TIN TỨC

Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-04 00:09:00
mail facebook google pos stwis
420 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.

 

Ảnh Khu du lịch Mũi Cà Mau (Nguồn: Vietourist)

 

Từ vẻ đẹp huyền thoại miền đất mũi Cà Mau…

Trong một lần đến Cà Mau giúp tôi cảm nhận được nét thú vị hấp dẫn của miền đất này. Nếu điểm cực Bắc nước ta là dãy núi Lũng Cú (Đồng Văn – Tuyên Quang) địa linh hùng vĩ hoang sơ cao trên 1.000m thì đảo Hòn Khoai – cực nam Tổ quốc – cao trên 300m lại cho ta cảm giác trẻ trung êm đềm giàu có. Nằm ở cửa ngõ tiếp giáp giữa biển Đông và vịnh Thái Lan, vùng biển được đánh giá có nguồn lợi hải sản giàu nhất nước, khí hậu quanh năm ôn hòa, thảm thực vật trên đảo còn nguyên sinh và cách mũi Cà Mau chỉ 1 giờ đường biển… có thể nói quần đảo Hòn Khoai (gồm 1 đảo lớn Hòn Khoai có 4km² và 4 đảo nhỏ) đang hứa hẹn là điểm du lịch rất hấp dẫn! Và cửa biển Rạch Gốc của xã Tân An anh hùng – với lịch sử hết sức thân thiết với Hòn Khoai, lại là nơi ngắn nhất nối giữa Hòn Khoai với thành phố Cà Mau – sẽ thu hút ngày càng nhiều du khách tìm về. Người dân Tân An hiền hòa mến khách. Đất rừng, sông biển dồi dào, có nhiều đặc sản quý hiếm như: cá đuối, cua khoai, ba khía, tôm bạc, ốc len… như đang mời gọi du khách muôn phương! Không phải ngẫu nhiên mà thi sĩ Xuân Diệu đã viết nên câu thơ độc đáo: “Tổ quốc tôi như một con tàu, Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau[1]. Truyền thuyết rằng: khi những cư dân đầu tiên từ miền Trung nước Việt neo lại nơi vùng đất cực Nam xa xôi ngút ngát rừng đước… mọi người thiếp đi vì quá mệt mỏi bởi sóng to, gió chướng. Bỗng trời loé chớp liên tục, trong đêm đen, xuất hiện một đám mây vàng khổng lồ hình con rồng sà xuống hà hơi tiếp sức cho đoàn di dân… Mọi người choàng tỉnh, vội làm lễ tạ trời đất, cho rằng đây là điềm hay, là nơi “đất lành chim đậu”, xin nhận nơi đất mới dưới chân là quê hương thứ hai. Cũng từ đó, mỏm đất này có tên Khai Long. Khai Long chính là bãi đất bồi mũi Cà Mau. Trong khi xung quanh vùng đất mới bồi này (mỗi năm bãi Khai Long tiến ra biển cả trăm mét) là bùn sinh, thì lạ kỳ thay Khai Long lại mềm mại níu chân chúng ta bằng ngàn vạn gợn sóng cát màu đen pha vàng, pha lẫn những bọt biển trắng.Và về đất biển Cà Mau thấy “Xuồng ghe ngày đêm không ngớt/Người Cà Mau dễ thương vô cùng” (lời ca khúc nổi tiếng “Áo mới Cà Mau”). Những ca từ bài hát này đã thôi thúc tôi về với Năm Căn – Đầm Dơi lừng danh. Nơi đây không chỉ có đất trời thêm rộng lớn đến bao la vô tận mà còn là cái nôi sinh ra những người con anh dũng trưởng thành trong lòng đất Mẹ Việt Nam. Mảnh đất tận cùng, nhỏ nhoi xa xôi này của đất Mẹ, dẫu chỉ mới có tên trên bản đồ nước ta hơn 300 năm – so với hơn 4000 năm lịch sử hào hùng của dân tộc song ai đến cũng chẳng nỡ rời xa:

Đường về Rạch Gốc mịt mùng
Lao xao cảnh đước nao lòng thốt tim
Chèo ghe mái nổi, mái chìm
Thương em nhớ biển bậu tìm không nguôi…

Không ai biết tác giả câu hát ấy là ai, nhưng nghe lên là thấy ngay hồn miền Tây – nồng, sâu và chân tình như dáng người chèo ghe khuất dần dưới hoàng hôn.

…Đến Hà Tiên – An Giang, miền xứ xa của dải đất Việt

Rời Cà Mau, tôi theo quốc lộ 80 – đường hành lang ven biển để đến Hà Tiên – tỉnh An Giang, miền đất có tên nghe đã thấy phảng phất phong vị cổ tích. Chúng tôi đến Phường Hà Tiên – Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang), miền đất hẹp cuối trời Tây Nam tổ quốc vào buổi chiều tà. Không gian lác đác mưa làm cái nắng dịu đi. Mây mù làm nước biển không còn xanh như vốn có. Nhưng thời tiết không làm mất đi cái nhịp sống đang đổi thay của Hà Tiên. Người bạn đồng nghiệp cùng đi với tôi vốn là một người thường xuyên qua lại miền đất này, nhưng hôm đó cũng ngỡ ngàng trước những đổi thay của Hà Tiên. Sau ngày đất nước thống nhất, Hà Tiên chỉ là một thị xã nhỏ bé, vài vạn dân, thưa thớt mấy dãy phố. Nhưng hôm này Hà Tiên đã có một gương mặt mới. Đường phố rộng khang trang, thẳng tắp. Biển đảo vốn là đặc điểm nổi bật của miền đất Hà Tiên. Vùng biển Hà Tiên khá rộng, bờ biển dài khoảng 72 km có nhiều mũi đất nhô ra như Mũi Nai, Bãi Ớt, Ông Thầy. Các mũi đất nối nhau bằng những đường ven biển tạo thành các vịnh nhỏ như vịnh Thuận Yến, Ba Hoà, Hang Tiền, Hòn Trẹn. Đặc biệt, bãi biển Hà Tiên có nhiều cát vàng.

Cùng với đặc trưng về biển, đảo, nhiều người biết đến Hà Tiên không chỉ là mảnh đất có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất qua các thời kỳ giữ nước của dân tộc ta mà nơi đây còn nổi tiếng là một địa danh có nhiều danh thắng lịch sử, cảnh đẹp để tham quan, nghỉ mát như đồi Pháo Đài, Bình San, Chùa Tiêu, Gia Thành, Thạch Động, Châu Nam, Đông Hồ, Nam Phố, Lộc Trĩ, Lư Khê…Bãi Dương, Hòn Trục, Chùa Hang, Hòn Phu đang được chỉnh trang tu bổ tôn tạo. Mỗi địa danh như một cánh cửa mở sâu vào lịch sử của mảnh đất phương xa. Tôi đã từng đọc “Hà Tiên thập cảnh” của Mạc Thiên Tích, có câu: “Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình/Non non nước nước gẫm nên xinh”[2]. Nhưng phải đến khi đứng ở chân núi Bình San, tôi mới hiểu tại sao tiền nhân phương Nam chọn nơi này làm trung tâm văn hóa. Hôm đến Hà Tiên chúng tôi đã chứng kiến từng đoàn người từ TP. Hồ Chí Minh, từ Vĩnh Long, Châu Đốc, Rạch Giá …tới chiêm ngưỡng một vùng núi non hùng vĩ, thơ mộng.

Trong kháng chiến, nơi đây là căn cứ địa cách mạng của quân và dân Hà Tiên, ghi nhiều chiến tích oai hùng. Và trong chuyến đi ấy, tôi không thể không đến khu di tích tưởng niệm chị Sứ (nguyên mẫu Phan Thị Ràng hy sinh khi mới 25 tuổi) – người nữ anh hùng quê Hòn Đất - tại xã Thổ Sơn, tỉnh Kiên Giang (cũ). Từ nguyên mẫu chị đã trở thành nguồn cảm hứng để nhà văn Anh Đức viết nên hình tượng chị Sứ trong tiểu thuyết “Hòn Đất” nổi tiếng. Hình tượng chị đã trở thành biểu tượng khơi dòng lịch sử ghi lại một cách chân thực cách mạng miền Nam trong giai đoạn chiến tranh đặc biệt cùng với những chiến sĩ giải phóng miền Nam nghĩa khí, bộc trực, nhân ái…Đã 63 năm trôi qua kể từ ngày chị ngã xuống, Hòn Đất hôm nay đã thành xã rộng lớn nhất, nhì tỉnh An Giang, đất lúa mênh mông hơn 60.000 ha, mùa nào cũng trĩu vàng. Những cánh đồng chạy dài ngút tầm mắt. Trẻ em tung tăng trên đường, những chiếc xe chất hàng nặng trĩu chạy về chợ. Từ vùng quê từng khốc liệt, nay hiền bình như hơi thở mẹ ru. Trên con đường trở về, tôi nghĩ nhiều về hai chữ “di sản”. Di sản không chỉ là cảnh đẹp của biển trời, hang động, bãi cát vàng hay rừng đước mênh mang, di sản còn là con người – những người dân Tân An hào sảng, những chiến sĩ Kiên Giang bất khuất, những bà má miền Tây hiền từ chất phác bền bỉ như nước phù sa. Chúng ta đi, để thấy đất nước rộng lớn, để yêu những điều bình dị mà khó quên. Và để một ngày nào đó, khi nhìn lên bản đồ Việt Nam, ta biết rằng mỗi miền đất đều chứa đựng giá trị thiêng liêng của các thế hệ cha ông để lại.

Đất Mũi – mảnh đất cuối trời Nam hay Hà Tiên – miền xứ xa là nơi sóng bể đã và đang viết tiếp những câu chuyện của tiền nhân. Hai miền ấy như hai cánh cửa mở ra tương lai. Giờ đây, thời khắc lịch sử đang mở ra đi đến chân trời mới. Và tôi tin, trong sự phát triển mạnh mẽ của hôm nay, những vùng đất ấy vẫn sẽ giữ được cái hồn sâu thẳm của mình – nơi Tổ quốc vươn mình ra biển lớn, vẫn dâng cho Đất Mẹ Việt Nam biết bao niềm tin yêu muôn đời bất diệt./.   

N.P.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm