TIN TỨC

Rạng danh vùng đất anh hùng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-25 16:09:40
mail facebook google pos stwis
3195 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

NGUYỄN QUẾ

Về với vùng đất phía nam của tỉnh Bình Dương, ta sẽ có dịp ghé thăm phường Bình Chuẩn, một trong 6/10 phường anh hùng của thành phố Thuận An hai lần anh hùng (đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới). Tiếp giáp với thành phố tỉnh lỵ Thủ Dầu Một, lại nằm dọc hai bên tuyến giao thông huyết mạch nối liền các đô thị phía nam của tỉnh Bình Dương với thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Biên Hòa của tỉnh Đồng Nai, phường Bình Chuẩn có vị trí rất quan trọng. Trong các cuộc kháng chiến, đây còn là nơi án ngữ con đường giao liên độc đạo giữa chiến khu Thuận An Hòa với chiến khu Đ và là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch.

Đối với nhiều người, nơi đây có sức cuốn hút kỳ lạ. Sức cuốn hút ấy đến từ sự hiếu khách và tấm lòng chân chất của người dân cùng với lịch sử hào hùng gắn liền với những câu chuyện mang tính huyền thoại của vùng đất này. Tôi đã được nghe các vị cao tuổi kể về chuyện một đệ tử của xứ võ Bà Trà nổi tiếng tay không đả hổ, đánh Tây; được nghe về sự mưu trí, gan dạ của nữ Anh hùng - Liệt sỹ Lê Thị Trung và biệt tài đi trong đêm nhanh như bay cùng những chiến công oanh liệt của Anh hùng - Liệt sỹ Từ Văn Phước - những người con ưu tú của đất Khánh Long, Khánh Lộc xưa, nay là khu phố Bình Phước B thuộc phường Bình Chuẩn.

Đúng là “địa linh” đã sinh “nhân kiệt”, và chính những người con ưu tú ấy lại góp phần làm rạng danh vùng đất quê hương mình. Nữ Anh hùng - Liệt sỹ Lê Thị Trung sinh năm 1946 trong một gia đình nông dân nghèo. Từ nhỏ, chị đã tích cực tham gia hồi Khánh Long, một tổ chức từ thiện - xã hội có các hoạt động yêu nước. Chính những năm tháng ấy cùng với truyền thống gia đình, quê hương đã hun đúc trong tâm hồn cô gái trẻ lòng yêu nước, thương nòi và ý chí đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Lê Thị Trung tham gia kháng chiến rất sớm và trở thành Trung đội trưởng Trung đội nữ Pháo binh lừng danh của huyện Lái Thiêu (nay là thành phố Thuận An) rồi được bầu vào Thường vụ Huyện ủy, giữ chức Chính trị viên Huyện đội khi tuổi đới còn rất trẻ. Chị nổi tiếng là một chỉ huy mưu trí, dũng cảm và hết mực thương yêu đồng chí, đồng đội. Ngày 15/5/1974, khi đi công tác cùng đoàn cán bộ chiến sỹ của Huyện ủy, chị hy sinh ở tuổi 28 - tuổi thanh xuân tươi đẹp - để lại bao tiếc thương cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân địa phương.

Anh hùng - Liệt sỹ Từ Văn Phước sinh năm 1936. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, suốt ngày phải chăn trâu. Do có gương mặt phúc hậu, tính tình vui vẻ, cởi mở và giàu lòng thương người nên ông được đặt biệt danh là “ông Phật Nhị thiên đường”. Sinh ra trong một gia đình và làng quê giàu truyền thống cách mạng, lại được cha là một thầy dạy võ của xử võ Bà Trà truyền dạy các thế võ gia truyền nổi tiếng, Từ Văn Phước sớm bộc lộ những phẩm chất đặc biệt. Khi còn nhỏ, trong một lần đi chăn trâu và chơi đánh trận giả ngoài đồng, Từ Văn Phước đã phát hiện, che giấu và tìm cách cứu sống một anh bộ đội trinh sát bị thương trong trận đột kích vào bót địch tối hôm trước. Lập gia đình chưa bao lâu và vừa sinh đứa con thứ hai thì vợ mất, ông gửi hai người con thơ cho cha mình rồi thoát ly đi kháng chiến để có cơ hội giết giặc cứu nước. Ông được chọn cử đi học lớp đào tạo Đặc công của tỉnh, sau đó trở thành một người chỉ huy mưu trí, gan dạ, dũng cảm. Những đóng góp của ông vào thành tích chung làm nức lòng quân và dân trong vùng. Những trận đánh địch ở bót Thuận Giao, tua Dốc Dài, Gò Tương, Phú Long, khu vực Nhà Thơ… in đậm chiến công của ông và các đồng đội. Đặc biệt, ngày 5/7/1965, Lữ đoàn dù 173 của Mỹ được xe tăng, pháo binh yểm trợ mở cuộc càn quét vào chiến khu Thuận An Hòa, suốt 3 ngày đêm, trung đội trinh sát Lái Thiêu do ông chỉ huy đã cùng với lực lượng của Trung đoàn Quyết thắng, Tiểu đoàn 3 Đặc khu Sài Gòn - Gia Định chiến đấu ngoan cường, chặn đứng các đợt tấn công của địch. Khi trận chiến đấu đang diễn ra cam go, ác liệt, ông và đồng chí Huyện đội phó Lái Thiêu cùng một chiến sỹ khác bị xe tăng địch cán sập hầm. Giữa làn ranh mong manh của sự sống và cái chết, ông đã cùng hai đồng chí của mình dùng dao găm, lưỡi lê đào theo rể cây để lấy không khí thở và bất ngờ đội tốc miệng hầm đánh địch. Hành động mưu trí, dũng cảm ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho bộ đội ta và gây bất ngờ cho tụi địch, góp phần tạo thời cơ để ta bẻ gãy đợt càn quét của chúng. Kết quả, ta đã diệt hàng trăm tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng. Với những thành tích đã đạt được, ông đã 3 lần được tặng danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ” và được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân khi mới vừa tròn 31 tuổi. Trải qua các cuộc chiến đấu oanh liệt, Từ Văn Phước đã nhiều lần bị thương, trong đó có 4 lần bị thương nặng. Sau lần bị thương vào năm 1970, các cơ quan nội tạng bị xuất huyết, sưng phù, ông được Đảng, Nhà nước, Quân đội đưa ra Hà Nội, sau đó đưa qua Liên Xô điều trị. Tuy vậy, những nỗ lực của các y, bác sỹ hai nước cùng với ý chí kiên cường của bản thân cũng chỉ giúp ông chống chọi thêm được một thời gian. Ngày 10/8/1973, ông đã trút hơi thở cuối cùng tại Viện Quân y 108.

Anh hùng - Liệt sỹ Từ Văn Phước.

Bên cạnh các Anh hùng - Liệt sỹ Lê Thị Trung và Từ Văn Phước, trải qua các cuộc kháng chiến, phường Bình Chuẩn có nhiều người con ưu tú khác đã chiến đấu dũng cảm, hy sinh oanh liệt cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Theo bản báo cáo tóm tắt thành tích của phường Bình Chuẩn, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo trực tiếp và xuyên suốt của chi bộ Đảng, các tầng lớp nhân dân Bình Chuẩn đã đoàn kết một lòng, kiên quyết đấu tranh chống lại ách kìm kẹp của kẻ thù. Hơn 400 thanh niên địa phương đã tham gia lực lượng vũ trang. Nhân dân trên địa bàn đã chiến đấu trên 380 trận, trong đó có 200 trận đánh độc lập. Đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 500 tên địch, trong đó có 150 tên Mỹ, bắt sống 59 tên. Phá hỏng và bắn cháy 15 xe tăng, xe thiết giáp, bắn rơi 3 máy bay, thu hơn 100 súng và các phương tiện chiến tranh khác của địch. Lực lượng cách mạng của Bình Chuẩn cũng đã xây dựng được 25 cơ sở binh vận; tổ chức phá banh trên 15.000m hàng rào ấp chiến lược, mở đầu cho phong trào phá ấp chiến lược ở trong khu vực. Qua các thời kỳ chống Mỹ, Bình Chuẩn có trên 10 ngàn lượt quần chúng tham gia các cuộc đấu tranh chính trị. Nhân dân nơi đây đã đóng góp trên 150 tấn lương thực cùng nhiều tiền bạc, thực phẩm, thuốc men cho kháng chiến; đào hơn 200 căn hầm bí mật, 4.000m địa đạo, trên 1.000m giao thông hào, làm 850m hàng rào chiến đấu, gài hơn 30 bãi tử địa để đánh địch… Nhân dân Bình Chuẩn cũng đã phải gánh chịu nhiếu mất mát, đau thương do kẻ thù gây ra. Hàng trăm người bị địch bắt cầm tù. Gần 200 người chết và bị thương vì bom đạn địch. Nhiều nhà cửa, của cải của người dân bị tàn phá. Toàn phường có 213 liệt sỹ, 46 thương, bệnh binh, 200 gia đình có công với cách mạng. Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hai cá nhân được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, 23 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; Đảng bộ, quân và dân Bình Chuẩn đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Ngoài ra, các tập thể và cá nhân được tặng thưởng 3 Huân chương chiến công hạng III, 70 danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ”, diệt xe cơ giới và hàng trăm huân chương các loại khác.  

Tôi may mắn được nhiều lần nghe các bác, các chú nguyên là cán bộ địa phương lâu năm và những người lớn tuổi kể về các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng của vùng quê giàu truyền thống cách mạng này. Mẹ Việt Nam Anh hùng Đỗ Thị Riệng ở khu phố Bình Qưới B chỉ có một người con duy nhất là anh Nguyễn Văn Rờn. Thương con, mẹ vất vả sớm hôm với mong muốn nuôi anh khôn lớn thành người. Không phụ lòng mẹ, anh đã cố gắng học tập, rèn luyện và trở thành nhà giáo trẻ tuổi, được mọi người tin yêu, mến phục. Nhưng rồi khi đất nước lâm nguy, mẹ đã  gác lại tình mẫu tử thiêng liêng để tiễn anh lên đường ra trận. Người con trai yêu quý của mẹ luôn nỗ lực hoàn thành mọi nhiệm vụ, được giao giữ chức Phó Chánh Văn phòng Huyện ủy Châu Thành lúc tuổi đời còn rất trẻ. Khi tương lai đầy triển vọng đang ở phía trước, anh đã ngã xuống nơi chiến trường, để lại cho mẹ nỗi đau thương vô hạn.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Đỗ Thị Riệng.

Trong một bài hát nổi tiếng về người Mẹ Việt Nam, có câu “Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ…”. Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Bưng ở khu phố Bình Phú không chỉ 2 mà cả 3 lần chịu nỗi đau đứt ruột mất con, bởi cả 3 người con trai của mẹ đã lên đường tham gia kháng chiến và vĩnh viễn không trở về. Các anh lớn lên là ra đi theo tiếng gọi của non sông, chưa ai một lần nắm tay người con gái nên khi các anh hy sinh tuổi thanh xuân và cả cuộc đời mình cho Tổ quốc, mẹ phải thui thủi sớm hôm một mình trong căn nhà tình nghĩa do địa phương xây tặng. “Mẹ già như chuối chín cây”. Trước giông bão của tuổi già và bệnh tật, ngày mẹ tạ thế rất đông người đưa tiễn nhưng không còn ai là máu mủ ruột rà của mẹ.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Đinh Thị Cưng ở khu phố Bình Phước B là cơ sở cách mạng trong hai cuộc kháng chiến. Gia đình mẹ đào gần chục căn hầm bí mật nuôi dấu cán bộ. Những năm 1962 - 1964, khu vực gia đình mẹ sinh sống (hiện nay thuộc địa bàn các khu phố Bình Phước A và Bình Phước B) thuộc quyền kiểm soát của ta, mẹ đã cùng chồng tích cực tham gia làm hầm chông, hố đinh, đào giao thông hào, xây dựng các ô, ụ chiến đấu chống các trận càn của giặc. Mẹ cũng thường xuyên tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội, du kích ở tuyến đầu đánh địch. Người con trai lớn của mẹ là anh Lê Văn On với cương vị Bí thư chi bộ xã đã có nhiều đóng góp cho phong trào cách mạng ở địa phương. Một ngày, anh được lệnh vào chiến khu nhận nhiệm vụ mới. Anh ra đi một thời gian, mẹ nhận tin vui anh đã cưới vợ nhưng rồi không bao lâu sau mẹ lại nhận tin đau như đứt từng khúc ruột: Người con trai yêu quý và cả người con dâu chưa một lần được gặp mặt của mẹ đã hy sinh nơi chiến trận. Đứa cháu nội của mẹ vừa ra đời đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải nhờ sự đùm bộc, cưu mang của các cán bộ chiến sỹ ở chiến khu. Theo đường dây của cách mạng, mẹ đón cháu mẹ về trong niềm vui mừng xen lẫn nỗi đau thương cháy lòng. Người con trai út của mẹ chưa đến tuổi thành niên đã một mực đòi ra đi cầm súng giết giặc trả nợ nước, thù nhà. Anh tham gia lực lượng du kích xã rồi hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương nhưng đến lúc nhắm mắt xuôi tay mẹ vẫn chưa tìm được hài cốt của anh.

Còn biết bao câu chuyện cảm động khác mà chúng ta không thể kể xiết. Mỗi Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng của chúng ta có cuộc sống và quá trình đóng góp cho cách mạng khác nhau nhưng có một điểm chung là các mẹ rất yêu chồng, thương con nhưng cũng nặng sâu lòng yêu nước. Khi Tổ quốc cần, các mẹ sẵn sàng hiến dâng những người thân yêu nhất của mình cho Tổ quốc với mong muốn thiết tha là đất nước được hòa bình thống nhất, mỗi người dân có cuộc sống hạnh phúc, ấm no. Giờ đây, niềm mong mỏi của các mẹ đã và đang trở thành hiện thực khi cuộc sống mới đã đâm hoa kết trái trên khắp đất nước tươi đẹp này.

Hòa chung với khí thế của cả nước, là dải đất hội tụ đủ 3 yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa, thành phố Thuận An nói chung và phường Bình Chuẩn nói riêng đã và đang trở thành trung tâm công nghiệp - đô thị nằm giữa “chùm” thành phố năng động của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tổ quốc. Trong những năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân phường Bình Chuẩn đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, trong đó có công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”. Các Mẹ Việt Nam Anh hùng lúc còn sống đều được các cơ quan, doanh nghiệp nhận phụng dưỡng suốt đời. Phong trào xây dựng và sửa chữa nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách khó khăn về nhà ở được đẩy mạnh. Gia đình các thương, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng thường xuyên được chăm lo về mọi mặt và đều có mức sống từ trung bình trở lên so với nhân dân địa phương. Một ngôi trường tiểu học ở khu phố Bình Phước B đã vinh dự được mang tên nữ Anh hùng Lê Thị Trung. Con em các gia đình chính sách cũng đã nỗ lực phấn đấu vươn lên trong học tập, lao động và công tác, góp phần tô thắm thêm truyền thống cao đẹp của vùng đất anh hùng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm