TIN TỨC

Một gia đình phi công

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-17 13:27:21
mail facebook google pos stwis
1144 lượt xem

NGUYỄN MINH NGỌC

Suốt một phần tư thế kỷ gắn bó với Trường Sĩ quan Không quân, trừ ba năm học tập, khi tốt nghiệp ra trường, được giữ lại công tác, tôi liên tục phục vụ dưới quyền bốn vị Hiệu trưởng khả kính. Họ đều là những phi công có hạng, những “thầy giáo giữa vòm trời” đúng nghĩa.

Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, trường nhiều lần thay đổi tên gọi, Hiệu trưởng cũng vậy, do nhiều người kế tiếp nhau đảm nhiệm. Nhưng xin được bắt đầu từ khi tôi nhập học. Bấy giờ, Hiệu trưởng là Đại tá Vũ Ngọc Đỉnh, phi công MiG-21, người bắn rơi 6 máy bay thuộc loại sừng sỏ của không quân Mỹ (gồm 3 F105D, 1 F4D, 1 trực thăng HH53, cùng 1 EB66 tác chiến điện tử); chỉ huy biên đội bắn rơi 5 chiếc khác. Năm 1970, ông được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Là một trong số 16 phi công xuất sắc, đẳng cấp Ace[1] của Không quân Việt Nam, làm Hiệu trường (1980-1989), ông nổi tiếng lịch lãm, tài hoa và quyết đoán, sống giàu tình cảm, nhưng nghiêm khắc và luôn yêu cầu cao đối với cấp dưới. Đây là thời kỳ mà Nhà trường đào tạo được nhiều sĩ quan và phi công xuất sắc cho quân đội.

Người con xứ Thanh

Nối tiếp hai vị Hiệu trưởng khác là Đại tá Nguyễn Thăng Thắng. Anh sinh trưởng ở xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Học xong cấp 3, tròn 18 tuổi, trúng tuyển phi công. Tháng 2-1969, học dự khóa bay, đồng thời là nhập ngũ. Tháng 10-1971, anh có mặt trong đoàn 30 học viên Việt Nam sang học tại Trường Không quân Krasnodar của Liên Xô. Trải qua 1 năm bay L-29 và 2 năm bay MiG-21, tháng 10-1975, tốt nghiệp phi công phản lực chiến đấu. Với “gia tài” gần 300 giờ bay tích lũy, về nước, anh thuộc biên chế Trung đoàn 927 ở sân bay Kép, Lạng Giang, Hà Bắc (nay thuộc Bắc Giang).

Đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, hòa bình chưa được bao lâu thì  tình hình biên giới Tây Nam có nhiều diễn tiến phức tạp. Dẫu vừa mới cưới vợ, nhưng tháng 3-1976, anh Thắng nhận quyết định vào Trung đoàn 935, cùng đơn vị với Nguyễn Thành Trung. Sau khi chuyển loại, anh sử dụng F-5. Đây là máy bay “chiến lợi phẩm” ta thu được của địch. Hai dòng máy bay tiêm kích MiG-21 và F-5, mỗi loại đều có những ưu thế riêng. Tham gia chiến đấu, anh Thắng trực tiếp đánh 34 trận trên đất liền và cả ở một số đảo, chi viện đắc lực cho bộ binh ta tiến công triệt hạ nhiều mục tiêu quan trọng của địch. Đặc biệt, biên đội Nguyễn Thăng Thắng, Lê Khương, Ngô Duy Tuân và Nguyễn Văn Kháng, nhận lệnh ném bom sân bay Pochentong, nhưng với điều kiện không phá hỏng đường băng, làm sao giữ để máy bay ta vẫn có thể lên xuống được. Nhiệm vụ hết sức khó khăn, chưa kể sẽ vấp phải sự chống trả của súng, pháo phòng không đối phương. Tuy nhiên, toàn đội vẫn quyết chí, không chút ngán ngại.

Nhờ có tải trọng lớn và tầm bay xa, sáng ngày 7-1-1979, đội hình 4 chiếc F-5 cất cánh từ Biên Hòa, bay thấp, đến gần mục tiêu mới kéo lên cao, bổ nhào cắt bom. Những loạt bom chính xác đã làm nổ tung đường bảo hiểm, gây rạn nứt lớn đầu đường cất hạ cánh phía đông bắc sân bay. Với sự mưu trí, dũng cảm và sáng tạo, biên đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần báo hiệu ngày tàn của chế độ diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary, đồng thời ngăn chặn lực lượng phản động của nước ngoài tháo chạy bằng đường hàng không.

Liền đó, chiến sự bùng phát trên toàn tuyến biên giới phía Bắc (17-2-1979). Hai ngày sau, một phi đội F-5 trong đó có biên đội Nguyễn Thăng Thắng chuyển ra sân bay Đa Phúc (nay là Nội Bài) trực chiến. Chiều muộn ngày 19-2, toàn đội lần lượt đáp xuống. Phi đội F-5 và phi đội A-37 hợp thành Trung đoàn 937. Đơn vị được giao chuẩn bị các phương án xuất kích chi viện tuyến mặt trận. Từ sáng sớm, các máy bay tiêm kích đã được treo bom, lắp tên lửa… sẵn sàng đợi lệnh cất cánh. Được tham gia chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc, từ Tây Nam, ngược ra phía Bắc, trong lòng người con xứ Thanh rộn lên bao cảm xúc, tự hào và quyết tâm.

Tháng 10-1979, phi công Nguyễn Thăng Thắng được lựa chọn sang đào tạo tại Học viện Không quân Gagarin của Liên Xô. Ba năm sau, tốt nghiệp, về nước. Nghỉ phép xong, anh vào Trường Sĩ quan Không quân; lần lượt đảm nhiệm các vị trí: Phi đội trưởng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 920 (1988-1992). Bấy giờ, sân bay Thành Sơn (Phan Rang) nổi tiếng khó khăn, vất vả. Tiếp đến, trung đoàn chuyển ra sân bay Phù Cát (Bình Định) cũng không kém phần gian nan. Ngày ấy, lính không quân có câu: “Phan Rang, Phù Cát đã từng…”. Là phi công cấp 1 được trui rèn và thử thách vững vàng, cấp trên chọn anh đi tạo nguồn ngắn hạn tại Học viện Chính trị - Quân sự (nay là Học viện Chính trị). Tháng 11-1993, anh giữ chức Phó Chủ nhiệm Chính trị, rồi Phó Hiệu trưởng về chính trị. Ngày 27-11-2003, Bộ Quốc phòng ra quyết định bổ nhiệm Đại tá Nguyễn Thăng Thắng giữ chức Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Không quân.

Anh cùng tập thể Đảng ủy - Ban Giám hiệu Nhà trường chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, giáo viên bay, cán bộ quản lý giáo dục theo hướng đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ chuyên môn, kiến thức sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn. Xác định trọng tâm vẫn là đào tạo sau đại học cho đội ngũ giảng viên, Nhà trường có nhiều biện pháp tích cực, hợp lý. Mặc dù công việc hết sức bận bịu, anh vẫn học tập và bảo vệ xong Thạc sĩ Khoa học Quân sự. Đại tá Nguyễn Thăng Thắng có cuốn sách “Xây dựng động cơ nghề nghiệp cho học viên phi công quân sự”, tôi biên tập, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2006.

Trước đó, dịp kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống Trường Huấn luyện bay - Kỹ thuật Không quân (nay là Trường Sĩ quan Không quân) cùng với bài bút ký dự thi “Về nơi tung cánh”, được sự ủy quyền của Ban Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi còn thực hiện luôn cả bài đối thoại “Trường học - Bầu trời” đi trên số tháng 8-1999, ký PV. Có lẽ đây là lần đầu tiên, chuyên mục này thực hiện đối thoại kép, với hai người đứng mũi chịu sào ở một đơn vị, là Đại tá Hiệu trưởng Nguyễn Phương Anh và Đại tá Nguyễn Thăng Thắng - Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường.

Trong câu trả lời khép lại cuộc trò chuyện, anh Thắng đã rất tâm đắc khi bày tỏ: “Tục ngữ có câu: Con hơn cha là nhà có phúc! Muốn kế tục xuất sắc sự nghiệp của cha anh, lớp trẻ hôm nay cần phải được đào luyện một cách toàn diện từ phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống cho đến kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp… Chọn nghề bay là chọn cái nghề gắn bó với mình không chỉ một thời mà cả cuộc đời. Nếu không có khát vọng lớn lao và lòng say mê nghề nghiệp thì không thể đứng vững chỗ trời cao, đất rộng được”. 25 năm đã lùi lại phía sau, song những lời nhắn gửi ngày ấy vẫn nguyên tính thời sự, ấn tượng và tâm huyết.

Và nửa kia, xứ Huế

Hồi còn ở phố biển Nha Trang, có vài năm, gia đình tôi ngụ cùng khu với anh chị Thắng Hòa trong ngõ 120 Nguyễn Thiện Thuật. Quê gốc ở Hải Lăng, Quảng Trị, chị Hoàng Thị Hòa là một nhà giáo nền nã, đôn hậu và giàu lòng thương người. Ngay cả khi anh Thắng làm Hiệu trưởng Nhà trường, thì chị vẫn vậy, khiêm nhường, lùi lại phía sau, tôn trọng nhưng tuyệt nhiên không can dự vào công việc của chồng.

Nhờ mối thâm tình với anh chị, nên tôi được biết thêm cả ông bà bên ngoại. Ba chị Hòa là ông Hoàng Xuân Vượng, cán bộ cách mạng hoạt động ở chiến khu Ba Lòng. Năm 1954, ông đi tập kết, người vợ cùng con nhỏ ở lại quê nhà. Bấy giờ, chị Hòa mới hơn một tuổi. Biết khó lòng sống nổi dưới sự o ép của kẻ thù, sau một thời gian kiên trì chắp nối được với tổ chức, bà Đỗ Thị Dụy quyết định bế con gái tìm cách vượt tuyến. Lợi dụng đêm tối, bà đặt con vào nồi đồng rồi cứ vậy, bơi đẩy qua sông trót lọt, an toàn. Thực là một người mẹ vô cùng can đảm. Nghị lực của người vợ yêu chồng đã được đền đáp. Họ gặp nhau và được bố trí công tác ở thị xã Thanh Hóa. Sau chị Hòa, ông bà có thêm bốn người con nữa.

Những năm “dùi mài kinh sử” ở Huế, thi thoảng chiều thứ bảy, tôi cuốc bộ lên đường Phan Chu Trinh thăm nhà ông bà Vượng. Hai cụ vui lắm. Hỏi lý do đặt tên các con mà nghe như một câu “khẩu hiệu”, cụ ông cười hiền, bảo đó là ước nguyện của vợ chồng tui: Hòa - Bình - Thống - Nhất, về Nam. Đúng vậy, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình chuyển vào định cư ở thành phố Huế, ông bà công tác trong ngành Thương nghiệp tỉnh Bình Trị Thiên. Chàng út Hoàng Xuân Nam hiện là Thượng tá, Chủ nhiệm Chính trị Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam (Binh đoàn 18).


Gia đình phi công.


Ba cha con, ông cháu

Nhờ ông Vượng tập kết, rồi gia đình đoàn tụ ở xứ Thanh mà anh Thắng và chị Hòa, đôi bạn học chung một lớp hồi cấp 3, thương nhau rồi thành đôi lứa. Mối tình đẹp thời học trò, tiến tới hôn nhân sau khi anh Thắng vừa tốt nghiệp phi công ở Liên Xô về nước. Nhớ lại chuyện đám cưới, anh Thắng kể, vì chị Hòa là dâu đầu tiên, nên bố mẹ anh mừng lắm. Hai bên nội ngoại đều phấn khởi. Vẫn biết có lệnh cấm pháo, nhưng ông cụ không kìm nén nổi niềm vui nên đã châm liền hai băng pháo. Vì chuyện này mà cụ ông phải “kiểm điểm”… Tốt nghiệp Trường sư phạm 10 + 3 ra, chị Hoàng Thị làm giáo viên, vừa dạy học, chị vừa chăm nom bố mẹ chồng, để anh Thắng yên tâm công tác.

Làm vợ phi công, chị Hòa từng nhiều lần đến sân bay thăm chồng. Cho nên, chị rất đồng cảm khi xem bộ phim truyện “Cao hơn bầu trời” 50 tập, có nhiều trường đoạn về cảnh phi công đón vợ, đón người yêu ở nhà “chiêu đãi sở” tuềnh toàng của đơn vị. Chị bảo với tôi, chị xem mà không kìm được nước mắt. Vợ chồng cứ biền biệt xa nhau hoài. Từ lúc chuyển vào Nam chiến đấu cho tới khi được cử ra Hà Nội dự Đại hội Tuổi trẻ Anh hùng bảo vệ Tổ quốc, anh Thắng mới có dịp về thăm nhà. Hôm ấy, chị Hòa bế con gái đi chợ thì bất ngờ gặp chồng. Thoáng chốc, rồi anh lại giã biệt vợ con. Phía trước, bầu trời luôn vẫy gọi.

Đến mối lương duyên

Anh chị Thắng Hòa có hai con, một gái và một trai. Nguyễn Hương Giang chào đời trong năm hòa bình đầu tiên (1976). Tiếp đến Nguyễn Thăng Long (1985), tuy không theo nghiệp bố, nhưng hiện cháu làm việc cho một Công ty Kỹ thuật Hàng không ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Tốt nghiệp đại học, biết ba ngoại ngữ, ái nữ Hương Giang làm việc cho một Ngân hàng tại Nha Trang. Bấy giờ, Lại Công Hoan quê ở Đông Quan, Đông Hưng, Thái Bình, tốt nghiệp phi công ở Trường Sĩ quan Không quân năm 1995 và được giữ lại làm giáo viên. Duyên kỳ ngộ kết nối đôi bạn trẻ với nhau. Từ giáo viên bay, lên Phi đội trưởng, Phó Trung đoàn trưởng, rồi Trung đoàn trưởng Trung đoàn 910 anh hùng, chàng trai quê lúa trưởng thành mau chóng. Được đào tạo cơ bản, Lại Công Hoan tiếp tục học lên ở Học viện Phòng không - Không quân, rồi Học viện Quốc phòng.


Đại tá Lại Công Hoan bên chiếc máy bay Yak-130

Vợ chồng Hoan Giang có hai cậu con trai. Trưởng nam Lại Huy Hoàng, sinh tháng 11-2003. Trong vòng tay yêu thương của ông bà và bố mẹ, cậu bé lớn vụt. Tốt nghiệp phổ thông trung học, Hoàng đến với ngưỡng cửa bầu trời. Hiện cháu đang là học viên bay năm thứ ba, khóa 50 của Trường Sĩ quan Không quân. Ngắm ba cha con, ông cháu đứng cạnh nhau trong màu áo phi công, cháu Hoàng cao vượt cả bố và ông, đột nhiên, tôi liên tưởng câu thơ Tố Hữu: “Lớp cha trước, lớp con sau. Đã thành đồng chí chung câu quân hành”. Dạo biết tin cháu Hoàng vào học lái máy bay, tôi chúc vui anh chị Hòa Thắng, rằng: “Ông tôi, cha tôi và tôi. Ba đời làm lính, ba đời phi công”. Cháu thứ hai, Lại Phúc Hưng sinh năm 2007, học lớp 11, đã có chiều cao lý tưởng. Được biết, cháu cũng mong ước tiếp bước anh trai, nối nghiệp bố và ông ngoại.

Khúc vĩ thanh

Sau hơn bốn thập niên gắn bó với nghề bay, lăn lộn chiến đấu, học hành và làm công tác đào tạo, huấn luyện, năm 2010, Đại tá Nguyễn Thăng Thắng trở về với đời thường. Người con rể vẫn miệt mài gắn bó với sự nghiệp đào luyện những cánh bay cho Tổ quốc. Mấy năm trước, anh Hoan dẫn đầu một đoàn học viên sang Liên bang Nga để chuyển loại máy bay Yak-130. Đây là dòng máy bay huấn luyện đa năng, vừa được Bộ Quốc phòng trang bị cho Trung đoàn 940, Trường Sĩ quan Không quân, dùng để đào tạo phi công. Đại tá Lại Công Hoan hiện là Phó Hiệu trưởng phụ trách Đào tạo của Nhà trường.

Một gia đình có ba thế hệ phi công nối tiếp nhau chinh phục bầu trời, thật hiếm và quý biết bao.

Ảnh: GĐCC


[1]. Ace (tiếng Anh) là thuật ngữ thông dụng, chỉ các pilot tham gia không chiến và bắn hạ từ 5 máy bay của đối phương trở lên.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm