TIN TỨC

Người lính làm nên huyền thoại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-08-25 22:21:36
mail facebook google pos stwis
1402 lượt xem

Trần Nguyên Trang 

 

Phải nói, Trần Ngọc Trác là một cây viết tâm huyết với đề tài truyền thống cách mạng. Gặp  ông cách nay đã vài chục năm, tôi vẫn nhớ dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói trầm ấm và ánh nhìn thân thiện của nhà văn. Lúc ấy Trần Ngọc Trác là cán bộ của Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh Lâm Đồng. Đã đọc Trần Ngọc Trác nhưng thực sự khi ông đảm nhiệm làm phim " Người lính làm nên huyền thoại "  về Đại tá Lê Kích (cậu ruột thứ Tám của vợ tôi), chúng tôi mới gắn bó  như anh em thân thiết. 

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Đại tá Lê Kích

 

Mới đây, Trần Ngọc Trác gửi tặng tôi tập sách mới - tập bút ký " Người nặng tình với đất nước Triệu Voi" ( NXB Hội Nhà văn- 2023) viết về Đại tá 

Lê Kích. Cuốn sách mỏng,  nhưng thông tin và nghĩa tình dầy nặng. Tôi càng trân quý tấm lòng và nhiệt huyết của một người cầm viết luôn tâm nguyện tôn vinh, lan tỏa những con người, những điều không thể mất.

 

 NGƯỜI LÍNH LÀM NÊN HUYỀN THOẠI

 

Đó là lời nhận xét của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Đại tá Lê Kích. Cách đây hơn hai 

chục năm, tôi có may mắn được "mục sở thị"  cuộc gặp giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tá Lê Kích do chính biên tập viên Trần Ngọc Trác thu xếp. Trong cuộc gặp thân tình, ấm áp ấy, tổ làm phim của Trần Ngọc Trác và chúng tôi được chứng kiến tình cảm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với người cán bộ mà Đại tướng luôn tin tưởng và trực tiếp giao nhiệm vụ nhiều lần. Sách đã dẫn của Trần Ngọc Trác kể lại, cuộc gặp cuối cùng của Đại tướng và ông Lê Kích vào năm 2001 tại nhà khách T78 (TP HCM).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ôm Đại tá Lê Kích nhận xét: " Tôi đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Kích nhiều lần. Nhưng tôi nhớ mãi 3 lần. Lần thứ nhất trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Tiểu đoàn 436 do Lê Kích làm tiểu đoàn trưởng là đơn vị thọc sâu chiến lược của Bộ, mở ra một hướng quan trọng trong chiến cục Đông Xuân, góp phần thiết thực vào chiến thắng Điện Biên Phủ. Lần thứ 2, tháng 12 năm 1960, khi Lê Kích đang làm Tư lệnh Pháo binh Quân khu Tây Bắc, chỉ trong vài giờ tôi gọi Lê Kích về Hà Nội và ngay lập tức điều anh bay sang giúp bạn Lào tiến công thần tốc đập tan căn cứ quân sự Cánh Đồng Chum, giải phóng tỉnh Xiêng Khoảng và khai thông đường số 7. Lần thứ 3, tháng 4 năm 1961, Lê Kích đang làm Trưởng đoàn cố vấn quân sự Quân khu Hạ Lào, tôi giao nhiệm vụ cho Lê Kích làm Chỉ huy trưởng Mặt trận đường 9, khai thông đường Tây Trường Sơn. Sau này, Lê Kích làm Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh, Tư lệnh Sư đoàn 325 C ở Quảng Trị mùa hè năm 1972..., tôi luôn theo dõi quá trình chỉ huy của đồng chí. Do đó, tôi cho rằng Lê Kích là một con người kiên cường, có quyết tâm lớn, không lùi bước trước khó khăn; là một con người hoàn thành tốt nhiệm vụ trong những lúc khó khăn nhất." Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhìn sâu vào mắt người lính già ( đang khóc ), giọng Đại tướng hào sảng : " Dân tộc ta đã làm được những việc mà có lúc chúng ta tưởng không làm được. Coi như là huyền thoại. Lê Kích là một trong những người của dân tộc Việt Nam làm nên huyền thoại ấy".

Với hơn 100 trang sách nhỏ, "Người nặng tình với đất nước Triệu Voi " của Trần Ngọc Trác không chỉ kể về những tháng năm gian khổ ác liệt của Đại tá Lê Kích trên đất bạn Lào mà những gì lấp lánh nhất trong cuộc đời quân ngũ của " người lính làm nên huyền thoại " Lê Kích được tác giả lột tả sâu sắc. 

 

Sinh ra tại làng An Thạch, xã Phổ An, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Lê Kích tham gia đội du kích Ba Tơ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Ngày 23 tháng 10 năm 1945, chi đội Lê Trung Đình do Lê Kích chỉ huy đã cho nổ quả mìn đầu tiên , mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nha Trang. Cứ thế, ông Lê Kích được giao những nhiệm vụ khi khó khăn nhất trong các chiến dịch lớn của quân đội ta: Chỉ huy trưởng đơn vị thọc sâu chiến lược của Bộ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954; Cố vấn  Bộ Tổng Tham mưu Bộ đội Pha thét Lào; Chỉ huy trưởng mặt trận  tiến công và giải phóng Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng; Chỉ huy trưởng Mặt trận đường 9; Tư lệnh hai Sư đoàn bộ binh số 2 và số 325C...

Những người lính tham gia Chiến dịch Quảng Trị - mùa hè đỏ lửa năm 1972 không thể nào quên vị Tư lệnh Sư đoàn kiên cường và giàu lòng nhân ái . Những mẩu chuyện đời thường về Tư lệnh Lê Kích 

đến nay vẫn như huyền thoại.

 

NHƯ NGƯỜI CHA THÂN YÊU CỦA CHÚNG TÔI.

 

Tôi gặp ông Lê Kích lần đầu năm 1980 khi tôi quen cháu gái của ông là vợ tôi bây giờ. Tôi nhớ mãi, hôm ấy ông mặc quân phục màu xám mang quân hàm Thượng tá, mũ vải mền có ngôi sao lấp lánh. Ông bắt tay và nhìn thẳng vào mắt tôi: " Thế nào nhà báo quân đội định làm rể nhà này phải không ?" . Câu chuyện giữa chúng tôi càng lúc càng sôi nổi. Ông hỏi thăm gia cảnh, công việc của tôi. Cả những ý định sắp tới của tôi khi cuộc chiến ở biên giới Tây Nam chưa dứt.

Một năm sau, đúng như ông đã hứa,  ngày cưới của chúng tôi, ông có mặt. Ông vẫn bận bộ quân phục màu xám, đội mũ vải mền có ngôi sao lấp lánh. Thời ấy đám cưới bộ đội hầu hết đều thế. Tôi còn nhớ các thủ trưởng trực tiếp của tôi: Trung tá Minh Khoa, Trung tá Đoàn Thành, Đại úy Mai Bá Thiện...cũng " quân phục chỉnh tề " đón dâu và dự tiệc cưới.  

 

Năm 1988 về báo QĐND, tôi thường xuyên lên Học viện Lục quân, nơi ông Lê Kích - Cậu Tám của chúng tôi đang làm Cục trưởng Cục Huấn luyện - Tác chiến. Cậu cháu người lính gặp nhau chuyện chiến trường, chuyện hậu phương không dứt. Khi ông Tám nghỉ hưu, lần nào lên Đà Lạt, chúng tôi cũng đến thăm ông. Nghỉ hưu, ông ở nhà chăm vợ và con gái- cả hai người đều ốm yếu, có hoàn cảnh đặc biệt. 

Nhìn vị Tư lệnh Sư đoàn chỉ huy đánh Nam dẹp Bắc, được coi là Sapaep của Việt Nam lọm khọm chăm vợ con giữa chiều đông cao nguyên mà tôi không cầm lòng được. Ông tự đi chợ, nấu ăn, giặt giũ và làm tất cả những gì có thể làm được cho vợ và con. Có chuyến, sắp xếp được tôi mời ông theo xe của đơn vị về TP HCM thăm cháu con hoặc vào kiểm tra sức khỏe tại Quân y viện 175. Ông thường chọn ngôi nhà nhỏ của chúng tôi cạnh bệnh viện làm nơi lưu trú. Chúng tôi coi ông như người cha thân yêu ruột thịt của mình. Đáp lại, ông cũng tự nhiên như ở nhà mình nên tôi có dịp cùng ông tiếp khách, đó là những người bạn chiến đấu một thời của ông. Câu  chuyện của thế hệ cha anh giúp ích cho tôi rất nhiều trong công việc. Những năm cuối đời, ông Lê Kích mắc căn bệnh khó chữa phải về Quân y viện 175 điều trị dài ngày. Như  con gái của ông, hàng ngày vợ tôi đi chợ, nấu các món mà ông ưa thích. Chăm sóc ông như thân phụ của mình.

Ngày ông về với tổ tiên,chúng tôi " hành quân " cấp tốc lên Đà Lạt để vĩnh biệt ông. Nhìn dòng người như dòng sông cuộn chảy từ khắp nơi đổ về tiễn biệt ông mà lòng trào dâng cảm xúc.

Một người lính làm nên huyền thoại như Đại tướng Võ Nguyên Giáp ban tặng - một chỉ huy quân sự xuất sắc gắn liền với những dấu mốc lịch sử quan trọng của đất nước và QĐND VN...,lại là một người lính Bộ đội Cụ Hồ bình dị. 

Theo thói quen, sau ngày ông đi xa, mỗi lần lên thành phố ngàn hoa, chúng tôi đều  ra nghĩa trang  thắp hương, trò chuyện cùng ông.

Trong tiếng thông reo như gió hú và cái lạnh ngọt ngào, chúng tôi vẫn thấy như ông đang nheo mắt, mỉm cười.

 

Cảm ơn nhà văn Trần Ngọc Trác đã khơi gợi,lan tỏa những con người, những cuộc đời và những điều không thể mất./.

 

Mùa Thu 2023

T.N.T 

 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm