TIN TỨC

Hơn thế kỷ cuộc đời trọn với nước non

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-06-08 16:16:46
mail facebook google pos stwis
2614 lượt xem

TRẦM HƯƠNG

22 tuổi, Bà đã là Phó bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Long, lãnh đạo Khởi nghĩa Nam Kỳ. Người phụ nữ ấy đã bị địch bắt, bị kết án tù chung thân khổ sai sau khi cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu. Là một trong số 10 nữ Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên, là người bạn đời chia sẻ những cay đắng ngọt bùi, những năm tháng gian khổ và hạnh phúc với Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Người phụ nữ ấy đã nhập cuộc và là chứng nhân bao giây phút thăng trầm của đất nước. Bà tên là Ngô Thị Huệ (tên cha mẹ đặt là Ngô Thị Ngỡi, sinh năm 1918, tại làng Mỹ Qưới, huyện Phước Long, Sóc Trăng) - Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa IV. Bà từng là Phó chủ tịch Hội bảo trợ Bệnh nhân nghèo TP.HCM), cùng 11 cán bộ phụ nữ lão thành dốc sức sáng lập, xây dựng Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ. Bà là người phụ nữ hiếm hoi của thế kỷ 21 được trao tặng Huy hiệu 85 năm tuổi Đảng, Huân chương Hồ Chí Minh...

Sống qua hai thế kỷ, bà kịp ghi lại hồi ký "Tiếng sóng bủa ghềnh" để thế hệ con cháu hiểu những gian truân của thế hệ tiền nhân đứng trên đầu ngọn sóng, dám hy sinh cuộc đời, tuổi thanh xuân cho độc lập tự do đất nước. Hơn thế kỷ cuộc đời trọn với nước non, 8 giờ tối ngày 5.6.2022 bà vĩnh viễn ra đi, để lại một kho huyền sử chan chứa tình yêu thương...


Bà Ngô Thị Huệ trong buổi ra mắt sách về đồng chí Phạm Hùng. Ảnh TH

Từ nhà chùa đến với cách mạng

Chớm tuổi thiếu nữ, bà đã đến với nhà chùa tụng kinh, ăn chay trường, làm công quả… mong tìm thấy một lối thoát trong tôn giáo. Nhưng đến chùa rồi, bà vẫn không ngăn được bao đợt sóng ngầm vò xé lòng bà. Trong những ngày rằm đầy lễ vật của những khách thập phương mang đến cúng chùa, bà có dịp nhìn thấy sự bất công trong cách đối xử của nhà chùa theo sức mạnh của từng mâm lễ vật. Đó cũng là dịp cho những người giàu có đem khoe lòng mộ đạo. Họ được xun xoe, kính trọng còn những người nghèo bị hất hủi, khinh miệt. Bà hoang mang, đau khổ… Sự hoài nghi thôi thúc bà đi tìm một con đường. Qua những người làm "kinh tế mạo hiểm" cho hoạt động cách mạng, bà chợt nhận ra có một con đường thiết thực hơn để giải phóng cho mình, cho dân tộc. Từ đó, bà bắt đầu dấn thân…

Nam kỳ Khởi nghĩa

Cuộc đời bà có biết bao kỷ niệm sâu sắc gắn bó với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Đó là những ngày bi tráng không quên. Hoạt động Cách mạng khiến bà phải tiếp xúc, liên lạc nhiều đồng chí. Sợ những người xung quanh dị nghị, để che mắt sự theo dõi của mật thám, một buổi tiệc thân mật đã diễn ra nhằm hợp pháp mối quan hệ giữa bà và đồng chí Quảng Trọng Hoàng (Xứ uỷ viên Xứ uỷ Nam Kỳ. Nhưng bà giao hẹn với ông: "Đợi đến ngày khởi nghĩa thành công, có sự chứng kiến của cha mẹ đôi bên, tôi mới thực sự là vợ anh". Khởi nghĩa Nam kỳ diễn ra, bà và ông Hoàng mỗi người chia tay mỗi ngã, lao vào đại cuộc. Năm ấy bà Ngô Thị Huệ mới 22 tuổi, là phó Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Long, chỉ huy cuộc khởi nghĩa ở Châu Thành. Kế hoạch khởi nghĩa tại thị xã bị lộ, địch đề phòng rất nghiêm mật. Bà đã kịp thời chuyển hướng chiến thuật, điều nghĩa quân quay lại phía sau, đánh chiếm các đồn bốt lẻ và tuyên truyền võ trang, bao vây thị xã. Đội nghĩa quân của bà được sự cưu mang, đùm bọc của đồng bào, hoạt động một thời gian khá dài sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại. Tiếp theo đó là những ngày tù đày gian khổ. Bà bị bắt vào tù lần thứ nhất rồi được thả. Bà lại bị bắt vào tù lần thứ hai, bị kết án chung thân khổ sai. Cũng sau Nam Kỳ khởi nghĩa, Quảng Trọng Hoàng bị bắt vào tù, bị kết án tử hình.  Họ vẫn gởi cho nhau những bài thơ tràn đầy niềm tin ngày chiến thắng và nghĩa khí của những con người dấn thân cho lý tưởng. Cho đến khi ông bị đưa ra trường bắn cùng nhiều đồng chí nữa, bà đau đớn hiểu rằng chẳng còn dịp nào nữa để bà đưa người ấy trở về quê hương, ra mắt họ hàng của bà nữa.

Người đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên

Năm 1945, nhân dân ta vùng lên giành chính quyền. Bà được thoát khỏi nhà tù trở lại quê hương hoạt động. Người dân lúc đó có một suy nghĩ giản dị: “Một người phụ nữ mới 22 tuổi bị bắt vào tù sau Nam Kỳ khởi nghĩa, bị kết án chung thân khổ sai, đã qua thời gian thử thách trong nhà tù sẽ không phản bội lại nhân dân…”. Và thế là họ đã dồn những lá phiếu cho bà. Bà không thể quên được chuyến đi hợp Quốc hội đầu tiên ra Trung ương: “Thật là bỡ ngỡ… Tôi cũng không lường hết được những gian khổ, hiểm nguy. Lúc ấy, chúng tôi không thể đi công khai. Đoàn đại biểu đi trên một chiếc ghe đánh cá nghi trang. Tôi đi với anh Bạch, anh Quang, anh Nguyễn… Ba anh thay nhau lái, đôi lúc tôi cũng cầm lái. Tôi chỉ có được bộ bà ba trên người suốt hành trình trên biển vì va - li đựng quần áo và các vật dụng thiết yếu bị thất lạc. Tàu đến mũi Cà Mau, qua biên giới đến Thái Lan. Ở đây, chúng tôi được Việt kiều ra đón. Mãi đến cuối năm năm 1946, tôi mới về được Hà Nội. Sau khi hộp Quốc hội, toàn quốc đã đi vào kháng chiến. Đảng có chủ trương đưa các đồng chí người miền Nam trở về Nam. Tôi đi cùng anh Ba Duẩn, Quản Trọng Linh vào Nam. Tôi háo hức được trở về Nam, được gặp lại đồng bào Nam Bộ. Niềm vui đó khiến bao gian khổ trên chặng đường về vơi đi. Tôi về đến Sài Gòn vào cuối năm 1947. Anh Mười Cúc (sau là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) lúc đó là Bí thư thành uỷ Sài Gòn - Gia Định ra đón chúng tôi. Tôi còn nhớ lúc đó anh mặc một chiếc áo sơ mi vá vai …”.

Mãi dấn thân làm cách mạng, đến năm 29 tuổi, bà mới lập gia đình. Người đàn ông bà chọn làm người bạn đời lý tưởng chính là vị Bí thư Thành ủy măc chiếc áo vá vai đi đón bà năm ấy. Vẫn còn nguyên vẹn những ký ức ban đầu, về chiếc áo vá vai, dù đã nhiều năm trôi qua. Từ ngày ấy, hai người đồng chí gắn bó cuộc đời với nhau. Và cuộc đời họ, gắn liền với bao biến động của đất nước. Do hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, năm 1959 bà mang ba con ra Hà Nội, chồng bà ở lại miền Nam hoạt động. Họ đã chịu cảnh xa cách nhau đúng 15 năm. Ngoài những trọng trách bà mang trên đôi vai: Vụ trưởng vụ tổ chức cán bộ thuộc ban tổ chức Trung ương, bà cũng như bao nhiêu người phụ nữ khác với những gian khổ, nhọc nhằn thời chiến tranh phải chịu đựng: xa chồng, một mình nuôi con, vừa tham gia công tác

Hơn thế kỷ cuộc đời trọn với nước non

Nhân kỉ niệm 82 năm Ngày Thành lập Đảng, bà Ngô Thị Huệ được trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng và Huân chương Hồ Chí Minh vì đã có nhiều công lao, thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng, bảo vệ đất nước. Năm 2022, bà đã 85 năm tuổi Đảng. Bà xác lập một kỷ lục hiếm có về một chứng nhân gắn với thăng trầm đất nước, với Đảng từ những ngày khởi đầu...

Tôi nhớ kỷ niệm 60 năm ngày Khởi nghĩa Nam kỳ, bà chân thành bày tỏ niềm xúc động với thế hệ con cháu, bởi bà là một trong 5 đồng chí "chi bộ tự động" đầu tiên còn sống đến hôm hay. Vì công lao đóng góp to lớn cho sự nghiệp Cách Mạng, vì tấm lòng đối với đồng bào trong việc đền ơn đáp nghĩa, làm sống dậy quá khứ hào hùng của phụ nữ Nam Bộ trong tâm huyết xây dựng Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ trở thành Bảo tàng mang tầm vóc Quốc gia; bà được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Những kỷ niệm riêng với dì Bảy Huệ

Riêng tôi không bao giờ quên được hình ảnh bà, ngày đầu đến Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ công tác, ra mắt các dì. Năm ấy (1990), tôi còn rất trẻ, nghe nói Bà Bảy Huệ - một trong những thành viên sáng lập bảo tàng Phụ nữ đương kim là phu nhân tổng bí thư nên có chút tò mò. Và tôi thật kinh ngạc, thật bất ngờ khi sau cánh cửa gian bếp hẹp của cơ quan, phu nhân tổng bí thư dung dị trong bộ quần áo bà ba đen đang cọ rửa một đống lớn ly tách (sau này tôi được biết các dì vừa tiếp một đoàn khách quốc tế, tự tay dì Bảy Huệ rửa và xếp đặt những chiếc ly, tách trà quý hiếm vào ngăn tủ cơ quan.

Cũng từ ngày 19.5.1990, tôi gắn bó với Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ hơn 30 năm, cho đến ngày về hưu. Nhiều bạn văn của tôi kinh ngạc vì điều đó. Họ nghĩ tôi phóng khoáng, không thích trói buộc thì làm sao ở một cơ quan toàn mấy bà má khó tính và mấy bà phụ nữ xét nét. Nhưng tôi đã được cái tình của các dì cưu mang và thuyết phục. Các dì đã truyền dẫn cho tôi tình yêu lịch sử, trách nhiệm với quá khứ. Cũng từ đó trang viết tôi đồng hành với số phận những người phụ nữ trên những nẻo đường đất nước. Những ngày đầu tiên của tôi đến với bảo tàng Phụ nữ Nam bộ thật không dễ dàng. Cá tính mạnh mẽ có phần "lập dị", vào cơ quan, ngoài công việc tôi cắm mặt vào quyển sách. Đọc, đọc và viết, tôi chẳng màng chú ý đến ai. Tất nhiên những lời xì xầm của đồng nghiệp đến tai các dì. Hôm ấy, đang ngời ở phòng khách đọc sách, dì Bảy Huệ bước vào. Với sự nhạy cảm của mình, tôi ái ngại xếp quyển sách lại, đầy cảnh giác. Dì nhìn tôi cười - nụ cười thật hiền, hồn hậu, thấu hiểu: "Con đọc sách đi. Thời giờ trống đọc sách thì quá tốt con à!". Tôi nhìn dì, tự dưng rơi nước mắt...

Cũng từ đó, tôi gắn bó với các dì trong công tác tìm lại các nhân chứg lịch sử, các dự án xây dựng nhà tình nghĩa, những công trình phim tài liệu về phụ nữ. Nhờ tầm nhìn và tấm lòng các dì mà Bảo tàng có được những bộ phim tài liệu quý hiếm: "Chân dung người mẹ",  "Ngày ấy Trường Sơn", "Niềm vinh quang lặng lẽ", "Những người con gái trong khởi nghĩa Nam Kỳ... Và quyển sách lịch sử truyền thống phụ nữ Nam bộ do các dì chủ biên là một gia tài quý báu gởi lại cho thế hệ mai sau... Lần lượt các dì Tổ sử Phụ nữ Nam bộ ra đi. Bà Mười Thập (Nguyễn Thị Thập), Đại tá, anh hùng Hồ Thị Bi, dì Trương Thị Thu... Rồi hôm nay, chúng tôi ngậm ngùi tiễn đưa dì Bảy Huệ về trời. Dì ra đi để lại biết bao tình. Tôi nhớ mãi lúc quyết định một mình sinh con, ở một cơ quan truyền thống, đương nhiên tôi đối mặt nhiều sóng gió. Sau này dì Bảy Huệ nói với tôi, cảm thông và chia sẻ: "Không phải mấy dì khe khắt mà thương con quá. Con là đứa con gái tốt, xứng đáng được hưởng hạnh phúc lại phải một mình lội ngược dòng. Người ta vợ chồng có đôi mà nuôi một đứa con còn chật vật, khó khăn. Con chỉ có một mình... làm sao nuôi nổi hai đứa con đây?!". Một lần nữa, tôi nhìn dì, rơi nước mắt vì sự thấu hiểu, sẻ chia. Sau này, khi tôi không còn ở cơ quan, dì vẫn hỏi thăm, rất vui vì biết cuộc sống tôi ổn và những đứa trẻ ngoan ngoãn, trưởng thành.

Cuộc đời trải qua hơn thế kỉ, nếm trải vinh quang và cay đắng, có những lúc nuốt lại nỗi đau riêng; đi qua những khúc quanh thăng trầm của lịch sử, bà vẫn là bông hoa huệ trong trắng, thơm ngát và tỏa sáng tấm lòng trung kiên, nhân hậu của người phụ nữ Nam Bộ đối với đồng bào và sự nghiệp cách mạng. Giản dị mà đường bệ, cẩn trọng mà gần gũi, chân tình; bà là một hình ảnh đầy thuyết phục cho những người tuổi trẻ chúng tôi nhìn lại chính mình. Sống qua hai thế kỷ, trọn tình với nước non. Dì Bảy Huệ đi về thế giới bên kia còn để lại biết bao tình...

 Sài gòn, 6.5.2022

Bà Ngô Thị Huệ (hàng sau, thứ hai, từ trái) - một trong 10 nữ đại biểu Quốc Hội khóa  đầu tiên, năm 1946. Ảnh tư liệu bảo tàng PNNB

Bà Ngô Thị Huệ thời còn trẻ

Bà Ngô Thị Huệ cùng hai cháu ngoại lúc nhỏ

Bà Ngô Thị Huệ (bìa phải) cùng người em Ngô Duy Liên (Chín Bưởi) thăm di tích Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Hòn Khoai năm 2000.

Bà Ngô Thị Huệ cùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong cuộc họp kỷ niệm 60 năm Khởi nghĩa Nam kỳ năm 2000

Bà Ngô Thị Huệ (ngồi giữa) cùng nhà văn Trầm Hương (ngồi- bìa phải) trong buổi làm việc tại bảo tàng Phụ nữ Nam bộ năm 2008

Bà Ngô Thị Huệ (thứ hai từ phải- hàng đứng thứ nhất) trong buổi lễ mừng thọ 90 tuổi, tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ.

Bức ảnh cuối cùng  tác giả chụp cùng bà Ngô Thị Huệ, tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ, năm 2019.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm