TIN TỨC

“Quan trí” - Bút ký của Lê Thanh Huệ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-17 15:37:42
mail facebook google pos stwis
1361 lượt xem

Văn chương TP. Hồ Chí Minh: “Quan trí” – bút ký của nhà văn Lê Thanh Huệ – là chân dung đầy thuyết phục về Kiến trúc sư – Thạc sĩ Lưu Đình Khẩn, một người từng để lại dấu ấn mạnh mẽ trong công cuộc quy hoạch, xây dựng và phát triển tỉnh Long An những năm hậu chiến. Bằng giọng văn lặng sâu, quan sát sắc sảo và tư duy phản biện, tác giả đưa người đọc đi qua hành trình khai mở “tư duy đô thị” từ một cán bộ kỹ thuật tâm huyết – người hiểu rằng: dân trí rất quan trọng, nhưng quan trí mới là động lực tạo đà cho sự phát triển. Một bài ký không chỉ là chân dung cá nhân, mà còn là suy ngẫm lớn về con đường hóa rồng của một vùng đất.

LÊ THANH HUỆ

Thạc sỹ, kiến trúc sư Lưu Đình Khẩn cho rằng: vấn đề “dân trí” rất quan trọng, nhưng “quan trí” quan trọng hơn nhiều.

Vào ngày cuối đông 1985, Tôi gặp Anh Lưu Đình Khẩn (quê ở xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh) – Kiến trúc sư, lúc đó là Phó giám đốc Xí nghiệp khảo sát thiết kế xây dựng tỉnh Long An. Mùa đông phương nam là mùa khô. Nắng chan hòa rải khắp phố phường. Thị xã Tân An nhuốm màu sông nước, nép mình dưới bóng cây của hai bờ sông Vàm Cỏ Tây, xanh mướt hai bờ dừa nước dầm mình ngày hai lần trong con nước triều lên xuống, như nhịp sống có vẽ thầm lặng nhưng cũng rất hối hả của người dân Miền Tây. Lúc đó, Thành phố Tân An là một thị xã nhỏ, lại nhỏ hơn vì bóng cây trùm khắp phố phường. Nhà nhỏ, vài ngôi nhà cao 2 hoặc 3 tầng, cũ kỹ, được xây dựng từ thời Nam kỳ thuộc Pháp. Thi thoảng, có được một ngôi nhà kiến trúc tương đối hiện đại xây từ trước ngày giải phóng cũng nhuốm màu thời gian. Nhà ở dưới bóng dừa, đồng lúa xanh tràn vào, bao vây phố thị từ ba bề, cùng sông Vàm Cỏ Tây trong xanh và con kênh Bảo Định hòa vào màu xanh cây trái.

Hôm đó, tại Công trình Nhà văn hóa thiếu nhi Long An, anh Khẩn và anh Nguyễn Thanh Nguyên (sau này là phó chủ tịch UBND tỉnh Long An) phải ra tận công trường, vẽ vào sổ nhật ký thi công từng móng, cột nhà cho kịp tiến độ, một công việc chứa đầy rủi ro: tự mình làm, mình chịu, không như thiết kế, có người kiểm tra, có cơ quan thẩm quyền thẩm định, phê duyệt.

Khởi công ngày 05/12/1985, thiết kế năm 1985, bằng khung tiệp cũ, tòa nhà dài 48m rộng 28 m, bố trí đủ từ hội trường đến các phòng chức năng để các em thiếu nhi vui chơi và học… phải cần 2 tầng… không đủ kinh phí, phải thay đổi thiết kế nhiều lần, đến cuối năm 1987 công trình khánh thành, đón bao lứa thiếu nhi vào sinh hoạt, vui chơi cho đến ngày công trình mới mọc lên thay thế.

***

Giáo sư tiến sỹ toán học Nguyễn Ngọc Trân (phải) và Thạc sỹ kiến trúc sư Lưu Đình Khẩn (trái) đi khảo sát Đồng Tháp Mười ngày 03/02/2013. Ảnh:Lê Thanh Huệ.

Long An là tỉnh chiếm 1/3 diện tích Đồng Tháp Mười, có quỹ đất rất lớn còn hoang hóa do phèn chua mặn. Để có đất nông nghiệp, cha ông ta phải cải tạo canh tác vài trăm năm. Một số đoàn khoa học Nhật Bản tính toán: mất 50 năm nghiên cứu rửa phèn chua mặn mới thành đất nông nghiệp. Theo Nghị quyết của Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh mở những nông trường trồng lúa, quy mô và hiện đại, kể cả dùng máy bay trực thăng gieo sạ lúa, nhưng không đạt được mục đích. Không chịu bó tay, người dân Long An tìm mọi cách và cuối cùng là đào kênh dẫn nước ngọt về ém phèn, trồng lúa thành công. Kênh mương được đào, đường sá mở theo, quyết tâm, sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và người dân đã biến cả vùng đất hoang hóa chuyển mình thức dậy trong giấc mơ dài đổi đời. Những ai từng sống ở trong vùng cỏ năng, rừng tràm nguyên sinh với mùa nước nổi dài hàng tháng, giờ về lại Đồng Tháp Mười, không còn tin ở mắt mình trước những đồng lúa trải dài bên những con kinh mới đào và những vuông tràm dân trồng. Vào những trưa hè, dưới bóng cây, nhìn những bông tràm trắng muốt đu đưa trong điệu hát ru xào xạc của gió và lá; người dân Đồng Tháp Mười có thể mộng đến những thành phố sẽ xây ở giữa miền hoang hóa và say sưa ngủ quên trong giấc mơ về những thay đổi của miền đất này.

Không có đỉnh cao nào không có triền dốc xuống. Tốc độ tăng trưởng Long An chậm dần. Năm 1991 là 7,9%, đến năm 1993, còn lại 6,9%. Tỷ trọng công nghiệp chỉ có 20%. Nếu đầu tư cho cây lúa 10 năm, năng suất không tăng được gấp đôi. Khai hoang hết Đồng Tháp Mười và toàn bộ diện tích hoang hóa cũng không tăng được gấp rưỡi diện tích trồng trọt và tổng sản lượng lúa.

Sau 19 năm kể từ ngày giải phóng, Tân An chỉ nâng cấp được nhà máy nước, xây dựng một sân vận động, một bể bơi, một nhà văn hóa thiếu nhi, Rạp 30/4, Nhà nghỉ Công đoàn, trung tu được Đường Nguyễn Đình Chiểu, nâng cấp được Đường Cần Đốt với tổng chiều dài không tới chục cây số. Nhưng so với sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng, vốn đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu cấp thiết. Bằng chứng rõ ràng về sự tụt hậu so với tình hình chung của cả nước là sau chiến tranh, thị xã Tân An có vị trí quan trọng, cửa ngỏ phía tây Sài Gòn, ít bị chiến tranh tàn phá, đến thời điểm đó, là một trong những thị xã nhỏ nhất về cơ sở hạ tầng. Một người ra đi khỏi thị xã Tân An cách đây 20 năm, lúc ấy, quay lại, dẫu có đôi chút ngỡ ngàng, nhưng không lạc lối. Nói quá đi: chúng ta không đô thị hóa được nông thôn mà đang dần nông thôn hóa thị xã và các thị trấn khác trong tỉnh.

Trong căn nhà cấp 4 của khu tập thể chật hẹp Nhà nước phân cho gia đình anh Khẩn, nghe Tôi tâm sự, anh trầm ngâm:

Đầu tư vào nông nghiệp, nhất là trồng lúa, cần nhiều đất đai, nhưng chỉ giải quyết được công ăn việc làm rất ít, nguồn lợi không bao nhiêu mà có thể vô tình hủy hoại môi sinh do những biện pháp tăng năng suất bằng phân hóa học, thuốc trừ sâu, thậm chí tàn phá rừng. Hàng hóa nông sản được xuất đi với giá rẽ để đổi lấy hàng hóa công nghiệp với giá quá đắt. Càng xuất khẩu nhiều nông sản càng làm giàu cho các nước phát triển. Đầu tư vào nông nghiệp để giải quyết thiếu đói, tự túc lương thực là cần thiết. Nhưng để làm giàu, theo thời gian, sẽ mất tính thực tế. Nơi nào chỉ chú trọng đầu tư cho sản xuất nông nghiệp thì có tốc độ tăng trưởng chậm.  Một hecta đất khai phá chỉ giải quyết được việc làm cho 3 đến 4 nông dân, trong khi cũng diện tích đó, nếu làm công nghiệp, dịch vụ giải quyết cho hơn 100 nhân công và thu lợi nhiều hơn. Do đó phải đầu tư vào công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Công nghiệp, dịch vụ luôn gắn liền với đô thị hóa. Đô thị hóa là xu thế tất yếu của những nước còn nghèo, lạc hậu và tốc độ phát triển còn rất chậm như chúng ta. Đô thị hóa sẽ tạo môi trường cho nền kinh tế thị trường và công nghiệp phát triển, từ đó thúc đẩy tốc độ đô thị hóa. Vấn đề “dân trí” rất quan trọng, nhưng “quan trí” quan trọng hơn nhiều. Làm sao để lãnh đạo tỉnh sớm nhận ra: không thể chỉ tiến về Đồng Tháp Mười và khai phá mãi mà phát triển được. Phải mở thêm hướng phát triển công nghiệp, phát triển đô thị để phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có cơ hội phát huy thế mạnh của nó. Vừa giải quyết công ăn việc làm, tận dụng công lao động nông nhàn, giải quyết thất nghiệp vừa tăng thu ngân sách, từ đó mà đầu tư phát triển về chất cho một nền nông nghiệp chất lượng cao. Chúng ta cũng cần có chiến lược phát triển đô thị. Thực tế, có nhiều nước xây dựng những đô thị lớn, quá tập trung dân cư, nhưng không hướng tới sự phát triển bền vững và công bằng xã hội, chỉ thiên về làm giàu cho số ít người, đã phát sinh sự nghèo nàn cho số đông dân chúng, tạo khoảng cách giàu nghèo dể dẫn đến  mất ổn định xã hội. Chiến lược đô thị hóa phải nhằm đến sự phát triển, tạo môi trường cho nền kinh tế thị trường hoạt động. Quỹ thời gian còn lại trước thềm thế kỷ XXI rất eo hẹp, đòi hỏi phải nhanh chân.

Những giải pháp còn sơ khai ở mức ý tưởng của anh, được tôi viết thành bài báo “Thử tìm lời giải bài toán thoát nghèo cho Long An”. Chú Tư Vân (Lê Vân) Tổng biên tập Báo Long An đọc lướt qua bản thảo và bảo: “Đây là vấn đề nhạy cảm, đi ngược lại Nghị quyết Tỉnh ủy, nhưng lập luận vững chắc, tâm huyết...”. Bài báo được in trong số Báo xuân Long An Ất Hợi 1995. Chúng tôi thật bất ngờ, nhiều cán bộ cấp tỉnh đã đọc bài báo đó và nó được thấm dần vào các Nghị quyết, cách điều hành, trí tuệ, tiền bạc, sức lao động của nhân dân Long An để có Thành phố Tân An và các thị tứ khác, cả những thị tứ mới ra đời, như những viên ngọc sáng long lanh bên những dòng kênh giữa biển lúa Đồng Tháp Mười mênh mông, để Long An đã trở thành tỉnh đi đầu 9 tỉnh Miền Tây về sản lượng công nghiệp.

Năm 2000, anh Khẩn được đề bạt làm Quyền Giám đốc và 2001 là Giám đốc Sở Xây Dựng Long An. Làm giám đốc Sở, anh vẫn tham gia thiết kế kiến trúc. Anh bảo: làm kỹ thuật chỉ nên đủ sống. Anh tạo điều kiện cho Hội kiến trúc sư mở văn phòng thiết kế để hội viên có điều kiện đóng góp trí tuệ, công sức lao động, có thêm thu nhập chính đáng, góp thêm nhiều công trình đẹp cho Long An. Hồi đó, vẽ bằng máy vi tính (với phần mềm Auto Cad) rất hiếm. Anh mở một lớp, mời thầy Hà Việt Hùng, giảng viên trường Đại học kiến trúc về dạy cho các họa viên, kiến trúc sư, kỹ sư Long An. Tôi được anh cho học dự thính. Anh Khẩn giỏi tiếng Anh, nhìn câu lệnh trên màn hình và làm theo là có thể vẽ thành thạo, nên anh không học.

Lúc mới điều hành Sở Xây dựng, anh làm việc quá sức, lăn ra bệnh. Tôi đến thăm anh. Ngồi ở bệnh viện, mọi thứ đều trắng; nhìn ra ngoài trời đêm, bóng cây xanh thẩm ngả màu đen, chúng tôi nói về môi trường khốc liệt của đô thị bao quanh cây cối, nhưng chúng vẫn sống xanh tươi và bàn cách phải tồn tại trong môi trường công việc căng thẳng. Khuôn mặt xanh xao của anh rạng ngời lên khi nói đến công việc.  

Hồi đó, Sở xây dựng thẩm định, phê duyệt thiết kế của ngành giao thông, do đó Tôi thường phải làm việc với bộ phận thẩm định của Sở. Hễ thấy Tôi đến Sở, Anh gọi vào phòng. Câu chuyện chúng tôi chủ yếu là các ý tưởng về quy hoạch của Long An. Anh học xong thạc sỹ kiến trúc về quy hoạch đô thị và say sưa với các ý tưởng. Tôi mê mãi những công trình giao thông đi qua vùng đất yếu, phải xây dựng sao cho rẻ. Và đa số những buổi trò chuyện có việc quen thuộc: Tôi mở bản vẽ để anh Khẩn xem, Anh mang bút chì hý hoáy vẽ thêm, bớt cho dự án.

Biết được mối quan hệ thân thiết của chúng tôi, anh Trần Văn Đôn, giám đốc Công ty khảo sát thiết kế và anh Nguyễn Mậu Ngọ - Phó giám đốc Sở Giao thông thường giao cho tôi “quan hệ” với anh Khẩn để được sự ủng hộ của Sở Xây dựng trong bảo vệ, phê duyệt các dự án. Tôi đến phòng làm việc của Anh trao đổi công việc. Chúng tôi vui lắm. Anh hiểu vấn đề và góp nhiều ý kiến có giá trị. Tôi hiểu được và biến hóa nó vào dự án. Sau đó, Tôi lắng nghe các dự định, các ý tưởng về quy hoạch, kiến trúc, quản lý. Do tôi không phải là cấp dưới của Anh, làm thêm nghề báo, nghề văn nên tôi có cách nhìn riêng, những ý kiến phản biện, dù đúng, dù sai thì cũng không như suy nghĩ của Anh, mà theo suy nghĩ của một người dân, gọi là “dân trí”. Anh là “quan trí” đang rất cần sự phản biện, không cần những ý kiến giống mình.

Long An đi đầu về bù giá vào lương, khai phá Đồng Tháp Mười, rồi phát triển nhanh công nghiệp. Nếu nhìn vào khu công nghiệp đầu tiên ở Long An là những nhà máy đã nhuốm màu năm tháng nằm 2 bên Quốc lộ 1 đi qua khu vực Gò Đen, Bến Lức, Cầu Ván, Thủ Thừa. Nhưng ít ai biết, ý tưởng quy hoạch đó anh Khẩn đã từng đề xuất để lại hành lang đủ rộng để… 100 năm sau, khi phát triển đoạn Quốc lộ 1 thành Đại lộ Long An từ Sài Gòn về Thành phố Tân An cũng không phải giải tỏa các nhà máy.

Năm 1995, Anh làm quy hoạch Đường Hùng Vương. Khu đất lầy lội ở cạnh sân vận động với 4 dàn đèn cao vút, khi lên đèn, rực sáng thị xã ngay cạnh ruộng rau muống dơ bẩn và các ao cá có nhiều cầu cá mất vệ sinh. Khu vực đó được hình thành từ chủ trương đổi đất lấy hạ tầng. Sau đó, Anh cùng tham gia đề xuất ý tưởng quy hoạch khu công viên bên kia sông Bảo Định vốn trước đó là ruộng lúa với chục căn nhà lá nối liền nhau bằng những con đường bờ ruộng, trơn, lầy lội khi mưa về.

Giám đốc sở được tham mưu đến cấp tỉnh và cấp bộ. Các dự án vượt tầm các bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Thủy lợi…, chị Nguyễn Thị Sáu, anh hùng lực lượng vũ trang, phó chủ tịch tỉnh đến làm việc với Chính phủ để có quyết định thống nhất chủ trương đầu tư của tỉnh, phân bổ kinh phí xây dựng dự án cho địa phương.

Khi làm đường sân vận động Long An theo quy hoạch do anh Khẩn chủ trì; vướng sân ten nit duy nhất ở thị xã nên các quan chức can thiệp. Chị Nguyễn Thị Thuận nguyên Giám đốc công ty tư vấn xây dựng giao thông báo anh Nguyễn Mậu Ngọ, nguyên Phó giám đốc Sở Giao thông vận tải Long An biết Công ty tư vấn khảo sát thiết kế giao thông không tìm được phương án tránh sân ten nit. Hôm sau, chị Sáu Sửa xuất hiện. Chị lấy tay chỉ vào giữa sân ten nit nói với anh em đội khảo sát:

- Ranh giải tỏa đến đây.

Trong các cuộc họp, chị Sáu luôn kết luận ngắn gọn; ủng hộ phương án hiện đại, vì mai sau và sau đó theo tham mưu của 2 sở Xây dựng, Giao thông; chị bảo vệ bằng được trước tỉnh ủy, kể cả khăn gói đến Chính phủ nếu Tổng mức đầu tư vượt mức đầu tư theo thẩm quyền phê duyệt của Bộ chủ quản. Chị Sáu Sửa cùng với anh Khẩn, anh Ngọ; tạo ra kiềng 3 chân cho nhiều ý tưởng thành hiện thực, giúp sự phát triển hạ tầng cơ sở Long An thời kỳ đổi mới.

Nếu không có bộ ba trên và chị Nguyễn Thị Thuận; các sáng kiến của tôi về làm đường chờ lún qua nền đất yếu, vận dụng vượt quy trình: mở rộng mặt đường láng nhựa ra hết lề đường chờ khi nâng cấp thảm bê tông và mở rộng lề đường, thuận lợi và ít tốn kém… không thể đi vào cuộc sống...

***

Thời Nhà Nguyễn, kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, nguồn lực có hạn, quan hệ xã hội bó gọn trong thôn ấp, việc khai thác lợi thế sông nước và địa hình tự nhiên; chủ yếu bằng lao động thủ công dùng sức dân đã tạo ra hệ thống giao thông thủy bộ có quy mô nhỏ, đáp ứng được nhu cầu vận tải và giao lưu của thời khai đất mở nước. Cũng do lợi thế sông nước, đường bộ ít phát triển.

Đến thời Nam Kỳ thuộc Pháp, Nhà nước thực dân phát triển giao thông vận tải với mục đích bóc lột thuộc địa. Đây là giai đoạn giao thông phát triển rực rỡ với quy hoạch khoa học, hợp lý; hơn 100 năm qua, vẫn chưa lạc hậu, đã tạo nên hệ thống xương sống mạng lưới giao thông thủy bộ; góp phần phát triển kinh tế cho bộ phận tư bản dân tộc, các nhà kỹ nghệ, tiểu thương; giúp cho giao thương và văn hóa phát triển vượt bậc.

Thời kỳ Mỹ xâm lược miền Nam, mạng lưới giao thông ít phát triển về lượng, chỉ duy trì phục vụ chiến tranh. Đây là thời kỳ phát triển về chất, với những ứng dụng khoa học công nghệ từ Mỹ, rõ nhất là giai đoạn 1964 ÷ 1972, các công nghệ mới như đường bê tông nhựa, cầu bê tông tiền áp…được triển khai từ quốc gia đứng đầu thế giới về kinh tế và khoa học kỹ thuật. Trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh, việc duy trì, cải tạo, nâng cấp một số tuyến đường đã góp phần hình thành nền kinh tế thị trường và tiếp nhận các giá trị, thành quả khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế của nước phát triển nhất thế giới cho xây dựng giao thông và tư duy kinh tế.

Năm 1975 đến năm 2005, khi làm mới và mở rộng các tuyến đường trên vùng đất yếu, Công ty tư vấn giao thông Long An đã sử dụng những biện pháp kỹ thuật đơn giản, hợp lý, phù hợp với thực tế của địa phương như phân kỳ đầu tư, thi công trong điều kiện chờ lún tự nhiên …v…v… làm giảm tối đa kinh phí và phù hợp với năng lực thi công… Góp phần tạo ra những tuyến đường có chất lượng vừa phải, phù hợp với điều kiện kinh tế tỉnh nhà. 

Tháng 10/2006, anh Khẩn được điều về làm Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Long An cùng với cương vị Tỉnh ủy viên. Tình hình lúc đó, giao thông Long An đã qua giai đoạn phát triển về lượng với những tuyến đường xương sống mới mở ra giữa Đồng Tháp Mười, đa số có mặt đường sỏi đỏ. Đất nước vào thời kỳ khó khăn về vốn. Tỉnh nhà đã chuyển hướng đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, cùng với phát triển nông nghiệp và dịch vụ để mong muốn có sự phát triển nhanh hơn. Nhu cầu phát triển đòi hỏi những tuyến đường có mặt đường nhựa. Nghĩa là cần sự phát triển về chất.

Anh thuyết phục Ban lãnh đạo đơn vị cùng bắt tay vào thay đổi diện mạo của Sở Giao thông. Từ ngôi nhà Văn phòng Sở, 2 tầng và xây dựng như một trường học thời bao cấp; Anh sửa chữa, chấm phá lại mặt tiền lại thành trụ sở hiện đại.

Về tổ chức, bộ máy lãnh đạo lúc đó đa số là những người lớn tuổi và tuy nhiều kinh nghiệm nhưng chưa sẵn sàng, chưa thật sự tin tưởng công nghệ thông tin có thể hỗ trợ quản lý tốt. Anh đã cùng với lãnh đạo Sở trẻ hóa được đội ngũ cán bộ chủ chốt; áp dụng được tin học vào nhiều lãnh vực công việc, sử dụng mạng internet, mạng nội bộ để thông tin thật nhanh đến với mọi người, tăng hiệu quả quản lý và minh bạch hóa trong các mặt công tác của ngành. Một số cán bộ trẻ ngành giao thông đã tiến bộ rất nhiều qua rèn luyện và trưởng thành trong thời gian này. Anh muốn tôi về làm việc tại Ban quản lý dự án để cơ cấu làm giám đốc giúp anh trong khâu xây dựng cơ bản. Lãnh đạo của tôi (lúc đó Nguyễn Trung Sỹ là Phó tổng giám đốc Ban quản lý dự án 85; cũng là bạn cùng lớp ở đại học) đang gặp quá nhiều khó khăn, cần tôi chung sức nên tôi không thể về nhận vị trí công tác cao hơn...

Anh tổ chức lại ngành theo hướng quản lý Nhà nước không ôm đồm những phần việc dân sự làm tốt hơn. Chuyển phần biên chế thừa về làm dịch vụ công để phục vụ doanh nghiệp và nhân dân như:  thành lập Trung tâm điều hành vận tải, Trung tâm quản lý đường bộ, đường sông; Trung tâm đào tạo giao thông vận tải, …

Anh đề xuất với Tỉnh ủy và UBND tỉnh phân cấp các lãnh vực của ngành cho các huyện nếu địa phương quản lý tốt hơn…

Trong giai đoạn khó khăn về vốn, Anh đề xuất với UBND tỉnh hình thức giao thầu, đấu thầu trả chậm để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp được một số tuyến đường, đạt mục tiêu 100% xã có đường ô tô về đến trung tâm. Nhựa hóa các tuyến đường nối các khu công nghiệp các trục tỉnh lộ quan trọng, các tuyến đường liên xã.  Xã hội hóa các nguồn vốn cho phát triển và hoạt động giao thông với chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm như đã xây dựng tuyến đường Phước Xuyên…

Công tác duy tu sửa chữa thường xuyên, Anh cũng sử dụng sức mạnh cạnh tranh giữa các công ty Nhà nước và tư nhân, bảo đảm phục vụ tốt người và phương tiện lưu thông trên các tuyến đường.

Công tác quản lý vận tải, anh tổ chức Bộ phận phụ trách quản lý phương tiện, người lái, sát hạch theo hướng minh bạch hóa, phục vụ tốt. Cải tiến công tác thi cử, quy trình cấp phát bằng lái, nhằm hạn chế tiêu cực, phục vụ tốt người dân. Sở tổ chức thêm các tuyến xe buýt tần suất nhanh và các tuyến xe buýt nội tỉnh, liên tỉnh.

Từ ngày 03 đến 05/02/2013, anh Khẩn tổ chức chuyến đi khảo sát các huyện Đồng tháp Mười và huyện Svay Rieng của Căm Pu Chia cho Giáo sư tiến sĩ toán học Nguyễn Ngọc Trân nhằm đánh giá nguyên nhân nhiều năm lũ lớn không xuất hiện ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Sau 8 năm xa Đồng Tháp Mười, tôi ngỡ ngàng trước sự đổi thay của đất Tháp Mười. Nhà cửa bằng bê tông cốt thép thay thế nhà bằng vật liệu địa phương. Điện, đường, trường, trạm… Thị trấn Vĩnh Hưng không còn những căn nhà cấp 4 trên nền đất đắp bên những con đường sỏi đỏ mà trở thành thị trấn hiện đại, khang trang nằm bên dòng kinh xanh…. Anh Khẩn quan tâm đến mức nước lũ đang có chiều hướng giảm xuống. Nước xuống, sẽ hạ được cao độ mặt đường, tiết kiệm được rất nhiều kinh phí. Đây là vấn đề phát triển giao thông gắn liền với dự báo ảnh hưởng biến đổi khí hậu để có hướng phát triển trong tương lai gần, điều ít được nước ta quan tâm, trừ các Nhà thầu tư vấn nước ngoài thiết kế công trình giao thông Việt Nam mới đủ trình độ đề cập đến tác động do biến đổi khí hậu.

Anh khởi xướng viết cuốn “Lịch sử Ngành Giao Thông vận tải Long An”. Để khách quan, đề cương anh duyệt kết thúc cuốn sử vào năm 2005, tức là trước thời gian Anh về Sở giao thông công tác.

Năm 2016, Anh xin nghĩ hưu sớm một năm (anh sinh năm 1957) để nhường chỗ cho lớp trẻ phát triển; dành thời gian dạy đại học ở Trường Đại học Văn Lang – thành phố Hồ Chí Minh, truyền thụ kiến thức và lòng yêu nghề cho sinh viên.

***

Năm 2018, kỷ niệm 70 năm thành lập Hội Kiến trúc sư Việt Nam; Hội bầu chọn 10 kiến trúc sư nổi tiếng nhất Việt Nam. Danh sách có Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, tác giả đồ án kiến trúc Dinh Độc Lập. Trong danh sách đó có Kiến trúc sư Lưu Đình Khẩn và được vinh danh: “…là một trong những nhà tư vấn thiết kế nổi tiếng nhất nước ta. Ông đã công tác tại nhiều nơi khác nhau. Như Xí nghiệp Thiết kế sở Xây dựng Long An, Sở Xây dựng Long An, Hội Kiến trúc sư Việt Nam… Ở mỗi vị trí, ông đều để lại những dấu ấn đậm nét với tài năng cũng như cái tâm khi làm việc của mình.”

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm