TIN TỨC

Ngòi bút thi sĩ giữ lửa nghề báo: Một trăm năm mãi xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-20 11:02:41
mail facebook google pos stwis
1209 lượt xem

NGUYÊN HÙNG  / Nguồn: 

(Chuyên mục "Tiếng nói nhà văn" của báo Văn nghệ, số 25, ngày 21/6/2025)

Trong một thế kỷ qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã trở thành một phần không thể thiếu của dòng chảy văn hóa Việt. Trong dòng chảy đó, biết bao ngòi bút nhà thơ, nhà văn đã góp phần giữ lửa cho trang báo, đồng thời mang lại sự lãng mạn, sâu sắc và đắm đượm tình người cho nghề báo. Dù là văn thơ hay báo, ngòi bút chân chính đều đặt trên nền tảng của lòng trắc ẩn và khát vọng về sự thật.

Tôi lớn lên giữa thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ, nên những năm tháng ấy, sự đọc của tôi hầu như chỉ quanh quẩn với mấy tờ báo dễ tìm nhất thời bấy giờ: nhật báo Nhân Dân và tuần báo Văn Nghệ. Đây là những ấn phẩm tôi đặt dài kỳ qua bưu điện, nên có thể nói rằng, một cách tự nhiên, tuổi thơ tôi lớn lên trong cái bóng của những tờ báo nổi tiếng này… Cũng từ đó, có một điều gì đó rất sâu kín trong tôi luôn nhói lên mỗi khi bắt gặp một tờ báo cũ nằm lặng lẽ nơi quán nước, hay một trang bản thảo nhòe chữ trong cơn mưa. Với tôi, đó không đơn thuần là giấy mực. Đó là máu, là mồ hôi, là thời gian, là những giấc mơ đã được đổ cạn. Dù mang danh là nhà thơ, dù cuộc sống tinh thần của tôi có những vần thơ bay bổng, nhưng mối duyên nợ với báo chí, với những trang giấy thô mộc ấy vẫn gắn bó sâu sắc một cách lạ kỳ. Có lẽ bởi, suy cho cùng, dù là thơ hay báo, chúng đều được sinh ra từ cùng một mạch nguồn: lòng trắc ẩn và khát vọng hướng tới những điều tốt đẹp cho cuộc đời.

Ngày 21 tháng 6 năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), tờ báo Thanh niên ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Đó không chỉ là sự kiện khai sinh của một tờ báo, mà là hạt mầm đầu tiên gieo xuống mảnh đất khô cằn của thực dân, ươm mầm cho một nền báo chí hoàn toàn mới – Báo chí Cách mạng Việt Nam. Tròn một thế kỷ đã trôi qua, một trăm năm đủ để những trang giấy năm xưa ngả màu thời gian, nhưng tinh thần, khí phách của những người làm báo cách mạng thời ấy thì vẫn vẹn nguyên, không hề phai nhạt.

Chúng ta vẫn thường hình dung về những nhà báo tiền bối với dáng vẻ uy nghiêm, trí tuệ. Nhưng có mấy ai thực sự cảm nhận được rằng, mỗi bài viết của họ, mỗi dòng tin tức, mỗi lời hiệu triệu, đều được đánh đổi bằng xương máu, nước mắt và cả mạng sống? Họ là những người viết dưới hầm tối, trong nhà tù, hoặc từ những chiến khu ác liệt. Ngòi bút của họ không chỉ là công cụ truyền tải thông tin, mà là vũ khí sắc bén, là lời hiệu triệu thức tỉnh lòng dân, là ngọn lửa nhen nhóm khát vọng độc lập, tự do. Từ các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu đến những chiến sĩ cách mạng vô danh, tất cả đều viết với một tinh thần “vị quốc vong thân”. Từng con chữ, từng câu văn không chỉ mang tin tức mà còn mang theo sinh mệnh, mang theo nỗi khắc khoải của dân tộc đang chìm trong đêm tối. Đó là những "trang giấy đã cháy một thời" – cháy lên từ lòng yêu nước nồng nàn, từ lý tưởng bất khuất, từ máu và nước mắt thấm đẫm từng con chữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với những số báo đầu tiên,
đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam - Ảnh tư liệu.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945 và trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ, báo chí cách mạng tiếp tục trở thành tiếng nói của tiền tuyến và hậu phương, là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân. Những nhà báo - chiến sĩ, vừa cầm súng vừa cầm bút, đã có mặt ở những điểm nóng nhất, ghi lại những khoảnh khắc lịch sử, cổ vũ tinh thần chiến đấu, xây dựng quê hương. Mỗi bản tin từ chiến trường, mỗi bài phóng sự về cuộc sống gian khổ mà lạc quan ở hậu phương, đều là những viên gạch xây nên bức tường thành ý chí kiên cường của dân tộc. Họ không chỉ là người đưa tin mà còn là nhân chứng sống, là người truyền lửa, là hiện thân của tinh thần yêu nước và dấn thân không ngừng nghỉ.

Báo chí và văn chương, hai dòng chảy tưởng như riêng biệt, nhưng kỳ thực lại có một mối giao duyên sâu sắc, bền chặt. Từ bao đời nay, báo chí vẫn luôn là "đất lành" để văn chương nương náu, cất tiếng. Những áng thơ, truyện ngắn, tùy bút, ký văn học đã tìm thấy mảnh đất màu mỡ để ươm mầm và lan tỏa trên các trang báo, tạp chí. Đó là nơi văn chương được tiếp cận đông đảo công chúng, thực hiện chức năng phản ánh, định hướng và bồi đắp tâm hồn.

Nhắc đến báo chí, ta không thể không nghĩ đến những nhà văn, nhà thơ lớn đã từng là nhà báo, từng cầm bút trên những tờ báo lớn nhỏ. Từ thế hệ đầu tiên với những tên tuổi như Nguyễn Tuân – bậc tùy bút gia xuất sắc với ngòi bút tài hoa từng viết cho Tao đàn, Tiền phong; Tố Hữu – nhà thơ cách mạng kiệt xuất từng tham gia biên tập Cứu quốc, Sự thật; Xuân Diệu – "ông hoàng thơ tình" cũng góp sức cho Thanh niên, Tiền phong; Chế Lan Viên của Điêu tàn đến Ánh sáng và phù sa cũng đồng hành cùng Thống nhất, Văn nghệ; Nguyễn Đình Thi – tác giả Đất nước và vai trò biên tập viên Văn nghệ, Tạp chí Văn học; hay Nam Cao với hiện thực sắc lạnh trong Chí Phèo cũng từng viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo và sau này tham gia Cứu quốc.

Đến những thế hệ tiếp nối sau này, mối duyên văn chương – báo chí vẫn tiếp tục bền chặt. Có thể kể đến Nguyễn Khải với những trang ký sự chiến tranh sâu sắc trên Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội; Phạm Tiến Duật – nhà thơ "Tiểu đội xe không kính" vừa là phóng viên mặt trận của Báo Quân đội Nhân dân; Hữu Thỉnh – với những vần thơ Sang thu và vai trò lãnh đạo báo Văn nghệ; Nguyễn Quang Sáng – nhà văn tài hoa của Chiếc lược ngà từng gắn bó với Văn nghệ, Sông Hương. Và đến thế hệ hiện tại, những cái tên như Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Trần Đăng Khoa – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Nguyễn Thúy Quỳnh – người cầm chịch Văn nghệ Thái Nguyên, Như Bình - Trưởng ban Chuyên đề Báo Công an Nhân dân, Phạm Thùy Vinh – Tổng biên tập Tạp chí Sông Lam… và nhiều cây bút khác, vẫn đang hàng ngày miệt mài với cả trang văn và trang báo, làm phong phú thêm đời sống văn học và báo chí nước nhà.

Ngược lại, báo chí cũng là môi trường rèn giũa, thôi thúc người cầm bút phải gắn liền với thực tiễn, với cuộc sống. Nó đòi hỏi sự nhạy bén, tốc độ, nhưng không đánh mất chiều sâu tư tưởng và trách nhiệm. Trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin như hiện nay, vai trò của báo chí chân chính, báo chí cách mạng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hơn lúc nào hết, cần những ngòi bút "của trái tim không yên ổn" (như lời nhà báo Hữu Thọ), dám phản ánh sự thật, bảo vệ cái đẹp, và thức tỉnh lương tri.

Nhà thơ Hữu Thỉnh ký tặng thơ cho độc giả tại buổi ra mắt sách “Giao hưởng Điện Biên”, 4-2024

Với vai trò là Trưởng Ban biên tập website Văn chương TP. Hồ Chí Minh – trang web của Hội Nhà văn TP.HCM, tôi hiểu rằng, trong bối cảnh truyền thông số, website của chúng tôi phải là một "cầu nối" hiệu quả giữa báo chí và văn học. Chúng tôi không chỉ đăng tải những tác phẩm văn học thuần túy mà còn biên tập, giới thiệu những bài viết mang tính thời sự, những góc nhìn văn học về các vấn đề nóng bỏng của xã hội. Chúng tôi cố gắng giữ "chất văn" trong từng bài đăng, dù là một tin tức ngắn về hoạt động của Hội hay một bài phê bình văn học dài. Bởi lẽ, báo chí, xét cho cùng, cũng là một dạng ký ức tập thể được viết bằng ngôn ngữ của trái tim, bằng cảm xúc và sự chiêm nghiệm. Thông qua đó, chúng tôi mong muốn tiếp nối sứ mệnh của báo chí cách mạng: không chỉ truyền tải thông tin mà còn định hướng giá trị, gieo mầm cái đẹp, và hun đúc lòng nhân ái trong cộng đồng.

Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, chúng tôi muốn tri ân các thế hệ nhà báo, những người cầm bút đã đổ mồ hôi, xương máu, và tâm huyết để làm nên một nền báo chí vẻ vang. Họ đã dùng ngòi bút như một vũ khí sắc bén, chiến đấu cho độc lập, tự do, và xây dựng đất nước.

Với tôi, một nhà thơ cũng có tham gia viết báo, mỗi con chữ đặt xuống không chỉ là để thông tin hay để ca ngợi, mà còn là một hành vi của tình yêu thương và trách nhiệm. Dù là viết tin ngắn hay bài báo dài, dù để in báo giấy hay đăng báo điện tử, mỗi con chữ đều phải được chắt lọc từ sự thật, thăng hoa từ cảm xúc chân thành, và được viết bằng cả tấm lòng. Ngòi bút ấy, dù là thơ hay báo, vẫn luôn là vũ khí của sự thật, của cái đẹp, của lương tri, như cha ông ta đã truyền lại.

Một thế kỷ đã trôi qua, bao thăng trầm, biến động, nhưng ngọn lửa của báo chí cách mạng, của văn chương yêu nước vẫn mãi cháy sáng. Đó là ngọn lửa của niềm tin, của khát vọng cống hiến, và của tình yêu vô bờ bến dành cho Tổ quốc và nhân dân.


Mời đọc các bài viết đăng chuyên mục "Tiếng nói nhà văn" báo Văn nghệ của cùng tác giả:

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm