TIN TỨC

Ngòi bút thi sĩ giữ lửa nghề báo: Một trăm năm mãi xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-20 11:02:41
mail facebook google pos stwis
1319 lượt xem

NGUYÊN HÙNG  / Nguồn: 

(Chuyên mục "Tiếng nói nhà văn" của báo Văn nghệ, số 25, ngày 21/6/2025)

Trong một thế kỷ qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã trở thành một phần không thể thiếu của dòng chảy văn hóa Việt. Trong dòng chảy đó, biết bao ngòi bút nhà thơ, nhà văn đã góp phần giữ lửa cho trang báo, đồng thời mang lại sự lãng mạn, sâu sắc và đắm đượm tình người cho nghề báo. Dù là văn thơ hay báo, ngòi bút chân chính đều đặt trên nền tảng của lòng trắc ẩn và khát vọng về sự thật.

Tôi lớn lên giữa thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ, nên những năm tháng ấy, sự đọc của tôi hầu như chỉ quanh quẩn với mấy tờ báo dễ tìm nhất thời bấy giờ: nhật báo Nhân Dân và tuần báo Văn Nghệ. Đây là những ấn phẩm tôi đặt dài kỳ qua bưu điện, nên có thể nói rằng, một cách tự nhiên, tuổi thơ tôi lớn lên trong cái bóng của những tờ báo nổi tiếng này… Cũng từ đó, có một điều gì đó rất sâu kín trong tôi luôn nhói lên mỗi khi bắt gặp một tờ báo cũ nằm lặng lẽ nơi quán nước, hay một trang bản thảo nhòe chữ trong cơn mưa. Với tôi, đó không đơn thuần là giấy mực. Đó là máu, là mồ hôi, là thời gian, là những giấc mơ đã được đổ cạn. Dù mang danh là nhà thơ, dù cuộc sống tinh thần của tôi có những vần thơ bay bổng, nhưng mối duyên nợ với báo chí, với những trang giấy thô mộc ấy vẫn gắn bó sâu sắc một cách lạ kỳ. Có lẽ bởi, suy cho cùng, dù là thơ hay báo, chúng đều được sinh ra từ cùng một mạch nguồn: lòng trắc ẩn và khát vọng hướng tới những điều tốt đẹp cho cuộc đời.

Ngày 21 tháng 6 năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), tờ báo Thanh niên ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Đó không chỉ là sự kiện khai sinh của một tờ báo, mà là hạt mầm đầu tiên gieo xuống mảnh đất khô cằn của thực dân, ươm mầm cho một nền báo chí hoàn toàn mới – Báo chí Cách mạng Việt Nam. Tròn một thế kỷ đã trôi qua, một trăm năm đủ để những trang giấy năm xưa ngả màu thời gian, nhưng tinh thần, khí phách của những người làm báo cách mạng thời ấy thì vẫn vẹn nguyên, không hề phai nhạt.

Chúng ta vẫn thường hình dung về những nhà báo tiền bối với dáng vẻ uy nghiêm, trí tuệ. Nhưng có mấy ai thực sự cảm nhận được rằng, mỗi bài viết của họ, mỗi dòng tin tức, mỗi lời hiệu triệu, đều được đánh đổi bằng xương máu, nước mắt và cả mạng sống? Họ là những người viết dưới hầm tối, trong nhà tù, hoặc từ những chiến khu ác liệt. Ngòi bút của họ không chỉ là công cụ truyền tải thông tin, mà là vũ khí sắc bén, là lời hiệu triệu thức tỉnh lòng dân, là ngọn lửa nhen nhóm khát vọng độc lập, tự do. Từ các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu đến những chiến sĩ cách mạng vô danh, tất cả đều viết với một tinh thần “vị quốc vong thân”. Từng con chữ, từng câu văn không chỉ mang tin tức mà còn mang theo sinh mệnh, mang theo nỗi khắc khoải của dân tộc đang chìm trong đêm tối. Đó là những "trang giấy đã cháy một thời" – cháy lên từ lòng yêu nước nồng nàn, từ lý tưởng bất khuất, từ máu và nước mắt thấm đẫm từng con chữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với những số báo đầu tiên,
đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam - Ảnh tư liệu.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945 và trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ, báo chí cách mạng tiếp tục trở thành tiếng nói của tiền tuyến và hậu phương, là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân. Những nhà báo - chiến sĩ, vừa cầm súng vừa cầm bút, đã có mặt ở những điểm nóng nhất, ghi lại những khoảnh khắc lịch sử, cổ vũ tinh thần chiến đấu, xây dựng quê hương. Mỗi bản tin từ chiến trường, mỗi bài phóng sự về cuộc sống gian khổ mà lạc quan ở hậu phương, đều là những viên gạch xây nên bức tường thành ý chí kiên cường của dân tộc. Họ không chỉ là người đưa tin mà còn là nhân chứng sống, là người truyền lửa, là hiện thân của tinh thần yêu nước và dấn thân không ngừng nghỉ.

Báo chí và văn chương, hai dòng chảy tưởng như riêng biệt, nhưng kỳ thực lại có một mối giao duyên sâu sắc, bền chặt. Từ bao đời nay, báo chí vẫn luôn là "đất lành" để văn chương nương náu, cất tiếng. Những áng thơ, truyện ngắn, tùy bút, ký văn học đã tìm thấy mảnh đất màu mỡ để ươm mầm và lan tỏa trên các trang báo, tạp chí. Đó là nơi văn chương được tiếp cận đông đảo công chúng, thực hiện chức năng phản ánh, định hướng và bồi đắp tâm hồn.

Nhắc đến báo chí, ta không thể không nghĩ đến những nhà văn, nhà thơ lớn đã từng là nhà báo, từng cầm bút trên những tờ báo lớn nhỏ. Từ thế hệ đầu tiên với những tên tuổi như Nguyễn Tuân – bậc tùy bút gia xuất sắc với ngòi bút tài hoa từng viết cho Tao đàn, Tiền phong; Tố Hữu – nhà thơ cách mạng kiệt xuất từng tham gia biên tập Cứu quốc, Sự thật; Xuân Diệu – "ông hoàng thơ tình" cũng góp sức cho Thanh niên, Tiền phong; Chế Lan Viên của Điêu tàn đến Ánh sáng và phù sa cũng đồng hành cùng Thống nhất, Văn nghệ; Nguyễn Đình Thi – tác giả Đất nước và vai trò biên tập viên Văn nghệ, Tạp chí Văn học; hay Nam Cao với hiện thực sắc lạnh trong Chí Phèo cũng từng viết cho Tiểu thuyết thứ bảy, Hà Nội báo và sau này tham gia Cứu quốc.

Đến những thế hệ tiếp nối sau này, mối duyên văn chương – báo chí vẫn tiếp tục bền chặt. Có thể kể đến Nguyễn Khải với những trang ký sự chiến tranh sâu sắc trên Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội; Phạm Tiến Duật – nhà thơ "Tiểu đội xe không kính" vừa là phóng viên mặt trận của Báo Quân đội Nhân dân; Hữu Thỉnh – với những vần thơ Sang thu và vai trò lãnh đạo báo Văn nghệ; Nguyễn Quang Sáng – nhà văn tài hoa của Chiếc lược ngà từng gắn bó với Văn nghệ, Sông Hương. Và đến thế hệ hiện tại, những cái tên như Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Trần Đăng Khoa – Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Nguyễn Thúy Quỳnh – người cầm chịch Văn nghệ Thái Nguyên, Như Bình - Trưởng ban Chuyên đề Báo Công an Nhân dân, Phạm Thùy Vinh – Tổng biên tập Tạp chí Sông Lam… và nhiều cây bút khác, vẫn đang hàng ngày miệt mài với cả trang văn và trang báo, làm phong phú thêm đời sống văn học và báo chí nước nhà.

Ngược lại, báo chí cũng là môi trường rèn giũa, thôi thúc người cầm bút phải gắn liền với thực tiễn, với cuộc sống. Nó đòi hỏi sự nhạy bén, tốc độ, nhưng không đánh mất chiều sâu tư tưởng và trách nhiệm. Trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin như hiện nay, vai trò của báo chí chân chính, báo chí cách mạng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hơn lúc nào hết, cần những ngòi bút "của trái tim không yên ổn" (như lời nhà báo Hữu Thọ), dám phản ánh sự thật, bảo vệ cái đẹp, và thức tỉnh lương tri.

Nhà thơ Hữu Thỉnh ký tặng thơ cho độc giả tại buổi ra mắt sách “Giao hưởng Điện Biên”, 4-2024

Với vai trò là Trưởng Ban biên tập website Văn chương TP. Hồ Chí Minh – trang web của Hội Nhà văn TP.HCM, tôi hiểu rằng, trong bối cảnh truyền thông số, website của chúng tôi phải là một "cầu nối" hiệu quả giữa báo chí và văn học. Chúng tôi không chỉ đăng tải những tác phẩm văn học thuần túy mà còn biên tập, giới thiệu những bài viết mang tính thời sự, những góc nhìn văn học về các vấn đề nóng bỏng của xã hội. Chúng tôi cố gắng giữ "chất văn" trong từng bài đăng, dù là một tin tức ngắn về hoạt động của Hội hay một bài phê bình văn học dài. Bởi lẽ, báo chí, xét cho cùng, cũng là một dạng ký ức tập thể được viết bằng ngôn ngữ của trái tim, bằng cảm xúc và sự chiêm nghiệm. Thông qua đó, chúng tôi mong muốn tiếp nối sứ mệnh của báo chí cách mạng: không chỉ truyền tải thông tin mà còn định hướng giá trị, gieo mầm cái đẹp, và hun đúc lòng nhân ái trong cộng đồng.

Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, chúng tôi muốn tri ân các thế hệ nhà báo, những người cầm bút đã đổ mồ hôi, xương máu, và tâm huyết để làm nên một nền báo chí vẻ vang. Họ đã dùng ngòi bút như một vũ khí sắc bén, chiến đấu cho độc lập, tự do, và xây dựng đất nước.

Với tôi, một nhà thơ cũng có tham gia viết báo, mỗi con chữ đặt xuống không chỉ là để thông tin hay để ca ngợi, mà còn là một hành vi của tình yêu thương và trách nhiệm. Dù là viết tin ngắn hay bài báo dài, dù để in báo giấy hay đăng báo điện tử, mỗi con chữ đều phải được chắt lọc từ sự thật, thăng hoa từ cảm xúc chân thành, và được viết bằng cả tấm lòng. Ngòi bút ấy, dù là thơ hay báo, vẫn luôn là vũ khí của sự thật, của cái đẹp, của lương tri, như cha ông ta đã truyền lại.

Một thế kỷ đã trôi qua, bao thăng trầm, biến động, nhưng ngọn lửa của báo chí cách mạng, của văn chương yêu nước vẫn mãi cháy sáng. Đó là ngọn lửa của niềm tin, của khát vọng cống hiến, và của tình yêu vô bờ bến dành cho Tổ quốc và nhân dân.


Mời đọc các bài viết đăng chuyên mục "Tiếng nói nhà văn" báo Văn nghệ của cùng tác giả:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm