TIN TỨC
  • Góc nhìn văn học
  • Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc

Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-28 23:21:50
mail facebook google pos stwis
15 lượt xem

Trong suốt 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025), văn học, nghệ thuật Việt Nam đã không ngừng phát triển, đồng hành cùng công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trên nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng và truyền thống dân tộc, văn học, nghệ thuật đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, phản ánh hiện thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.

 

Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc- Ảnh 1.

Hội thảo khoa học "Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất. Ảnh: VGP/Diệp Anh

 

Sáng 27/6, tại Hà Nội, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức Hội thảo khoa học "Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975-30/4/2025)".

Hội thảo nhằm tổng kết, đánh giá những thành tựu nổi bật của văn học, nghệ thuật Việt Nam trong 50 năm qua, với sự tham dự của gần 100 đại biểu là các chuyên gia, nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý, văn nghệ sĩ đến từ các viện nghiên cứu; các trường đào tạo văn hóa, nghệ thuật; các nhà hát, đơn vị nghệ thuật; hội văn học nghệ thuật chuyên ngành ở Trung ương và địa phương; cơ quan truyền thông.

 

Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc- Ảnh 2.

PGS. TS Nguyễn Toàn Thắng-nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: VGP/Diệp Anh

 

Khẳng định những giá trị ưu việt của văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam

Hội thảo cũng là diễn đàn khoa học hữu ích để các chuyên gia, nhà quản lý, văn nghệ sĩ cùng nhau đánh giá, phân tích, trao đổi về những thành tựu nổi bật đạt được và đề xuất những giải pháp thiết thực, góp phần vào sự phát triển bền vững của văn học, nghệ thuật nước nhà trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

33 tham luận cùng nhiều ý kiến trao đổi sôi nổi tại Hội thảo tập trung đánh giá sự vận động, phát triển văn học, nghệ thuật Việt Nam qua 50 năm đất nước thống nhất, chỉ ra những đặc điểm nổi bật của các giai đoạn phát triển, nhất là từ sau đổi mới (1986) đến nay; Phân tích nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong xây dựng và phát triển nền văn học, nghệ thuật nước nhà 50 năm qua; Đề xuất các giải pháp hữu hiệu để xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật Việt Nam thực sự là một thành tố quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đóng góp xứng đáng vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của các loại hình giải trí hiện đại, văn học, nghệ thuật nước nhà đang đứng trước nhiều thách thức mới: nguy cơ mai một bản sắc dân tộc, sự lệch chuẩn thẩm mỹ, khó khăn về cơ chế, chính sách phát triển và sự biến đổi trong thị hiếu công chúng. Những thách thức đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và xây dựng một môi trường văn hóa, nghệ thuật thuận lợi để văn học, nghệ thuật tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong thời đại mới.

Để thực hiện được điều đó, cần có sự vào cuộc mạnh mẽ và đồng bộ của các cơ quan hoạch định chính sách, các tổ chức nghề nghiệp, đội ngũ văn nghệ sĩ và toàn xã hội. Trong đó, vai trò của Nhà nước trong định hướng, đầu tư và bảo trợ cho sáng tạo nghệ thuật là then chốt; đồng thời, đội ngũ văn nghệ sĩ phải tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật.

PGS. TS Nguyễn Toàn Thắng- nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho biết, văn học, nghệ thuật Việt Nam từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay (1975-2025) đã kế thừa và phát triển những nguyên lý mỹ học của chủ nghĩa Mác-xít, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được khẳng định bằng những thành tựu to lớn của văn học, nghệ thuật kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc (1955-1975). Trong tiến trình phát triển văn học, nghệ thuật của đất nước, mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị đã được cụ thể hóa thành một nguyên tắc: Văn học nghệ thuật đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, năm 1960, Đảng ta nêu rõ đường lối văn nghệ: "Phát triển nền văn nghệ mới với nội dung XHCN và tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc. Nắm vững phương pháp hiện thực XHCN, phấn đấu có thêm nhiều tác phẩm phản ánh chân thực cuộc sống mới, con người mới, góp phần giáo dục động viên nhân dân đấu tranh cho cách mạng XHCN và cho sự nghiệp thống nhất nước nhà". Để sáng tạo nghệ thuật thì nhân tố lý tưởng chính trị, tư tưởng chính trị của nhà nghệ sĩ có ý nghĩa hết sức quan trọng.

PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng cũng chỉ ra một số xu hướng vận động, phát triển chủ yếu của văn học, nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 1975-2025, đó là xu hướng đổi mới tư duy nghệ thuật, tìm tòi sáng tạo, đa dạng hóa về phương pháp sáng tác; xu hướng đẩy mạnh dân chủ hóa, nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ; xu hướng đề cao giá trị nhân bản trong văn học, nghệ thuật và xu hướng hiện đại hóa văn học, nghệ thuật trong hội nhập quốc tế ngày càng rộng mở.

PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng cho rằng, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức trên khắp mọi miền của Tổ quốc đều rất tâm huyết với đất nước và dân tộc, đã chủ động kế thừa những tinh hoa văn học, nghệ thuật trước 1975, tiếp tục khẳng định những giá trị ưu việt của văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam, tiếp biến các giá trị văn học, nghệ thuật nhân loại, mạnh dạn đột phá, sáng tạo, phát triển tư duy nghệ thuật trên những tầm cao mới để sáng tác ra tác phẩm với những gợi dẫn mới cho sự phát triển, đáp ứng tốt yêu cầu hội nhập với các nền văn hóa, văn học, nghệ thuật thế giới đương đại, tích cực thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn hóa, văn học, nghệ thuật nước nhà, góp phần chấn hưng, xây dựng và phát triển nền văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chuyển đổi số, xây dựng xã hội số, văn hóa số, công dân số, tiến bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phát triển nhanh và bền vững đất nước.

 

Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc- Ảnh 3.

NSND Trần Ly Ly-Chủ tịch Hội đồng trường Học viện Múa Việt Nam phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: VGP/Diệp Anh

 

Giáo dục đào tạo nghệ thuật cần phát triển theo hướng mở, linh hoạt và liên ngành

NSND Trần Ly Ly-Chủ tịch Hội đồng trường Học viện Múa Việt Nam cho rằng, trong thời kỳ toàn cầu hóa, ngành Giáo dục nghệ thuật - đặc biệt là lĩnh vực múa đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức lớn. Công nghệ, mạng xã hội, giao lưu quốc tế, và sự dịch chuyển lao động toàn cầu đã làm thay đổi nhu cầu, phương thức tiếp cận nghệ thuật và tư duy đào tạo truyền thống. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong thị trường biểu diễn quốc tế cùng với yêu cầu cao về chất lượng nghệ sĩ, tính sáng tạo và năng lực hội nhập văn hóa, đòi hỏi ngành đào tạo múa và các ngành nghệ thuật khác phải nhanh chóng đổi mới để thích nghi.

Do đó, NSND Trần Ly Ly đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác đào tạo ngành Múa và các ngành nghệ thuật khác nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế trong công tác giáo dục đào tạo ngành múa và các ngành nghệ thuật khác hiện nay, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của đất nước và thời đại. Trước hết, cần xác định lại mục tiêu đào tạo là xây dựng đội ngũ giảng viên và nghệ sĩ có tư duy toàn cầu. Hỗ trợ phát triển cá nhân nâng cao năng lực quản lý nghệ thuật, truyền thông, sáng tạo cá nhân. Cụ thể ngoài việc đào tạo đồng đều, phát hiện và có kế hoạch đào tạo cá nhân hoá cho những cá nhân xuất sắc, có năng lực. Mặt khác, giáo dục đào tạo nghệ thuật cần phát triển theo hướng mở, linh hoạt và liên ngành, khuyến khích tư duy phản biện, sáng tạo và năng lực hội nhập. Xây dựng chương trình đào tạo tích hợp: kỹ thuật múa - biên đạo - quản lý nghệ thuật - công nghệ sân khấu. Chú trọng, đẩy mạnh lập các nhóm chuyên gia xây dựng giáo trình, bài giảng các học phần múa: Để xây dựng giáo trình múa hiệu quả, cần xác định rõ mục tiêu đào tạo gắn với yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế. Nội dung giáo trình phải đảm bảo tính chuyên sâu, tích hợp kỹ thuật múa truyền thống và hiện đại, kết hợp lý thuyết và thực hành. Cần cập nhật kiến thức mới, ứng dụng công nghệ, khuyến khích sáng tạo cá nhân và phát triển kỹ năng biểu đạt nghệ thuật phù hợp với từng độ tuổi và trình độ người học.

Bên cạnh đó, theo NSND Trần Ly Ly cần tăng cường ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, luyện tập, ghi hình, biên đạo và tổ chức biểu diễn xây dựng thư viện tư liệu múa và các nghệ thuật khác điện tử: hiện nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, việc ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin trong dạy - học là cần thiết để tiết kiệm thời gian, lưu giữ thành tựu vô cùng hữu ích. Thiết lập liên kết đào tạo với các cơ sở nghệ thuật trong và ngoài nước, qua đó tạo điều kiện trao đổi học viên, giảng viên, biểu diễn và học bổng quốc tế. Tạo cầu nối với thị trường nghệ thuật quốc tế. Thúc đẩy nghiên cứu nghệ thuật gắn với bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trong môi trường toàn cầu. Đổi mới nhưng cần nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản săc dân tộc. Đồng thời, đẩy mạnh giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành Múa và nghệ thuật. Đổi mới mô hình đánh giá học viên theo hướng thực hành, sáng tạo cá nhân và dự án liên ngành. Phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp sử dụng nhân lực ngành Múa và các ngành nghệ thuật khác sau đào tạo. Có cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ giảng viên, giáo viên vừa giảng dạy, vừa tham gia biểu diễn, sáng tạo nghệ thuật; thu hút nhân tài, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú tham gia đào tạo, truyền dạy chuyên môn, nghiệp vụ.

Cuối cùng, NSND Trần Ly Ly cho rằng, cần chú trọng đến vấn đề nuôi dưỡng khán giả và thế hệ nghệ sĩ trẻ, bởi khán giả mới là người thưởng thức, nhà phê bình nghệ thuật quan trọng nhất. Tổ chức các cuộc thi, chương trình truyền hình thực tế về múa, về nghệ thuật để truyền cảm hứng cho giới trẻ. Muốn vậy ngay từ sớm phải đưa các bộ môn múa và nghệ thuật vào trường học từ bậc tiểu học dưới dạng nghệ thuật trải nghiệm, giáo dục năng lực cảm thụ nghệ thuật cho các em. Đưa nghệ thuật đến trường học để giáo dục tình yêu nghệ thuật, đam mê nghệ thuật từ nhỏ cho các bé.

"Tác phẩm nghệ thuật giá trị nhất xét đến cùng chính là tác phẩm được nhiều người muốn xem, muốn tìm hiều và cần tìm hiểu, càng xem càng đam mê, cuốn hút. Tận dụng mạng xã hội như: Facebook, Zalo, TikTok để nuôi "khán giả cộng đồng", hãy làm sao để những tiết mục biểu diễn trong trường học hay trên mạng xã hội khiến cho các em sống trong tác phẩm, khóc cười theo tiết mục, "một người khán giả rơi lệ vì tác phẩm quý hơn ngàn lượt view ảo hay bất kỳ giấy khen, giải thưởng nào khác", NSND Trần Ly Ly nói.

 

Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc- Ảnh 4.

Nhà giáo, nhà nghiên cứu Trần Hinh (Đại học Quốc gia Hà Nội) phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: VGP/Diệp Anh

 

Xây dựng chế độ đãi ngộ đặc thù và tạo động lực sáng tạo

Đối với công tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật, Nhà giáo, nhà nghiên cứu Trần Hinh (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã chỉ ra những hạn chế mà nền lý luận văn học Việt cần phải khắc phục, đó là tuy có nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật cập nhật những vấn đề hiện đại nhất của lý luận phê bình phương Tây đã được công bố, nhưng việc giới thiệu nên có lựa chọn đích đáng hơn, tránh những vấn đề lý luận cực đoan, không phù hợp với yêu cầu lý luận phê bình trong nước, làm mất thời gian của người đọc và không có lợi cho việc dạy và học trong trường. Phải cân đối sao cho phù hợp việc giới thiệu những trào lưu lý thuyết và phương pháp tiếp cận tác phẩm lý luận phê bình, xích lại gần hơn việc giảng dạy và học tập trong nhà trường với những hoạt động lý luận phê bình bên ngoài xã hội; tận dụng những tiến bộ trong công nghệ số, công nghệ AI, để tránh việc trùng lặp trong nghiên cứu, phê bình và dịch thuật; tăng cường những bài viết quốc tế giới thiệu nền lý luận phê bình trong nước.

Theo nhà nghiên cứu Trần Hinh, cần tránh tình trạng không đồng đều giữa việc giới thiệu, giảng dạy lý luận phê bình trong nước và thế giới, giữa phương Đông và phương Tây; tăng cường những công trình giới thiệu và dịch thuật có tính chất liên ngành, nhất là với những ngành văn học, nghệ thuật gần gũi nhau như văn học, sân khấu, điện ảnh. Tại khoa Văn học, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội nhiều năm qua đã thực hiện chương trình này. Nhiều công trình dịch thuật về nghệ thuật điện ảnh đã được đưa vào giảng dạy cho cả sinh viên văn học và biên kịch điện ảnh. Đó là một hướng rất đáng khích lệ hiện nay.

Việc đào tạo các thế hệ kế cận giảng dạy và nghiên cứu văn học nói chung, văn học phương Tây nói riêng, đang bị thiếu hụt một cách trầm trọng. Do phải điều chỉnh chương trình đào tạo trong thời kỳ mới, thời gian giảng dạy văn học nước ngoài nói chung và văn học phương Tây nói riêng, bị cắt giảm rất nhiều, số lượng giảng viên phụ trách môn học này ở một số khoa chuyên ngành thuộc Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học KHXH&NV, ở con số thấp một cách đáng báo động. Trong khi, việc tiếp thu, tiếp nhận và nhu cầu hiểu biết văn học nước ngoài nói chung và LLPB văn học nước ngoài nói riêng, vẫn cần phải được duy trì và phát triển.

"Nếu không sớm khắc phục hạn chế này, đội ngũ những nhà nghiên cứu phê bình, dịch thuật văn học nước ngoài nói chung và phương Tây nói riêng sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng", nhà nghiên cứu Trần Hinh cảnh báo.

Đồng tình với quan điểm trên, NSUT Lộc Huyền cho rằng, hiện nay chúng ta đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực sáng tạo và hạn chế trong quy trình đào tạo và chính sách đãi ngộ. Do đó để đảm bảo sự phát triển bền vững cho văn học, nghệ thuật Việt Nam nói chung và sân khấu nghệ thuật truyền thống nói riêng trong bối cảnh hội nhập cần tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên sâu và giao lưu quốc tế. Sau khi quyết định sáp nhập các loại hình nghệ thuật được ban hành, cụ thể là sáp nhập ba nhà hát tuồng, chèo, cải lương, cần có chính sách rõ ràng để giải quyết chế độ cho một số nghệ sĩ được về hưu trước tuổi một cách hợp lý. Đối với các nghệ sĩ còn lại, cần tổ chức các chương trình tập huấn chuyên môn hằng năm về hát, múa, diễn, hóa trang của loại hình nghệ thuật mà họ đang theo đuổi. Đặc biệt quan trọng là phải tạo điều kiện để nghệ sĩ tham gia các chương trình tập huấn giao lưu với các loại hình nghệ thuật truyền thống của các nước bạn, như Kinh kịch của Trung Quốc, kịch Noh của Nhật Bản hay kịch mặt nạ của Pháp. Việc học hỏi, cọ xát với tinh hoa nghệ thuật thế giới sẽ giúp nghệ sĩ tuồng mở rộng tầm nhìn, tiếp thu những phương pháp dàn dựng, biểu diễn mới mẻ mà vẫn giữ vững bản sắc riêng.

Bên cạnh đó, cần nâng cao vị thế trong các nhiệm vụ chính trị quốc gia. Các chương trình biểu diễn nghệ thuật đại diện cho nền văn hóa truyền thống Việt Nam cần được ưu tiên và có vị thế xứng đáng trong các nhiệm vụ chính trị lớn của quốc gia. Trong các kỳ cuộc lớn về giao lưu văn hóa, hay các buổi biểu diễn phục vụ các cấp lãnh đạo trong nước và quốc tế, cần có sự hiện diện của các nghệ sĩ sân khấu truyền thống. Điều này không chỉ là sự tôn vinh mà còn là cơ hội vàng để quảng bá hình ảnh, giá trị của tuồng đến đông đảo công chúng trong nước và bạn bè quốc tế, khẳng định bản sắc văn hóa Việt.

Xây dựng chế độ đãi ngộ đặc thù và tạo động lực sáng tạo. Cần có một chế độ bồi dưỡng đặc thù dành cho các nghệ sĩ kịch hát truyền thống, phản ánh đúng tính chất lao động và sự cống hiến của họ. Mức thù lao cho các tác giả, đạo diễn và những người làm công tác quản lý, sáng tạo cần được nâng cao, tương xứng với chất xám và công sức họ bỏ ra. Chính sách này sẽ là động lực quan trọng để thúc đẩy niềm yêu nghề, khuyến khích sự gắn bó, gìn giữ, sáng tạo và phát triển nghề. Việc đảm bảo chế độ đãi ngộ công bằng sẽ giúp giữ chân những tài năng hiện có và thu hút những người trẻ đến với nghề. Qua đó, nghệ thuật truyền thống - vốn là kết tinh văn hóa dân tộc qua các thời kỳ lịch sử đấu tranh và gìn giữ đất nước - sẽ tiếp tục là thành tố quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đóng góp xứng đáng vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.

 

Văn học, nghệ thuật Việt Nam không ngừng phát triển, đồng hành cùng dân tộc- Ảnh 5.

Ông Lương Đức Thắng-Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ VHTTDL) phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: VGP/Diệp Anh

 

Ông Lương Đức Thắng-Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ VHTTDL) cho rằng, cần phải tạo ra những hành lang pháp lý để văn học nghệ thuật thực sự có điều kiện phát triển một cách mạnh mẽ, đúng định hướng, nhưng vẫn đảm bảo thỏa sức sáng tạo của các văn nghệ sĩ.

"Làm sao ban hành được những chính sách thiết thực, khơi thông nguồn lực tốt nhất, để các văn nghệ sĩ có thể thỏa sức sáng tạo. Ngược lại văn nghệ sĩ cũng phải dùng ngòi bút của mình để phản ánh những mặt chưa đúng với bản chất mà chúng ta đang xây dựng về nền văn hóa cách mạng Việt Nam, vì đó là bản sắc dân tộc, là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Đây là một việc rất khó khăn nhưng phải làm", ông Lương Đức Thắng nhấn mạnh.

Ông Lương Đức Thắng kỳ vọng với sự nhiệt huyết, sáng tạo của các văn nghệ sĩ, trong thời gian tới tiếp tục nhận được sự đồng hành của các văn nghệ sĩ để có những tác phẩm mang tầm của thời đại, có thể lan tỏa rộng rãi vươn tầm quốc tế, vững bước vào kỷ nguyên mới.

Diệp Anh

Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Có một sự đồng điệu giữa văn hoá và nghệ thuật Việt-Pháp
Thierry kể về Paris những năm tuổi trẻ. Nhà của Thierry cách trường Sư phạm ENS Paris chừng mười lăm phút đi bộ. Ông nói về các quán cà phê nơi giới trí thức Pháp từng tranh luận thâu đêm, về những phòng tranh nhỏ ở Saint-Germain-des-Prés, về Foucault với những suy tư sâu thẳm về con người và tự do. Khi nhắc đến Foucault, giọng ông chậm lại như đang nhớ về một người bạn cũ đã ra đi rất xa. Sau đó Thierry hỏi Tú rằng tại sao anh lại đến ven sông Sài Gòn để làm mỹ thuật.
Xem thêm
Văn học trong kỷ nguyên số
Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới và công nghệ mới, những thay đổi lớn đã diễn ra trong cách sáng tác và đọc văn học. Đặc biệt là sự phổ biến của văn học trực tuyến và đọc điện tử, đã làm thay đổi rất nhiều cấu trúc và hệ sinh thái văn học truyền thống. Trong cuộc cách mạng thông tin và truyền thông sâu rộng này, văn học thời đại số sẽ đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Xem thêm
Người trẻ và văn chương tìm đường gặp nhau
Trong thời đại số, chỉ với một cú chạm màn hình, giới trẻ có thể tiếp cận vô vàn nội dung giải trí và tri thức, khiến những trang văn cần đọc chậm, chiêm nghiệm dần đánh mất vị trí trung tâm trong thói quen tiếp nhận.
Xem thêm
Văn học có thực sự chữa được cô đơn?
Ngày nay, thông qua mạng xã hội và các phương tiện công nghệ, con người kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng một thực tại lại xảy ra: Dường như con người đang cô đơn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, văn học nghệ thuật được kỳ vọng là sợi dây hàn gắn liên kết giữa người với người. Liệu một cuốn sách có thể mang tới sự gắn kết? Từ những cuộc đối thoại trong chuỗi sự kiện Những ngày Văn học châu Âu 2026, câu hỏi ấy đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xem thêm
Nhà văn làm báo ở chiến trường - Trên tuyến đầu chống Mỹ - Tất cả cho ngày thống nhất non sông
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, văn nghệ sĩ vào chiến trường rất sớm. Đã sớm hình thành một “binh chủng văn nghệ sĩ” tại chiến trường vừa cầm trực tiếp cầm súng vừa trực tiếp sáng tác, đây là một điều đặc biệt của cuộc chiến tranh, một dấu ấn đặc sắc, để sau này nhìn lại chúng ta càng nhận thức rõ nét hơn, ý thức sâu sắc hơn về chiến tranh, để từ đó xây dựng vững chắc nền hòa bình với sự hiểu biết và trưởng thành của con người Việt Nam thời đại mới.
Xem thêm
Giữ trẻ em ở lại với văn chương
Áp lực học hành, nhịp sống gấp gáp và sức hút của giải trí số khiến trẻ em đang dần xa những trang sách. Để văn học thiếu nhi tìm lại vị trí trong đời sống hôm nay, điều quan trọng không nằm ở tác phẩm hay, mà ở môi trường đọc được nuôi dưỡng bền bỉ từ gia đình, nhà trường, người viết, nhà xuất bản và toàn xã hội. Từ đó, trẻ có thêm những khoảng lặng để mơ mộng, tưởng tượng và lớn lên cùng văn chương.
Xem thêm
AI “lên ngôi” văn đàn sẽ làm méo mó văn chương
Thuật toán AI khi được huấn luyện để “sáng tác” văn học thực chất là hành vi bóc lột sức lao động vốn hết sức vất vả, lao tâm khổ tứ của nhà văn, “cướp công” sáng tạo của họ. Trong khi đó, các ông chủ AI lại nghiễm nhiên hưởng lợi không chính đáng từ trí tuệ, mồ hôi, tâm sức lao động của nhà văn. Không chỉ vậy, khi những thuật toán AI lạnh lùng, vô cảm “sáng tạo” văn chương có thể sinh ra những đứa con tinh thần có hình hài nhưng không lành lặn sẽ dẫn đến sự dễ dãi, lệch lạc trong tiếp nhận tác phẩm của công chúng. Nguy hại nhất là AI có thể “giết chết” lý tưởng, khát vọng, động cơ, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính của nhà văn. Nói mỉa mai, chua chát như một nhà văn, nếu để AI “lên ngôi” văn đàn thì nó không chỉ cướp “chiếc cần câu cơm” của nhà văn mà còn hủy hoại tương lai sự nghiệp sáng tác của họ.
Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm
Biết không hay sao vẫn lao vào?
Trong lĩnh vực văn học, đã có trường hợp sử dụng AI để sáng tác đăng báo, thậm chí in thành sách. Dẫu biết, khi sử dụng AI, tác phẩm sẽ thiếu cảm xúc, khó tạo nên giọng điệu riêng, nhưng vì lợi nhuận, vì sốt ruột nổi tiếng, người ta vẫn lao vào.
Xem thêm
Chuyên đề: Chống AI lũng đoạn văn chương
Không còn là chuyện có nên hay không sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tác văn học nữa, mà thực tế đang đặt ra yêu cầu ứng phó với việc lợi dụng, lạm dụng AI để tạo nên những sản phẩm mang tên tác giả cụ thể nhưng không thấm mồ hôi của lao động nghề nghiệp, không “đóng dấu” được bản sắc của người viết.
Xem thêm
Thời cơ mới cho sáng tạo văn học - nghệ thuật
Năm 2025 là một năm in dấu đậm trong lịch sử phát triển của đất nước, không chỉ bởi kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mà còn là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị - xã hội quan trọng; kịp thời nhìn lại những tác động xã hội nhiều mặt, đồng thời rút ra nhiều vấn đề đáng và cần để tổ chức tốt hơn cho hoạt động kỉ niệm 100 năm ra đời của Đảng (1930 - 2030), 100 năm ra đời của chế độ mới (1945 - 2045) với nội dung thiết thực, nhiều hình thức mới mẻ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xem thêm
Học sinh “đánh thức” văn học bằng trải nghiệm sáng tạo
Không dừng lại ở việc học văn qua trang sách, học sinh Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) đã biến văn chương thành một hành trình trải nghiệm đa giác quan. Dự án “Tiếng tơ lòng” cho thấy một hướng tiếp cận mới: đưa văn học dân gian và văn học trung đại sống lại trong đời sống hiện đại, bằng chính sự sáng tạo và cảm xúc của người học.
Xem thêm
Thúc đẩy việc dạy và học tiếng Việt trong thế hệ trẻ kiều bào tại Hàn Quốc
Ngày 12/4, Tọa đàm với chủ đề “Thực trạng và giải pháp phát triển việc giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc” đã diễn ra tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc.
Xem thêm
Bốn văn nhân, một mạch văn chương
Bốn con người, bốn phong cách, nhưng cùng chung một mạch nguồn: đi ra từ chiến tranh, sống và viết bằng trải nghiệm thật, và giữ trọn sự tử tế với văn chương.
Xem thêm
Văn chương Việt trong vòng xoáy AI
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đưa văn chương và người đọc vào thời khắc chuyển mình chưa từng có. Nó có thể được xem là công cụ hỗ trợ người viết, cũng gợi mở vô số thách thức cùng các áp lực mới cần đối mặt.
Xem thêm
Nỗi trăn trở của người làm chính sách trước những vấn đề nhân sinh
Những ngày gần đây, dư luận xã hội không khỏi bàng hoàng trước thông tin gần 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh bị tuồn ra thị trường, len lỏi vào cả bữa ăn học đường. Những mâm cơm tưởng như an toàn nhất - nơi trẻ em ăn uống mỗi ngày - bỗng trở thành tâm điểm của nỗi lo lắng. Phụ huynh hoang mang, nhà trường lúng túng, cơ quan quản lý khẩn trương rà soát, còn người làm chính sách thì không khỏi trăn trở.
Xem thêm
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
Xem thêm