TIN TỨC

Ai về nơi ấy cho tôi biết…

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-03-25 11:15:24
mail facebook google pos stwis
1561 lượt xem

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

Có khi nào dọn đến ngôi nhà, ta tự hỏi: Ai đã sống nơi này trước khi ta đến?

Có đấy. Khi tôi một mình ôm đứa con 6 tuổi vào thành “người Saigon” chưa có nhà cửa, ở nhờ nhà chị gái- đúng ngôi nhà tại Quận 5 của một vị tướng nổi tiếng của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước đây.

Nhà của Tướng lớn nên có cả trụ xây cao cho máy bay trực thăng có thể đậu xuống, và quá lớn nên đã chia cho mấy chủ mới ở hết. Giống như một khu nhà tập thể.

Đứa con 6 tuổi của tôi ấy nay đã thành một họa sỹ đang làm việc tại Mỹ và thật tình cờ, anh đã liên hệ được với người con của vị Tướng đã rời Saigon năm 1975. Họ trò chuyện với nhau về ngôi nhà họ đã từng sống qua các thời khác nhau, từ cái sân và mảnh vườn nhỏ sau hiên nhà có bức tường đá dựng đứng- nay thành cửa hàng sầm uất. Mỗi khi về nước, anh họa sỹ không quên ghé xuống Quận 5 chụp hình để sang Mỹ có thông tin mới kể cho người con vị Tướng (Tiếc rằng chưa xin phép bà nhà văn ấy – chứ nếu nói tên vị tướng ra thì cả nước đều biết dấu ấn lịch sử chiến tranh và câu chuyện sẽ thú vị nhường nào.

Cho dù Thành phố sẽ hiện đại và mở rộng đến đâu, con người có rời đi dịch chuyển, thì ngôi nhà và đường phố vẫn đẫm hồn của năm tháng ta đã mang.

Bây giờ có Google Map- tôi ngồi ở Saigon có thể xem định vị được ngôi nhà của người thân sống xa quê khắp các quốc gia. Người ta làm cả youtub cho người đi xa có thể biết quê mình nay ra sao. Trong những ngày phong tỏa cứng vì dịch Covid, tôi không chỉ xem cách nấu nướng món ăn của Trường Giang “muốn ăn thì lăn vào bếp “hay cô Lý Tử Thất có khu vườn như rừng tự trồng rau củ, chế biến món ăn. Cả nhà tranh nhau nhận vai “việc nhẹ lương cao” xuất hiện cuối chỉ việc… ăn. Ngồi bên hiên nhà giữa đồi gió mát, có con chó xù to tướng nằm dưới bàn.

Tôi cũng thử gõ “Phố Cát dài hôm nay” xem sao và ngạc nhiên nhớ ra mình vụng về nhát cáy mà thời thanh xuân từng có giải bắn súng cùng đội tự vệ công nhân nhà máy đóng tàu Bạch Đằng Hải Phòng.

Ngày ấy vào năm 1966 khi đeo súng đi đến gần lối rẽ lên cầu hạ Lý, trong tiếng còi báo động và tiếng máy bay Mỹ ùng ục bay qua trên bầu trời, tất cả phố bỗng nghe tiếng Bác Hồ vang trên loa phát thanh: “…Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp bị tàn phá song nhân nhân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn Độc lập Tự do….”

Trong gian truân đằng đẵng ấy- lòng người lo âu sống đời gian khổ bom đạn, vẫn phải cố gắng hơn nữa vì lời thề dân tộc. Mỹ đã mở rộng chiến tranh không quân hải quân đánh phá miền Bắc, tuyên bố đưa miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá”. Sau này qua tổng kết mới biết ngày ấy Mỹ đã bỏ 15 triệu tấn bom, miền Bắc bình quân đầu người chịu 45,5 kg và một km2 chịu 6 tấn bom đạn.

Tôi cũng không thể biết sau này mình còn có dịp khi đã trở thành nhà báo, được đi ra sân bay “tiễn chân“ các tù binh Phi công Mỹ được trao trả về nước. Mỗi anh mặc bộ đồ màu ghi xám, tay một chiếc túi du lịch và lạ nữa là thêm… một cái nón lá Việt Nam. Nhìn các anh ấy cao to thật lạ, khác hẳn anh mà ta thấy lúc nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch bơi lóp ngóp bị dân quân vây bắt, hay có lần chính tôi sấp ngửa nhảy khỏi tàu điện để chạy theo đám đông reo hò xem “tù binh phi công Mỹ“. Họ được dẫn giải đi phố Bờ Hồ trong tiếng mắng mỏ căm giận của dân chúng và các anh bộ đội đang cố ngăn những người quá căm thù muốn nhảy vào bạt tai. Nhà của họ vừa sập vì bom Mỹ, bà con anh em họ vừa bị vùi chết dưới bom.

Đó là lúc tàu điện vừa đỗ ở gần Tháp Hòa Phong nơi chúng tôi vẫn chờ để “nhảy tàu“ đi đường Bưởi- Chợ Hôm. Nay thì không còn tàu điện nữa trên phố xá Thủ Đô.

Cũng ở cái bến tàu này vào năm 1969 - đoàn tàu đang chạy bỗng dừng lại làm mọi người nhìn nhau tưởng… mất điện nhưng rồi chợt hiểu: Trên loa đang vang tiếng đồng chí Lê Duẩn: “Nhân dân ta, Tổ quốc ta mất đi người con...”- thì vội đứng nghiêm trang vì biết đang truyền thanh tường thuật điếu văn đưa tang Bác Hồ ở Quảng trường Ba Đình.

Có lần tôi từ Saigon ra viết bài nhân kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, lùng sục phỏng vấn các kiến trúc sư về hình hài Hà Nội mở rộng, gặp các nghệ sỹ đang khôi phục chương trình nghệ thuật, biểu diễn hát xẩm ở phố Cổ và chợ Đồng Xuân. Hà Nội với tôi vẫn lạ lẫm vì phố xá phát triển, mở rộng các tuyến đường lớn.

Tôi không có thời gian tìm lại ngôi biệt thự Pháp cổ nơi mẹ tôi thuê cho gia đình ở, và ngày 10-10-1954 khi tôi lên 10 – sáng đó dậy sớm, mặc đồ đẹp để đi ra “5 cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về… như đài hoa đón mừng nở 5 cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh”.

Nhất là trong đoàn “trùng trùng quân đi như sóng“ ấy có bố tôi - anh bộ đội Cụ Hồ ra đi lâu lắm từ Cách mạng tháng Tám nên chúng tôi không còn nhớ mặt, nay sắp đoàn tụ gặp lại vợ con.

Những biệt thự Pháp cổ vẫn cổ xưa bên cạnh bao công trình mới nguy nga. Đã có lần tôi vào ngôi biệt thự to đẹp ở 34 Hoàng Diệu để phỏng vấn cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ đã ngoài 90 tuổi - vợ nhà tư sản Trịnh Văn Bô - người đã tặng hiến cho nhà nước Cách mạng non trẻ 5.000 cây vàng. Gia đình họ cũng đón đoàn lãnh đạo và Bác Hồ về chuẩn bị Lễ 2-9-1945 và Bác Hồ đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập trong ngôi nhà của họ ở 48 Hàng Ngang.

Khuôn viên biệt thự 3.000 m2 ngay phố yên tĩnh với hàng cây cổ thụ - vào loại “Phố Tây nhà giàu đẹp nhất Hà Nội“ cho dù bây giờ chả thiếu kiến trúc tân kỳ- đẹp đến nỗi vào dịp lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một số báo nước ngoài vào đưa tin đã kết hợp viết luôn về ngôi nhà “bà Bô” ở bên cạnh nhà Đại tướng.

Dạo ấy vừa bước vào cổng nhà bà Bô là tôi nhớ ngay hồi chiến tranh chống Mỹ- lúc tôi đang học đại học từ nơi sơ tán về đã đi cùng nhà thơ Phạm Tiến Duật qua phố này. Phạm Tiến Duật lúc ấy mới nổi, chưa thành “Con chim lửa của Trường sơn huyền thoại“, “cây săng lẻ của rừng già” và “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ“ như sau này người ta dùng để gọi anh.

Hôm đó anh dắt xe đạp và tôi đi bộ bên cạnh, anh đọc cho nghe bài “Lửa đèn“ và phàn nàn có tờ báo không dùng. Anh đọc đầy cảm hứng “trái nhót như ngọn đèn tín hiệu - trỏ lối sang mùa hè“ ý tứ thật lạ lẫm mới mẻ những năm 1967- “quả ớt như ngọn lửa đèn dầu – chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng…”

Đang đọc thơ thì phố xá tắt phụt đèn, còi báo động kéo hồi dài, chúng tôi dừng lại dưới ánh trăng thật sáng, bên cạnh cái hầm cá nhân trên vỉa hè gần chếch cổng nhà bà Bô. Ngày ấy phố nào cũng đầy hầm cá nhân có cái nắp tròn cho người đi đường có thể nhảy xuống khi máy bay oanh tạc hoặc thả bom bi sát thương.

Sau này tôi xa Hà Nội, chỉ nghe tin báo đăng Phạm Tiến Duật bệnh nặng và em trai tôi, PGS-TS Nguyễn Quốc Bình du học Hungary về giảng dạy ở Đại học Quân sự - dù là dân kỹ thuật, dù không quen biết đã vào bệnh viện với tư cách người lính yêu thơ Phạm Tiến Duật – đã đứng bên giường bệnh của nhà thơ những ngày cuối cùng.

Tôi cũng đã phỏng vấn cây guitar Văn Vượng nổi tiếng soạn và biểu diễn những bản nhạc Hà Nội bất hủ - để tò mò xem anh đã “nhìn thấy“ Hà Nội đẹp theo cách nào của một nhạc sỹ mù.

Anh kể đã xuống sờ vào mép nước hồ Gươm, ngồi lắng nghe và dùng kỹ thuật bồi âm diễn tả tiếng chuông đền Ngọc Sơn buổi sớm. Anh cũng chưa từng đến sông Lô nhưng đã chơi bản “Trường ca sông Lô” cho chính Văn Cao nghe và được ông nhận xét: ”tôi không ngờ bài viết cho hợp xướng 4 chương mà biểu diễn được trên đàn Guitare 6 dây đầy đủ đến thế “.

Vậy là ta “cảm được“ nơi ta có thể không nhìn thấy.

Tôi là “người Saigon sau 1975 “, yêu thành phố này tha thiết - tôi có thể “cảm”  được những gì của quá khứ của nó hay không? Có biết mình đi trên đường phố nào còn vang bước chân xuống đường, phố nào có ký giả đi ăn mày, phố nào không giống Phố Phái nhưng đầy kỷ niệm học trò con đường có lá me bay….?

Người con gái vị tướng của Saigon -Việt Nam Cộng Hòa đang ở Mỹ nói chuyện gì với anh họa sỹ con trai tôi về ngôi nhà ở Quận 5 mà họ luôn thương nhớ, nơi họ gửi tuổi thơ hai thời khắc khác nhau? Tôi ước mong giá mà tôi hỏi được…

Google map có thể kể hết cho tôi không? Tôi không chắc.

Cũng giống như mỗi mùa Thu Tháng Tám đến, tôi ước gì có ai đang ở Ninh Giang- Hải Dương- trên giấy tờ là “nơi sinh” của tôi- kể cho tôi biết giờ đây ở đó thế nào, có còn dấu vết gì không?

Nơi ấy khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, lúc đó cha tôi làm Y tá và mẹ là Giáo viên- “công chức thời Tây“ đã bỏ hết nhà cửa theo kháng chiến. Chúng tôi còn nhỏ, được người ta “cho ngồi vào thúng“ gánh đi tản cư nên không thể nhớ - Chỉ nghe kể lại mẹ tôi là người đã tự tay châm lửa đốt chính ngôi nhà của mình để thực hiện “tiêu thổ kháng chiến“ ngăn bước quân thù.

Chúng tôi hay khoe quê rất xịn: Bà ngoại tôi - người con gái đảo Vân Đồn nên quê ngoại tôi ở Vịnh Hạ Long và bố tôi quê có làng cổ Sơn Tây. Chồng tôi thì cười tủm tỉm: “Quê tôi hả? Thường thôi!... Quê Bạc”.(Quê Bác)

Chúng tôi đang già đi ở Saigon và lũ trẻ nay lại đi tận những phương trời xa hơn.

Nhưng tâm hồn chúng ta luôn ở đó - dù bây giờ nó đã khác xưa và bao người khác lại đến sống, làm nên hành trình mới mà ta gọi là Lịch sử, dù trải những gì thì cuối cùng là tình yêu quê hương đất nước.

Dù đã có Google Map - hay là VR- vũ trụ ảo Metaverse – tôi vẫn luôn muốn hỏi thăm: Ai về nơi ấy cho tôi biết?

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm