TIN TỨC

Thái Tú Hạp, bên đồi lau xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-06 07:48:18
mail facebook google pos stwis
2261 lượt xem

HUỲNH VĂN HOA

Thái Tú Hạp, sinh tháng 4 năm 1940 tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Từ năm 1956 đến 1975, có thơ đăng trên các tạp chí Bách khoa, Văn học, Văn, Giữ thơm quê mẹ, Khởi hành, ...

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Tuyển tập Sông Thu (1962, in chung với ThànhTôn và Hoàng Quy)
  • Thèm về, Thơ, NXB Ngưỡng cửa, Đà Nẵng 1970
  • Chim Quyên Lạc Ngàn, Thơ 1982.

 

Thái Tú Hạp sinh ra và lớn lên tại Hội An, một thành phố như Hoàng Lộc mô tả: Phố thì nhỏ anh còn qua chưa hết / Lại hoài công đi bắt mộng bên trời ". Hội An đánh thức nơi tâm hồn Thái Tú Hạp nhiều cảm xúc thẩm mỹ. Những bang hội Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, những di tích lịch sử, tôn giáo như Chùa Cầu, Chùa Viên Giác, Chùa Âm Bổn, Chùa Long Tuyền, ít nhiều để lại dấu vết nơi thơ và đời Thái Tú Hạp.

Thái Tú Hạp viết không nhiều. Những bài thơ công bố trên các tạp chí, tuần san vào những năm 60, đầu 70 của thế kỷ XX đều là những bài thơ có dấu ấn. Thái Tú Hạp kể lại, do hoàn cảnh gia đình, thời mới lớn, ông gắn với những ngôi chùa cổ, lắng nghe những tiếng chuông ngân, điểm vào sớm chiều, nhìn những bông sứ trắng nở tịnh yên ở một góc sân chùa, mùi hương hoa ngọc lan thoang thoảng vào những đêm trăng hạ huyền, một thứ anh sáng khuất lấp từng mảng, dọi trên những cành cây bóng lá, tất cả, tất cả đã lắng lại nơi tâm hồn của thi sĩ những vần thơ đậm chất phương Đông. Hội An có nhiều chùa. Chùa của người Việt. Chùa của người Hoa. Khung cảnh trầm lắng của phố thị cổ và tiếng chuông chùa đồng vọng, lưu lại dư âm trầm  lắng nơi số bài thơ của Thái Tú Hạp.

Điều dễ thấy là, trong các bài thơ của Thái Tú Hạp ít thấy bóng dáng đậm nét về những thức nhận cô đơn, hoài nghi, về cái phi lý, hư vô, về cái tồn sinh của triết học đương thời. Dĩ nhiên, trong cầu trường của miền Nam, những tên tuổi của Tây phương như Heidegger, Camus, A, Gide, J.P. Sartre, ... không phải không có lúc chạm đến suy tư, cảm xúc nơi nhà thơ. Song, ở ông, vẫn là một cõi tịch nhiên, thanh thoát và an bình. Trong thơ và trong đời, dẫu có lúc những ba động của cuộc sống, tạo ra bao mảnh vỡ nơi tâm hồn, song, âm hưởng chính của thơ Thái Tú Hạp vẫn là  chút lòng dịu nhẹ với nhân thế, với thiên nhiên.

Trong thơ Thái Tú Hạp, điều dễ cảm nhận, đó là có những nỗi u uẩn, những khát vọng và hoài nhớ của phương Đông. Các bài thơ mang tâm trạng buồn xa quê hương, từ miền biên viễn, nhớ nhung về nơi quê nhà hoặc có khi đau xót khi nhìn về người xưa cảnh cũ. Có chút gì của chất biên tái từ những Lý Bạch, Sầm Tham, Vương Chí Hoán, Thôi Đồ, Vương Xương Linh, ... phảng phất nơi số bài thơ ngũ ngôn, lục bát của Thái Tú Hạp. Thoáng trong những câu thơ, ta dường như thấy có bóng cờ quằn quại nơi ải quan xa vắng, tiếng vó ngựa nhọc nhằn giữa những đêm khuya của đoàn xa mã cuốn bụi mờ thời Chiến quốc, văng vẳng nỗi sầu nhớ cố hương như trong Đường thi.

Trên tạp chí Bách khoa, số 128, ngày 1-5-1962, có đăng bài thơ lục bát Thèm về, 14 câu. Bài thơ được chọn đặt tên cho một tập thơ của Thái Tú Hạp, tập Thèm về, NXB Ngưỡng cửa, Đà Nẵng 1970. Đây cũng là một trong những bài thơ hay, được chọn đăng trong nhiều tuyển tập thơ ca. Bài thơ định hình tiếng nói nghệ thuật của Thái Tú Hạp. Người nghệ sĩ lữ hành Thái Tú Hạp đã: Nghỉ ngựa - Dừng cương Thèm về.

Không gian là cảnh đèo heo hút, vắng lặng, chùng sương. Thời gian là buổi chiều. Không gian đó - thời gian đó đã gợi nên bao niềm cảm xúc nơi thi nhân:

Đèo heo hút gió chùng sương

Trên cao nghỉ ngựa dừng cương thèm về

Chiều phong kín ngã sơn khê

Non  xa mây  phủ  trời  lê  thê  buồn

Câu thơ mở đầu được ngắt nhịp 3/3 làm tăng thêm cái hoang vắng, lạnh lẽo, cô đơn của cảnh và người: Đèo heo hút / gió chùng sương. Các hình ảnh: đèo / ngựa / chùng sương / sơn khê / non xa / mây phủ ... đều nhuốm buồn.

Xa kia, vài cánh nhạn lạc loài bay qua truông vắng, thả lơi điệu nhớ não nùng. Dưới lũng thấp, điêu tàn, gãy đổ, nghe tiếng ca thu vàng. Đàn sếu cô liêu bay về trong buổi tà dương, bóng những hàng cây già hắt hiu. Tiếng dã thú kêu lên trong rừng chiều. Gió núi mang hơi sương lạnh buốt, tịch liêu. Cảnh vắng lặng. Hồn cổ sơ.

Hai câu thơ cuối bài: Tóc sương rêu phủ bến chờ / Chiều nghiêng cánh gió hồn mơ đăng trình. Trong khung cảnh như thế, đăng trình chỉ là hồn mơ, là bến chờ. Mở đầu bài thơ là buổi chiều: "Chiều phong kín ngã sơn khê", kết thúc cũng là buổi chiều: "Chiều nghiêng cánh gió hồn mơ đăng trình", dễ gợi nhớ đến nỗi buồn chiều của Hồ DZếnh: Trên đường về nhớ đầy / Chiều chậm đưa chân ngày / Tiếng buồn vang trong mây ...

Một bài thơ khác, bài Về (Bách Khoa, số 137, ngày 15-09-1962), nằm trong cảm hứng trở về. Bốn lần Về đây, mỗi lần là một tâm trạng:

Về đây tìm mảnh trăng gầy...

Về đây chôn nỗi lo âu...

Về đây biết nói sao chừ...

Về đây còn hẹn ngày mai...

Mảnh trăng xưa đã gầy. Nỗi niềm riêng tư, lo âu, muốn chôn chặt. Chiếc lá theo thuyền, còn chút dư vang của mùa thu. Với ta, một trời hiu hắt. Về để tìm. Tìm gì ? Tìm mảnh trăng gầy, chân xiêu xiêu bước về nơi huyệt sầu, nghe câu hát cũ. Chỉ một chữ, chữ VỀ, hàm bao nhiêu nghĩa. "Về" để thấy nỗi buồn của sân ga, thấy trời hiu hắt, thấy ta sương mù, thấy mây sầu lũng thấp, hiu hiu thương nhớ:

Nửa đêm buồn lả thân ga
Một trời hiu hắt, một ta sương mù
Mây sầu lũng thấp âm u
Hiu hiu thương nhớ vàng thu âm hài

Trên Tuần báo Nghệ thuật, số 46, năm 1966, bài thơ Trong chiều mô tả tâm trạng ngậm ngùi, rã rời, như giọt sương biền biệt vùng trời, với dấu chân ngựa xuống chiều biên khu nhòa  và những hình ảnh:

-Bên kia tiếng hát ngậm ngùi

Khẳng khiu lời nhớ gầy xiêu bóng dài

Cõi gươm giáo ấy hẹn thề

Lần đi là chẳng hẹn về nước non

-Giọt sương biền biệt vũng trời

Ngàn sau mắt thẳm chim hời hoang vu

 

Vàng thu mấy cõi (Tuần báo Khởi hành, số 11, ngày 10-07-1969), bài thơ có ba phần. Phần 1, có 12 câu. Phần 2, có 10 câu. Phần 3, có 12 câu. Có điểm đáng chú ý là, giữa các phần, có sự tương liên giữa thế giới khách quan và thế giới chủ quan, giữa sông, bến, thuyền mây, trời thẳm, cây nghiêng, bờ lau với cô đơn, nhớ thương, tái tê cõi lòng, sỏi đá làm chia li buồn. Ở đó, mùa thu, nắng xẻ đôi sông, đìu hiu, im vắng đến mỏi mòn, đâu cũng nhớ thương, buồn lên từ sợi tơ chùng nhớ thương, thu nai vàng động góc rừng / canh khuya khoắt rụng giữa vừng đông sương / thu xa cánh hạc chia bầy / nghe trong nẻo trúc vương đầy mắt sông, ...

Một bài thơ lục bát khác, bài Trên vùng tưởng nhớ (Tuần báo Khởi hành, số 23, ngày 2-10-1969) với những hình ảnh sơn khê, rừng lá, màu quan san, mây chùng tơ sương, phố chợ, núi vọng chim sa, đỉnh tháp cao buồn, chiến trận tiêu điều, vàng rơi biên ải, bến sông sương mỏi và những cảm xúc nao nao tuổi buồn, lãng mộng u hoài,  lòng bơ vơ cõi lặng im, lửa bay đạn thắp, súng cũng nao nao tuổi buồn, lửa chiến trường, vùng hỏa châu, ... phản ánh không khí của chiến tranh, pha trộn nhiều cung bậc của tình cảm, dẫn đến hai câu kết:

Cho quên trời đổ cơn mê

Giòng thơ niệm tưởng hồn quê hương mình.

Bài Tình tứ (Tuần báo Khởi hành, số 101, ngày 22-4-1971) với hình ảnh  Em về từ cõi đông phương / Tóc mùa thu cũng trầm hương quê nhà với bờ mây, non xa, suối nguồn, mộng kiêu sa, chiều ca dao buồn, chỉ còn:

Chút tình xưa đã trôi sông

Chừ quên thương nhớ mùa đông hiên ngoài

Em về thắp nắng ngọn mai

Từng phơi áo lụa ngàn phai dấu tàn

Dòng sông đã xóa nỗi hàn

Trong nhau nghe đã ấm lòng yêu thương

Chỉ riêng bài lục bát Bên đồi lau xanh, 12 câu, hình ảnh mới mẻ, tân kỳ. Cách cấu trúc, từ ngữ, ngắt nhịp, gieo vần khác với số bài thơ lục bát khác. Ở đây, có sự đan quyện giữa niềm tiếc rẻ trôi đi của mùa, của nắng, của cây ngàn, tóc biếc, của rừng hoang bên đồi lau xanh với một thoáng phù vân, cõi hư vô, cát bụi, bóng dài, ...Bài thơ vừa có ý vị thiền vừa mang âm hưởng Lão Trang với hình ảnh con bướm trên cành, một phù ảo trong thiên cổ: 

mùa đi lá nhớ
cây ngàn
tình em như ngọn nắng vàng
cuối sân

đời buồn
một thoáng phù vân
từ trong thiên cổ
u trầm có nhau
nhớ thương tóc biếc mây sầu
rừng hoang nhớ gió
bên đồi lau xanh

em còn tiếc cụm hoa chanh
còn mơ con bướm trên cành

tương tư
bao giờ nghe ý
trùng tu
thân như giòng nước cõi hư vô này
mai sau
còn dấu chim bay
dưới sâu cát bụi
đổ dài bóng tôi

 

Bài thơ được nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ thành ca khúc cùng tên Bên đồi lau xanh. Đây là một bài thơ hay của Thái Tú Hạp.

Thái Tú Hạp cũng thành công trong thể thơ 5 chữ. Trên Tạp chí Bách khoa, số 137, ngày 15 - 09 - 1962, bài Biển chiều, viết theo thể ngũ ngôn. Những bài thơ về chiều trên biển thường chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc, khiến trái tim ta thổn thức, khôn nguôi. Mặt trời lặn xuống, biển trở nên mênh mông, sóng vỗ, phía xa kia, ánh sáng nhạt dần, cảnh ấy gợi cho ta những nỗi niềm man mác về bao chuyện đã qua, không thể nói lên thành lời: Biển chiều ôm điệu khóc / Dấu chân cát thưa dần / Buồn như lời hoang đảo / Bơ vơ từng cánh chim / Nét buồn xưa hiu hắt / Trời cúi hôn trùng dương / Cô liêu sầu cửa mắt / Bao  nhiêu là nhớ nhung

Tác giả tự ví mình là loài hải điểu cô đơn, bay bơ vơ trên trùng dương hiu hắt, mòn mỏi chờ mong, nhìn biển khóc với nỗi buồn biệt ly: Cau mặt hờn người đi / Chiều lên hàng dương liễu / Em mòn mỏi chờ mong / Sao anh loài hải điểu/ Cho em buồn tháng năm / Chừ ngồi coi biển khóc / Bài thơ nhòa trên cát / Buồn chao ôi, biệt ly.

Trên Tuần báo Khởi hành, số 44, ngày12-3-1970, có bài thơ viết theo thể ngũ ngôn, bài Trong núi. Đây là một bức tranh tâm trạng, gợi cảm nhận về sự chia xa, vắng lặng và quạnh quẽ của cảnh núi rừng: "Mai anh về trung châu", lặp lại có chủ đích đến 3 lần, rời rừng xanh, núi biếc, xa Mây tím nhòa bản Thượng / Điệu khèn xưa hoang vắng / Bản vắng chiều giăng mưa ...

Tổ chức hình ảnh thơ thiên về cái tĩnh mịch, có phần hiu quạnh, tạo thành quan hệ đối lập giữa cái bao la của núi rừng với tâm tư hoài nhớ, xa trung châu, xa rừng xanh núi biếc, bỏ ngàn hoa lá sầu / mây tím nhòa bản Thượng / điệu khèn xưa hoang vắng /chiều suối đổ rưng rưng:

Nhớ thương đầy âm hưởng

Trên đôi mắt em buồn ...

Không gian lữ thứ là không gian của Đường thi. Không gian đó tạo nên nỗi niềm cô độc, tâm trạng đất khách quê người, "mai về", về là xa trung châu, là "bỏ rừng xanh núi biếc", vương hoài những đám mây màu tím nhạt nhòa trôi trên những bản Thượng, là "nhớ thương" điệu khèn. Hành trang của người đi, mang theo, chỉ: "đôi mắt em buồn". Bài thơ bàng bạc sắc màu nhung nhớ, nhất là 4 câu thơ cuối:

Mùa thu về quê xưa

Lòng ngậm ngùi thương nhớ

Bản vắng chiều giăng mưa

Lệ ngàn năm trên đá ...

Lời gọi thầm loài chim (Tuần báo Khởi hành, số 108, ngày 10-6-1971) là bài thơ tình về mùa xuân. Bài thơ có 8 khổ, khổ nào cũng có hình ảnh mùa xuân. Đó là: Con đường xuân mưa bay / Ôi mùa xuân thương nhớ / Mùa xuân hoài không tới / Dù xuân đến bao lần / Từng mùa xuân qua đi / Xuân vui hát cho đời / Mắt xuân cũng u hoài / Mùa xuân có nghĩa gì. 

Mùa xuân có mưa bay, có bóng lá, có phố chợ, có bàn tay gầy vẫy đưa, có quê hương nghèo, bao năm rồi chiến chinh, dầu vậy, vẫn là mùa xuân thương nhớ, vui hát cho đời. Bài thơ trong trẻo, ngậm ngùi mà thương nhớ, phố chợ em về có mưa bay, có mắt nhìn buổi ấy, có lòng thêm buồn vời vợi. Bốn câu cuối xao xuyến lòng:

Mùa xuân có nghĩa gì

Cuộc tình này hỡi em

Dù mai thành tượng đá

Biết anh có về không ?

Vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX, thời cuộc có nhiều biến động, kéo theo những tâm tư, tình cảm của nhiều văn nghệ sĩ. Khung trời cũ không còn bình yên. Chiến tranh trở nên khốc liệt. Tình người ly tán. Dấu vết này, thấy rõ trong thơ Thái Tú Hạp.

Bài thơ lục bát Nụ cười bao dung, viết vào 9/1965, đăng trên Giữ thơm quê mẹ, số 5 tháng 11 năm 1965, với 20 lần XIN. Tiếng cầu xin chân thành, pha lẫn những cảm xúc vừa bi thương, từ bi lại vừa ngậm ngùi, bao dung.    

Hình ảnh lời xin như sợi chỉ đỏ xuyên suốt hình tượng bài thơ, cảm động, thiết tha. Ở đó, ta nhận ra "xin thôi nẻo chiến trường" thì sẽ nghe tiếng ru con, sẽ thấy chim về ngợp nắng ruộng đồng, sẽ thấy mây mùa thu bồng bềnh bay trên cao, sẽ nghe lời hát ngọt ngào, đón nụ chào bao dung, sẽ có bàn tay làm nhịp cầu kinh, qua bom đạn, qua điêu tàn, qua lọc lừa, thanh tịnh giữa đời phi nghĩa này. Tác giả chân thành xin ngày, xin chuông chùa, xin mắt mẹ từ bi, xin tiếng ngậm ngùi ru con, xin mây thu bềnh bồng trên cao, xin lời hát ngọt ngào, xin nụ chào bao dung, ... để từ đó, xóa điêu tàn dấu xưa, hết những lọc lừa, xóa miền chiến trận, chỉ còn thanh tịnh.

Cũng trên tạp chí Giữ thơm quê mẹ, số 7 và 8 ngày 1 tháng 1 năm 1966 (Xuân Bính Ngọ), một bài thơ viết tại Hội An, bài Lời buồn treo cao, cũng 20 câu với lời CHO, cho đời, cho mình, cho quê hương. Nhà thơ mong mỏi cho đêm qua đi và bừng đóa mặt trời, cho thân thể mẹ hết đớn đau, em sẽ cho đời tiếng hát ngọt ngào, mùa xuân có chim, có bướm, có hoa, kinh kệ sẽ xóa oán thù, đôi bờ quê hương sẽ tàn binh lửa, cho sông biển ngọt tuổi đời, cho em thôi giọng ngậm ngùi, cho mây sẽ hôn lên ánh mắt chiều, cho khói cơm chiều quyện trên những mái tranh nghèo, đón thực thà vào tim, tha thứ hết mọi lỗi lầm, oan ức trôi đi, chỉ còn tiếng chuông và lời kinh vọng:

cho tàn binh lửa đôi bờ

cho cành dương nước cam lồ vô biên

cho tiêu tan chuyện ưu phiền

cho quê hương đẹp trăm miền tinh khôi...

 Sự chuyển đổi cách nhìn, cách thụ cảm cuộc sống khiến cho thơ Thái Tú Hạp mang âm hưởng mới, cũng lục bát đấy, song, tâm tình hơn, chân thật hơn, tha thiết hơn. Tâm trạng, nỗi niềm được gửi vào những vần thơ bàng bạc sắc màu của nhịp kinh cầu (xin tay làm nhịp kinh cầu), mang yếu tố tôn giáo.

Trên Tạp chí Văn, số 58, ngày 15 - 5 - 1966, Thái Tú Hạp có bài Một ngày Việt Nam mai sau, dài đến 45 câu, bày tỏ niềm ước mơ về một quê hương Việt Nam thanh bình, khi ấy: vũ khí chỉ còn là củi khô / thép đem nung trong lò để thành lưỡi cuốc lưỡi cày / viên đạn đã bốc khỏi vỏ để thành bình hoa trong phòng khách / giao thông hào biến thành con kinh đem nước mát cho ruộng đồng / ngọn hỏa châu thắp sáng như ngân hà cho đêm mở hội hoa đăng / con tầu chở niềm vui sum vầy về cho quê hương nghìn trùng xa cách /  đêm không còn lo âu / ngày hết rồi niềm đau xót / những mắt căm  hờn quên lãng chuyện đau thương / mẹ sẽ hát cho ta ta lời thơ nguyên thủy / nghe ngọt ngào từng âm điệu quê hương/ anh sẽ cho em cuộc tình vĩnh cửu / có dòng sông có hoa bướm cuộc đời /chúng mình sẽ cho nhau những tháng ngày gần gũi / mái tranh quê chan chứa mộng bình an / bạn bè sẽ đến với nhau đông vui như ngày xưa lớp học / hương cốm thơm như hơi thở đậm đà / với lòng trinh như cành huệ cành mai / dịu dàng như khói trầm nghi ngút / tình theo mây dâng trắng đỉnh non cao / tiếng hát ca dao nhân ái vô cùng / và nụ cười ròn rã nhạc yêu thương / lời không còn mang độc dược / tay không còn thủ khí giới sau lưng / tóc sẽ là rừng xanh...

Bài thơ tràn ngập những hình ảnh thơ mộng, đẹp như đàn chim rủ nhau về giăng cánh, lòng trải bao la như cánh đồng lúa mọng, gạo trắng chày khuya, đêm trăng vàng, cuộc tình nghèo, triều nước sông Cửu sông Hương, giải Trường Sơn hùng vĩ, bờ xa tiếng hát thùy dương, vết chém của hận thù qua rồi, bước chân trở về còn nguyên rượu ngọt, thân thể toàn vẹn, đóa hoa hồng nở trong lòng chiếc nón sắt được vất trên bờ sông thức tỉnh, ...

Một thế giới trập trùng những tiếng hát, lời ca, chan chứa mộng bình an, không còn thủ khí giới sau lưng:

Hoa nở dọc hàng rào kẽm gai chiến lũy điêu tàn đổ nát

Mặt trời phương đông êm ái ngủ yên cành trúc cành tre

Để nghe lời Việt Nam ngàn năm thực thà kể chuyện.

Giữa những năm 60 của thế kỷ XX, chiến tranh bắt đầu lan rộng trên quê hương Việt, cảnh tượng đau thương:

Trên bãi tha ma trên khắp công trường

Trong lòng người nham hiểm

Trong lòng người đen tối

Trong lòng người giả dối lưu manh

Toàn bộ nội dung của bài thơ Một ngày cho Việt Nam mai sau thể hiện niềm khát khao, ước vọng chân thành của tác giả về con tầu chở niềm vui sum vầy về cho quê hương nghìn trùng xa cách.

Tạp chí Văn, số 109, ngày 16-7-1968, có bài Niềm tin có thực, viết theo thể tự do, thể hiện một mơ ước, một khát vọng, một niềm tin của nhà thơ về  quê hương Việt Nam, nơi ấy:

một giòng sông nước trong hơn nước mắt để soi bóng mình những chiều thu êm ả

dành cho em ngọn núi cao để em tự do ca hát với thiên thần hát với chim muông

giữ cho em một ngôi vườn đủ loài hoa thơm ngát để mỗi bình minh em hái đóa mỹ miều em đùa vui bươm bướm

cho em đẹp như nàng công chúa thức dậy giữa rừng mơ, đợi chờ người lính đi xa sắp về khi tàn chinh chiến

việt nam ta ở đó, nơi những tình thương mọc cánh bay lên

tâm hồn ta nhân ái xin nguôi phai những thù hận qua rồi

những bông hoa việt nam yêu quí nở ngợp trên mảnh đất quê hương này  ...

 

Thơ Thái Tú Hạp gắn với truyền thống, dựng lên thi giới gần với phương đông. Tuy vậy, đằng sau câu chữ, vẫn thấy những bão táp của thời cuộc, những rạn vỡ của tuổi trẻ, song, cái chung vẫn là vẻ đẹp giản dị của một tâm hồn. 

Thái Tú Hạp là giọng riêng của thơ xứ Quảng giai đoạn 1954-1975, một bè trầm, cung bậc nhẹ, sâu lắng, man mác như khung trời phố Hội vào thu.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm