chiến trường kỳ, mà còn là ngày hòa bình trao cho dân tộc Việt Nam một mệnh lệnh mới: Phải dựng xây đất nước xứng đáng với những hy sinh đã làm nên độc lập, thống nhất. Từ mùa xuân lịch sử 1975 đến kỷ nguyên phát triển mới hôm nay, bài học lớn nhất vẫn là bài học về niềm tin, đại đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên. Hòa bình không phải là điểm dừng của lịch sử, mà là điểm khởi đầu của trách nhiệm: Xây dựng một Việt Nam hùng cường về tiềm lực, nhân văn trong phát triển, hạnh phúc trong đời sống của mỗi người dân.

 

Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm cấp quốc gia 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ảnh tư liệu: TTXVN

 

Từ ngày toàn thắng đến giá trị thiêng liêng của hòa bình

Có những ngày tháng đi qua lịch sử nhưng không bao giờ đi qua ký ức dân tộc. Ngày 30-4 là một ngày như thế. Đó là ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối; là ngày chấm dứt những năm tháng chia cắt, đau thương, bom đạn; là ngày khẳng định trước lịch sử và nhân loại rằng dân tộc Việt Nam có thể trải qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, mất mát, nhưng ý chí độc lập, tự do và thống nhất không bao giờ bị lay chuyển.

Mỗi dịp 30-4, chúng ta lại nhìn thấy rõ hơn cái giá vô cùng lớn lao của hòa bình. Hòa bình hôm nay không phải là điều tự nhiên mà có. Đó là kết tinh của máu xương hàng triệu người con ưu tú của dân tộc; là nước mắt của những bà mẹ tiễn con ra trận không hẹn ngày về; là tuổi xuân của biết bao thế hệ đã đặt Tổ quốc lên trên mọi ước mơ riêng; là bản lĩnh của một dân tộc dám đứng lên vì quyền được sống trong độc lập, tự do, thống nhất và phẩm giá.

Trong bài viết “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định thời khắc lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975 là sự kiện trọng đại, “không chỉ là chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, mà còn là “biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí độc lập, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Câu nói ấy giúp chúng ta nhìn 30-4 không chỉ như một chiến thắng quân sự, mà như một chiến thắng văn hóa, chiến thắng tinh thần, chiến thắng của ý chí Việt Nam. Một dân tộc chỉ có thể đi qua chiến tranh khốc liệt để đến ngày thống nhất khi trong lòng dân tộc ấy có một nền tảng văn hóa sâu bền: Văn hóa yêu nước, văn hóa đoàn kết, văn hóa nhân nghĩa, văn hóa biết hy sinh vì cái chung, biết đặt vận mệnh Tổ quốc lên trên lợi ích riêng.

Vì thế, 30-4 không chỉ gọi chúng ta trở về với ký ức hào hùng, mà còn buộc chúng ta phải tự hỏi: Chúng ta đang sống thế nào cho xứng đáng với hòa bình? Chúng ta đang làm gì để nền độc lập, thống nhất ấy không chỉ là một thành quả lịch sử, mà tiếp tục trở thành động lực phát triển? Chúng ta đã biến lòng biết ơn thành hành động, biến tự hào thành trách nhiệm, biến hòa bình thành chất lượng sống tốt đẹp hơn cho nhân dân hay chưa?

Hòa bình, nếu chỉ được hiểu là không còn tiếng súng, là chưa đủ. Hòa bình phải là môi trường để con người được phát triển toàn diện; để trẻ em được đến trường trong an toàn; để người lao động có việc làm ổn định; để người nghèo, người yếu thế không bị bỏ lại phía sau; để mỗi vùng đất đều có cơ hội phát triển; để mỗi cộng đồng được sống trong văn hóa, kỷ cương, tình nghĩa và niềm tin. Hòa bình chỉ thật sự trọn vẹn khi nó sinh ra hạnh phúc, khi độc lập gắn với ấm no, khi thống nhất gắn với đồng thuận, khi phát triển gắn với nhân văn.

Đó chính là mệnh lệnh của hòa bình hôm nay.

 

Mệnh lệnh của hòa bình là phát triển đất nước hùng cường

Nếu trong chiến tranh, mệnh lệnh thiêng liêng nhất là giành độc lập, thống nhất đất nước, thì trong hòa bình, mệnh lệnh lớn nhất là xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Không thể tri ân lịch sử bằng sự bằng lòng. Không thể tưởng nhớ những người đã ngã xuống bằng tâm thế trì trệ. Không thể nói yêu nước mà thiếu khát vọng đưa đất nước vươn lên.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh trong bài viết dịp 30-4-2025: “Đó là chiến thắng của niềm tin, của ước nguyện độc lập, tự do và thống nhất đất nước; chiến thắng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam; chiến thắng của chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"”. Niềm tin ấy, đại đoàn kết ấy, chân lý ấy hôm nay phải được chuyển hóa thành sức mạnh phát triển mới: Sức mạnh của thể chế hiện đại, của khoa học công nghệ, của đổi mới sáng tạo, của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, của năng lực hội nhập, của văn hóa và con người Việt Nam.

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khó lường, một quốc gia muốn đứng vững không thể chỉ dựa vào ký ức vinh quang. Lịch sử là điểm tựa, nhưng tương lai phải được kiến tạo bằng tầm nhìn, trí tuệ, kỷ luật, khát vọng và hành động. Mệnh lệnh của hòa bình hôm nay là phải chống tụt hậu, chống lãng phí, chống trì trệ, chống suy giảm niềm tin; là phải khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển; là phải làm cho bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; là phải để mọi chính sách cuối cùng đều hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân.

Từ không gian thiêng liêng của Đền Hùng, trong buổi gặp gỡ, nói chuyện với nhân dân ngày 26-4-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc lại lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”, đồng thời khẳng định: “Dựng nước là công lao của tổ tiên. Giữ nước và phát triển đất nước là trách nhiệm của các thế hệ hôm nay và mai sau”. Đây là một thông điệp rất sâu sắc khi đặt cạnh ngày 30-4. Bởi nếu các thế hệ đi trước đã giữ nước bằng máu xương, thì thế hệ hôm nay phải giữ nước bằng phát triển; giữ nước bằng năng lực tự cường; giữ nước bằng sự vững mạnh của kinh tế, sự lành mạnh của văn hóa, sự trong sạch của bộ máy, sự đồng thuận của nhân dân và vị thế ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế.

Giữ nước trong thời bình không chỉ là bảo vệ biên cương, biển đảo, vùng trời, vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc, dù đó luôn là nhiệm vụ tối thượng. Giữ nước hôm nay còn là giữ rừng, giữ nguồn nước, giữ môi trường sống, giữ văn hóa, giữ đạo lý, giữ niềm tin, giữ sự trong sạch của đội ngũ cán bộ, giữ tinh thần tự lực, tự cường và lòng tự trọng dân tộc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nói rất rõ tại Đền Hùng rằng giữ nước còn là “giữ rừng, giữ nguồn nước, giữ xã hội bình yên, giữ nền nếp gia phong, giữ tiếng nói và phong tục tốt đẹp của mỗi dân tộc, giữ sự trong sạch của đội ngũ cán bộ, giữ niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và tương lai đất nước”.

Đó cũng là cách hiểu toàn diện về một Việt Nam hùng cường. Hùng cường không chỉ là tăng trưởng kinh tế cao. Hùng cường là năng lực tự chủ của quốc gia, là sức mạnh của thể chế, là chất lượng nguồn nhân lực, là bản lĩnh văn hóa, là năng lực sáng tạo, là sức mạnh mềm, là niềm tin xã hội, là sự đồng lòng của nhân dân. Một đất nước có thể giàu hơn nhờ tài nguyên, vốn đầu tư, thị trường, công nghệ; nhưng để thật sự hùng cường, đất nước ấy phải có con người mạnh mẽ, văn hóa sâu bền, thể chế hiệu quả và khát vọng chung đủ lớn để quy tụ mọi nguồn lực.

30-4 nhắc chúng ta rằng dân tộc Việt Nam đã từng làm được những điều tưởng như không thể. Vậy thì hôm nay, trong hòa bình, không có lý do gì để chúng ta tự giới hạn khát vọng của mình. Một dân tộc đã từng chiến thắng bằng ý chí thống nhất, bằng lòng yêu nước, bằng đại đoàn kết, hoàn toàn có thể vươn lên bằng trí tuệ, đổi mới sáng tạo, kỷ cương và văn hóa. Điều quan trọng là phải biến niềm tự hào thành động lực hành động, biến các quyết sách lớn thành chuyển động thực chất, biến khát vọng quốc gia thành sự đổi thay cụ thể trong đời sống nhân dân.

 

Xây dựng một Việt Nam nhân văn, hạnh phúc từ nền tảng văn hóa và con người

Hòa bình chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi hòa bình ấy làm nảy nở những giá trị nhân văn. Phát triển chỉ bền vững khi phát triển ấy hướng tới con người. Hùng cường chỉ thật sự có chiều sâu khi đi cùng hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, từ ngày 30-4 nhìn về tương lai đất nước, chúng ta không thể chỉ nói đến tốc độ tăng trưởng, quy mô nền kinh tế, hạ tầng hiện đại hay vị thế quốc tế, mà phải nói đến chất lượng sống, nhân phẩm, văn hóa, công bằng, lòng nhân ái và cơ hội phát triển của từng con người Việt Nam.

Một Việt Nam nhân văn là một Việt Nam không để ai bị bỏ lại phía sau; một Việt Nam biết chăm lo cho trẻ em, người già, người nghèo, người yếu thế; một Việt Nam tôn trọng sự khác biệt trong tinh thần đoàn kết; một Việt Nam biết hàn gắn quá khứ, hướng tới tương lai; một Việt Nam phát triển nhưng không vô cảm, hiện đại nhưng không đứt gãy cội nguồn, hội nhập nhưng không đánh mất bản sắc.

Trong bài viết nhân dịp 30-4-2025, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Hòa hợp dân tộc không có nghĩa là quên lãng lịch sử hay xóa nhòa sự khác biệt, mà là chấp nhận những góc nhìn khác nhau trong tinh thần bao dung và tôn trọng, để cùng hướng tới mục tiêu lớn hơn: Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, hùng mạnh, văn minh, thịnh vượng”. Đây là một tư tưởng rất quan trọng. Sau chiến tranh, điều cao cả nhất của hòa bình là khả năng hàn gắn. Sau chia cắt, điều lớn lao nhất của thống nhất là khả năng quy tụ. Sau mất mát, điều nhân văn nhất là cùng nhau xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn.

Một Việt Nam hạnh phúc không thể chỉ được đo bằng những chỉ số vĩ mô. Hạnh phúc bắt đầu từ những điều rất cụ thể trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Đó là con đường đến trường của trẻ em thuận tiện hơn; trạm y tế phục vụ người dân tốt hơn; người lao động có việc làm ổn định hơn; bản làng, khu phố sạch đẹp hơn; người nghèo, người yếu thế được quan tâm hơn; cán bộ gần dân, trọng dân, hiểu dân, vì dân hơn. Chính Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra những câu hỏi cụ thể ấy tại Đền Hùng khi nói về phát triển đất nước phải hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân.

Đó là cách tiếp cận phát triển rất nhân văn: Không bắt đầu từ những khẩu hiệu lớn, mà bắt đầu từ đời sống thật của người dân; không chỉ nhìn vào những công trình lớn, mà nhìn vào từng gia đình, từng cộng đồng, từng trẻ em, từng người lao động, từng người yếu thế; không chỉ đặt vấn đề đất nước “giàu mạnh” mà còn đặt vấn đề đất nước “bình an”, “nhân ái”, “hạnh phúc”.

Muốn vậy, văn hóa phải được đặt ở trung tâm của phát triển. Văn hóa không phải phần trang trí sau cùng của đời sống, càng không phải lĩnh vực đứng bên lề kinh tế, chính trị, xã hội. Văn hóa là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh, là hệ điều tiết phát triển, là sức mạnh mềm quốc gia. Văn hóa giúp chúng ta biết phát triển để làm gì, phát triển cho ai, phát triển bằng cách nào và phát triển đến đâu mà vẫn giữ được bản sắc, đạo lý, nhân phẩm và sự bền vững.

Trong kỷ nguyên mới, xây dựng con người Việt Nam trở thành nhiệm vụ trung tâm. Chiến tranh cần những con người dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hy sinh. Hòa bình cần những con người có tri thức, kỹ năng, kỷ luật, lòng nhân ái, tinh thần sáng tạo, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến. Nếu trong chiến tranh, mỗi người ra trận với niềm tin “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, thì trong hòa bình, mỗi người cần bước vào công việc hằng ngày với ý thức làm tốt nhất phần việc của mình cho gia đình, cộng đồng và đất nước.

Tại Đền Hùng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nói một câu rất giản dị mà sâu sắc: “Chúng ta tự hào về lịch sử, nhưng tự hào phải đi cùng hành động. Chúng ta yêu nước, nhưng yêu nước phải thể hiện bằng việc làm mỗi ngày”. Đó chính là thông điệp cần được nhắc lại trong ngày 30-4 hôm nay. Yêu nước không chỉ là cảm xúc dâng trào trong những ngày lễ lớn. Yêu nước là lao động trung thực, học tập nghiêm túc, sáng tạo không ngừng, tuân thủ pháp luật, ứng xử văn minh, bảo vệ môi trường, gìn giữ văn hóa, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.

Ngày 30-4 đã trao cho chúng ta một Tổ quốc thống nhất. Nhưng lịch sử không trao cho bất kỳ thế hệ nào quyền được thỏa mãn với những gì đã có. Mỗi thế hệ đều có một nhiệm vụ của mình. Thế hệ cha anh đã giành lại độc lập, thống nhất bằng máu xương. Thế hệ hôm nay phải làm cho độc lập ấy giàu nội dung hơn bằng phát triển, làm cho thống nhất ấy bền chặt hơn bằng đồng thuận, làm cho hòa bình ấy đẹp đẽ hơn bằng hạnh phúc của nhân dân.

Mệnh lệnh của hòa bình hôm nay là không được lãng phí thời gian, nguồn lực, cơ hội và niềm tin. Mệnh lệnh của hòa bình là không để quá khứ hào hùng chỉ còn là ký ức, mà phải biến quá khứ ấy thành năng lượng phát triển. Mệnh lệnh của hòa bình là xây dựng một Việt Nam hùng cường về tiềm lực, nhân văn trong tâm hồn, hạnh phúc trong đời sống, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

30-4 không chỉ là ngày chúng ta nhớ về chiến thắng. 30-4 là ngày chúng ta tự nhắc mình phải sống xứng đáng với chiến thắng ấy. Tri ân sâu sắc nhất đối với những người đã ngã xuống không chỉ là những vòng hoa, nén hương, lời tưởng niệm, mà là một đất nước ngày càng giàu mạnh hơn, một xã hội ngày càng nhân ái hơn, một nền văn hóa ngày càng tỏa sáng hơn, một cuộc sống ngày càng hạnh phúc hơn cho nhân dân.

Từ ngày toàn thắng đến mệnh lệnh của hòa bình là hành trình liền mạch của bản lĩnh Việt Nam. Hành trình ấy bắt đầu từ khát vọng độc lập, tự do, thống nhất; được nâng đỡ bởi văn hóa yêu nước và đại đoàn kết toàn dân tộc; và hôm nay đang tiếp tục bằng khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, văn minh, nhân ái, hạnh phúc. Đó là lời hứa danh dự của thế hệ hôm nay với cha anh. Đó cũng là con đường để dân tộc Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên mới.

Bùi Hoài Sơn

Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn xuôi đương đại - sự vận động theo hướng dân chủ và nhân bản
Sau năm 1975, đặc biệt từ 1986 với công cuộc đổi mới, văn học nước nhà vận động mạnh mẽ theo một quỹ đạo tinh thần mới.Sau nhiều năm bị ràng buộc bởi hoàn cảnh lịch sử ngặt nghèo của thời chiến, đời sống văn học cởi mở hơn rất nhiều. Trong không khí dân chủ được mở ra từ Đại hội Đảng VI, nhiều vấn đề mới được đặt ra, nhiều tác phẩm văn học cũ trước Cách mạng tháng Tám từng bị phê phán được khôi phục giá trị, đồng thời văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975 cũng được đánh giá lại.
Xem thêm
Hội thảo khoa học “Họ Phùng Việt Nam - Dòng chảy và hội tụ” tại Đà Nẵng
Ngày 5/4/2026, tại thành phố Đà Nẵng, Hội đồng Họ Phùng Việt Nam phối hợp cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng sẽ tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Họ Phùng Việt Nam - Dòng chảy và hội tụ”.
Xem thêm
Ra mắt tập 4 thuộc Tổng tập Văn học dân gian Nam Bộ
Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh vừa ra mắt tập 4 của Tổng tập Văn học dân gian Nam Bộ của 2 tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương. Tập 4 mang chủ đề Tuồng tích sân khấu và diễn xướng dân gian Nam Bộ.
Xem thêm
Đại thi hào Nguyễn Du và những dấu hỏi trong “mười năm gió bụi”
Nếu chỉ làm một thống kê số học thì hành trình trong cả cuộc đời của Đại thi hào Nguyễn Du chỉ cần ghi lại bằng vài ba nét gạch đầu dòng kiểu lý lịch trích ngang như ta hay dùng theo công nghệ số ngày nay. Vấn đề là qua cuộc hành trình tưởng như đơn giản ấy, ta rút ra được nhận xét gì, hiểu được gì về con người nổi tiếng này?
Xem thêm
Sự đổi mới tư duy lý luận văn hóa của Đảng từ năm 1986 đến nay
​Tóm tắt: Trải qua 40 năm Đổi mới, tư duy lý luận văn hóa của Đảng ta từ năm 1986 đến nay đã phát triển mạnh mẽ, liên tục có sự đổi mới về nhận thức: từ nhìn nhận văn hóa là lĩnh vực tư tưởng đến xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đảng ta đã đưa ra quan điểm, đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tập trung xây dựng hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học gắn với hệ giá trị gia đình Việt Nam trong mối quan hệ biện chứng với hệ giá trị quốc gia, để văn hóa, con người sẽ là nguồn sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Xem thêm
Đặng Thùy Trâm đã hóa thân vào mùa xuân đất nước
Gần 20 năm kể từ ngày đầu tiên vở diễn về bác sĩ Đặng Thùy Trâm ra đời, NSƯT Huy Thục ngồi điểm lại bao lần rơi nước mắt ở nơi in dấu chân của chị. Rồi ông kể những câu chuyện kỳ lạ mà ông cho rằng: Bác sĩ Đặng Thùy Trâm rất linh thiêng! Nhà thơ Thanh Thảo thì tâm sự, mong nơi chị hy sinh sẽ xây dựng một đền thờ để đón du khách, vì chị rất linh thiêng, chị đã hóa thân vào đất nước.
Xem thêm
Cảm hứng từ trò chơi dân gian Việt qua bộ phim “Báu vật trời cho”
Lấy cảm hứng từ các trò chơi dân gian Việt Nam để thiết kế hình ảnh quảng bá phim chiếu Tết là nỗ lực sáng tạo từ bộ phim Báu vật trời cho của đạo diễn Lê Thanh Sơn. Bộ phim sẽ ra rạp vào mùng 1 Tết Bính Ngọ (17/2).
Xem thêm
“Ngọn gió” chính sách cho văn học Việt vươn xa
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 350/2025/NĐ-CP quy định về khuyến khích phát triển văn học đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực cho hoạt động sáng tác, quảng bá và phổ biến văn học Việt Nam trong bối cảnh mới.
Xem thêm
Phan Bội Châu - người “đốt đuốc giữa ban ngày”
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người mà tên tuổi của họ vượt khỏi khuôn khổ thời gian, trở thành ngọn lửa soi sáng cho nhiều thế hệ sau. Một trong những ngọn lửa ấy là Phan Bội Châu – nhà cách mạng lỗi lạc, người mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ 20.
Xem thêm
Kiến tạo nền tảng văn hóa số
AI đang thay đổi cách sáng tạo và phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật. Bên cạnh những cơ hội, AI cũng đặt ra thách thức về quyền tác giả, đạo đức nghề nghiệp và vai trò con người trong sáng tạo - những yếu tố cốt lõi để xây dựng văn hóa sáng tạo có trách nhiệm, lấy con người làm trung tâm.
Xem thêm
Thi ca – Nhịp cầu nhân văn kết nối Việt Nam & Palestine
Sáng ngày 17/12/2025, tại Hội trường A – Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh, đã diễn ra chương trình “Gặp gỡ thi ca Việt Nam – Palestine”, một sự kiện văn học quốc tế đặc sắc mang đậm tinh thần nhân văn và liên văn hóa.
Xem thêm
Hơn hai thế kỷ vẫn nghe tiếng Nguyễn Du
Hơn hai trăm năm đã trôi về phía sau lịch sử nhưng tên tuổi Nguyễn Du vẫn như ngọn hải đăng soi rọi vào đời sống tinh thần dân tộc. Từ những nếp nhà cổ ở Tiên Điền, đến các giảng đường văn chương, từ câu hát ru của người mẹ đến những trang sách mỏng lật qua tay lớp trẻ, bóng dáng người thi sĩ bạc mệnh vẫn hiện hữu, lặng lẽ mà bền bỉ.
Xem thêm
Những bài thơ khắc trong hang động: Nét đẹp văn hóa xứ Thanh
Vẻ đẹp của quê hương Xứ Thanh từ xa xưa đã từng được khắc họa bằng những bài thơ của các bậc vua, chúa và tao nhân mặc khách đến với quê hương xứ Thanh như muốn gửi lại muôn sau điều tâm đắc về mảnh đất này.
Xem thêm
Đi tìm dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Một hành trình nghiên cứu công phu, giàu tâm huyết, góp phần giải mã thêm bí ẩn cuối cùng của Hồ Xuân Hương – người phụ nữ tài hoa trong lịch sử thi ca Việt Nam.
Xem thêm
Hành trình tri ân và sáng tạo của Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh (phần 1)
Trong chuỗi hoạt động thực tế sáng tác năm 2025, Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh do KTS Nguyễn Trường Lưu, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh, làm Trưởng đoàn, đang thực hiện chuyến đi mang chủ đề “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình” (từ ngày 17 đến 25/10/2025).
Xem thêm
Những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam
Tóm tắt: Đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam chính là đặc điểm nổi bật, thuộc tính riêng của nền văn hóa khi ta đặt nó so sánh với các nền văn hóa khác trong khu vực và quốc tế. Vận dụng cách tiếp cận địa lý - lịch sử, những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam kết tinh thành quả lao động, đấu tranh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, gồm: Nền văn hóa hình thành từ nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước ở miền sông nước và biển đảo; đề cao giá trị văn hóa gia đình truyền thống; đậm tính cộng đồng, tự trị của văn hóa làng xã; thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia - dân tộc; đề cao nữ quyền; trọng nông, xa rừng, nhạt biển; đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng; nền văn hóa mở, thích ứng và tiếp biến hài hoà các nền văn minh nhân loại.
Xem thêm
Thiên hạ đệ nhất hùng quan
Trên đường thiên lý, dọc từ Bắc xuống Nam, nếu hỏi nơi nào có biển cả, mây trời, núi rừng đẹp nhất thì câu trả lời của nhiều người, hẳn sẽ phải là: đèo Hải Vân - Hải Vân Quan. Đúng thế, đây là con đèo nằm trên quốc lộ 1 và làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên Huế (phía Bắc) và Đà Nẵng (phía Nam).
Xem thêm
Đặc điểm của nhân vật tình báo trong tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam
Công cuộc Đổi mới (1986) do Đảng khởi xướng đã làm thay đổi diện mạo đất nước trên nhiều phương diện, trong đó có văn học nghệ thuật. Tinh thần đổi mới và giao lưu văn hóa đã làm cho hoạt động văn hóa nghệ thuật nói chung, đời sống văn học nói riêng trở nên phong phú, đa dạng và sôi nổi. Trên văn đàn, các thể loại tiểu thuyết đua nhau nở rộ, trong đó, sự xuất hiện của dòng tình báo, phản gián là một hiện tượng đáng chú ý.
Xem thêm