TIN TỨC

Tết Cồn Cù nhớ… lân ky!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-06 19:42:35
mail facebook google pos stwis
1893 lượt xem

TRẦN DŨNG

“Lân ky” không chỉ mang đến cho Cồn Cù một phong vị Tết kháng chiến độc đáo mà nó còn trở thành niềm tự hào của các thế hệ cư dân địa phương.

Xuân này theo chân mấy anh bạn cũ, tôi có dịp trở về đón Tết ở Cồn Cù sau gần ba mươi năm xa cách. Những đầu tư kết cấu hạ tầng của Nhà nước nhằm phát triển vùng kinh tế trọng điểm ven biển đã từng bước làm đổi thay diện mạo kinh tế - xã hội và đời sống người dân vùng căn cứ kháng chiến năm nào.

Chiếc cầu bê-tông vĩnh cửu thuộc loại lớn và đẹp nhất Trà Vinh, được chiếu sáng bởi hai hàng đèn cao áp, như vầng trăng non khổng lồ vắt ngang sông Long Toàn lịch sử, kéo dài Quốc lộ 53 ra tận bờ biển, nối Cồn Cù gần hơn với thị xã Duyên Hải và thành phố Trà Vinh. Sau ba nhà máy nhiệt điện, giờ những công trình điện mặt trời, điện gió hối hả mọc lên chuyển dần sang công nghệ tiên tiến của ngành năng lượng tái tạo, không gây ô nhiễm môi trường. Ngày đêm, trên Quốc lộ 53, đủ chủng loại xe cộ nối đuôi nhau vận chuyển các loại vật tư nguyên liệu ngành công nghiệp năng lượng ngược đường với hàng nông thủy sản, như vận chuyển cả niềm vui của bà con. Hai bên đường, đường dây cao thế, trung thế, hạ thế, dây điện thoại giăng ngang, mắc dọc tạo ra thế vững chãi cho bố cục của bức tranh xuân miền ven biển. Tỷ lệ nhà cơ bản, bán cơ bản lên đến hơn chín mươi phần trăm là hệ quả tất yếu của việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nghề muối truyền thống sang nuôi thủy sản và các loại dịch vụ khác. Trong dạt dào niềm vui, bên ly rượu nồng ấm nghĩa tình, câu chuyện xoay dần về với những kỷ niệm ngày xưa, vất vả cùng chiếc ky gánh muối…

Nghề muối đã làm cho đời sống người dân Cồn Cù gắn chặt với chiếc ky. Thực ra, người ta cũng không thể làm ra hột muối nếu không có chiếc xa quạt nước, chiếc trang cào… Nhưng xa quạt chỉ cần cho người chủ ruộng còn trang cào thì mỗi gia đình làm muối chỉ cần sắm một vài chiếc cũng đã là quá đủ. Trong khi đó, mỗi lao động làng muối - dù là chủ hay bạn - đều phải có cặp ky và chiếc đòn gánh. Nhà càng nhiều lao động thì càng nhiều ky, không ít gia đình có đến năm, bảy cặp ky. Gánh muối bằng ky tiện lợi hơn bằng thúng bởi ky dễ xúc, dễ đổ lại mau rỏ nước. Khác với những nơi khác, ky Cồn Cù rất đều nhau và có kích cỡ duy nhất là khoảng hai mươi lăm, hai mươi bảy lít, để mỗi gánh là một giạ “phủ bì” chắc ăn. Ky đã trở thành đơn vị đo lường duy nhất để xác định năng suất, sản lượng cũng như trong trao đổi, mua bán của nghề muối Cồn Cù trong suốt dọc dài lịch sử làng nghề.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Cồn Cù nói riêng và “Trường Long Hòa sắt thép” (khi ấy Cồn Cù là một ấp của Trường Long Hòa, sau tách ra thành lập xã Dân Thành) nói chung là căn cứ địa vững chắc của nhiều cơ quan, đơn vị vũ trang cách mạng tỉnh Trà Vinh và huyện Duyên Hải. Không chỉ vậy, Trường Long Hòa còn là một trong những mắc xích quan trọng, là bến tiếp nhận, lưu kho, phân phối một số lượng lớn vũ khí, trang thiết bị chiến tranh mà hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường đồng bằng sông Cửu Long theo tuyến đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển. Do vậy, từ Vùng IV chiến thuật cho đến Tiểu khu Vĩnh Bình, Chi khu Long Toàn, Chi khu Long Khánh… đều xem đây là mục tiêu tự do tác xạ, tự do oanh kích. Ba trận địa pháo từ Long Toàn, Long Khánh và từ Hạm đội Bảy của Mỹ túc trực trên Biển Đông cứ thay nhau cấp tập nhả đạn vô tội vạ, bất kể ngày hay đêm. Các loại máy bay chiến đấu đến phản lực, pháo đài bay B52… ngày đêm rình rập, sẵn sàng oanh kích bằng bom tấn, bom rải thảm, bom napalm… vào bất cứ mục tiêu nào được xem là tín hiệu sự sống của con người, dù là nhỏ nhất. Trên đường đi bắn phá, ném bom mục tiêu nào đó trở về, nếu còn bom đạn không sử dụng hết, chúng sẵn sàng “tặng không” một cách hào phóng cho vùng đất Cồn Cù. Mỗi khi hành quân càn quét vào đây, các đơn vị từ chủ lực, biệt kích đến bảo an luôn được “quán triệt tư tưởng” giết sạch, đốt sạch, phá sạch. Để sống và chiến đấu chính nơi kẻ thù ra sức hủy diệt, người dân Trường Long Hòa phải làm nhà âm vào lòng cát. Mọi sinh hoạt trên mặt đất chỉ diễn ra vào ban đêm.

Dưới sự hủy diệt của kẻ thù, Trường Long Hòa như bị băm nát. Gần trăm nóc nhà ở Cồn Cù không còn được vật dụng gì đáng giá nguyên vẹn, đến chiếc lu sành chứa nước ngọt lành lặn cũng không. Nhưng những chiếc ky vẫn hiên ngang tồn tại, thấm đẫm vị mặn của muối, của mồ hôi và cả máu người. Đêm, ky ra đồng gánh muối. Ngày, ky vào nhà âm cùng người nghỉ ngơi. Có thể nói, với người dân Cồn Cù những năm đó, chiếc ky là một phần của cuộc sống, của tâm hồn. Mà không chỉ ở thời điểm đó, ngày nay, dù đã khá giả với nghề nuôi tôm, nhiều gia đình ở đây vẫn trân trọng treo cặp ky ở góc nhà như một hoài niệm về quá khứ cơ cực mà hào hùng.

Dưới sự hủy diệt của kẻ thù, Trường Long Hòa vẫn bền bỉ một sức sống mãnh liệt. Dưới những ngôi nhà âm trong lòng cát, người ta vẫn bình thản sinh sống, bình thản cưới xin, bình thản sanh con đẻ cái, bình thản mở trường dạy học… Và, theo dòng tuần hoàn của thời gian, cứ đông tàn thì mùa xuân lại đến, bất chấp những khắc nghiệt của cuộc sống.

Bất ngờ, sáng mồng Một Tết năm Kỷ Dậu - 1969, cả ấp Cồn Cù vang động nhịp trống lân. Từ phía cuối giồng, một đoàn lân xuất hiện kéo theo đám trẻ con reo hò ầm ĩ, dần dần kéo luôn cả những người lớn tuổi rời khỏi nhà âm, nôn nả đón nàng xuân phơi phới như chưa hề có sự hủy diệt của chiến tranh. Lạ lùng thay, “trống lân” là những chiếc xoong, cái thau đã bung vành, hở bụng. “Đuôi lân” là chiếc cửa màn của đôi trai gái mới cưới nhau hồi trong năm. “Đầu lân” là chiếc ky gánh muối mới được bồi thêm mấy lớp giấy đủ màu vui mắt, có cả râu, cả miệng, cả mắt… Chiếc ky cùng con người cực nhọc ngày nào bỗng hóa thân thành niềm vui đón xuân trên vùng đất Cồn Cù đầy lửa đạn chiến tranh. Người cầm trống cứ tha hồ gõ nhịp một cách tùy thích. Vũ điệu của lân cũng là cảm hứng bất chợt của mấy thanh niên trong xóm chưa một lần được ai hướng dẫn, chỉ bảo. Thậm chí, nhiều chú, nhiều anh có tuổi sau năm ba ly rượu đón xuân cao hứng nhảy vào giành lấy đầu lân. “Lân ky” là sáng kiến của anh thương binh Ba Én - một cán bộ đại đội thuộc Tiểu đoàn 501 bộ đội địa phương tỉnh Trà Vinh, sau nhiều lần vào sanh ra tử được đơn vị cho về dưỡng thương tại Cồn Cù. Trong cuộc tập kích chiến lược Xuân Mậu Thân, chiến sĩ Ba Én cùng Tiểu đoàn 501 là đơn vị chủ công tiến công thọc sâu vào nội ô Trà Vinh. Giữa mưa bom bão đạn, bất ngờ anh nhận ra bên vệ đường Hàng me, nằm lăn lóc một chiếc đầu lân, mà chắc đoàn lân nào đó đang biểu diễn phục vụ người dân thì chiến sự ập đến, vội “bỏ của chạy lấy người”. Sau khi bị thương trở về căn cứ, hình ảnh chiếc đầu lân nằm lăn lóc khiến Ba Én nhiều đêm mất ngủ, với nghĩ suy làm sao mang niềm vui tương tự đến cho bà con vùng giải phóng.

Và, đoàn “lân ky” Cồn Cù ra đời từ những đêm dài thao thức đó!

Sau ba ngày vui chơi sôi nổi khắp xóm dưới làng trên, đoàn “lân ky” Cồn Cù trở nên “giàu có”. Những tặng phẩm như dưa hấu, bánh tét, mứt gừng… của các gia đình được “lân ky” đến chúc Tết đã theo chân đoàn lân mang niềm vui đến với những bà mẹ có con vừa hy sinh, những người chị có chồng đang ở chiến trường xa không thể về đón xuân, sum họp gia đình.

“Lân ky” không chỉ mang đến cho Cồn Cù một phong vị Tết kháng chiến độc đáo mà nó còn trở thành niềm tự hào của các thế hệ cư dân địa phương.

Sau ngày giải phóng, để người dân vùng căn cứ vốn chịu nhiều thiệt thòi trong chiến tranh có thêm niềm vui đón mừng xuân mới, UBND xã Dân Thành xuất tiền mua đầu lân, trống lân thật đẹp rồi lên tận thị xã Trà Vinh rước thầy về hướng dẫn thật bài bản, lớp lang. Sau gần hai tháng tập dượt, sáng mồng Một tết, đoàn lân phát pháo xuất hành đi về các ấp chúc Tết. Bất ngờ, từ phía Cồn Cù, đoàn “lân ky” xuất hiện trong nhịp xoong, nhịp chảo. Và cũng thật bất ngờ, bà con Dân Thành vẫn nhiệt tình ủng hộ đoàn “lân ky” có hình vóc thô sơ, vũ điệu hệch hạc ấy. Theo chân đoàn “lân ky”, vẫn cơ man quà tặng, nào là bánh tét, trái cây… hướng về những gia đình chính sách neo đơn. Muối mặt, đoàn lân thiệt xênh xang lân mới, trống đẹp hậm hực quay đầu.

“Lân thiệt đụng lân ky”, kỷ niệm ấy đến nay vẫn không phai mờ trong ký ức các thế hệ cư dân Cồn Cù.

Nguồn: Báo Văn Nghệ Tết Nhâm Dần.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm