TIN TỨC

Anh hùng Võ Thị Sáu trong tâm thức người đang sống

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-08-02 07:34:35
mail facebook google pos stwis
6337 lượt xem

TRẦM HƯƠNG

Khí phách của chị Võ Thị Sáu đã truyền dẫn đến nhiều thế hệ, đặc biệt những nữ tù Côn Đảo. Với các cựu nữ tù chính trị Côn Đảo và tù binh, tấm gương anh hùng của chị Võ Thị Sáu là nguồn động viên to lớn, giúp các chị vượt qua những thử thách nghiệt ngã nơi nhà tù được mệnh danh là "địa ngục trần gian".


Bức họa Anh hùng Võ Thị Sáu bị dẫn ra pháp trường Côn Đảo (năm 1952) được trưng bày tại Khu di tích Nhà tù Côn Đảo

Chuyến ra Côn Đảo đầu tiên

Tôi được ra thăm Côn Đảo từ năm 1983. Vậy là đã 40 năm. Côn Đảo thời ấy còn hoang sơ. Tôi được tham gia đoàn viếng mộ liệt sĩ Võ Thị Sáu. Mộ người nữ liệt sĩ năm ấy chưa được khang trang như bây giờ. Nhưng chính sự hoang sơ ấy gây cho tôi sự xúc động mãnh liệt. 

Tôi tự hỏi điều gì khiến một cô gái mới 14 tuổi đã trở thành chiến sĩ trinh sát của Đội chiến đấu Công an xung phong Đất Đỏ, 17 tuổi bị bắt, nếm những đòn nhục hình dã man, 19 tuổi bị đưa ra Côn Đảo, bị xử tử hình. Tôi được người thuyết minh kể, vào phút cuối, chị vẫn kiên cường từ chối lời rửa tội, yêu cầu không bịt mắt để được nhìn non sông đất nước lần cuối và hiên ngang hô to những khẩu hiệu, nói những lời khẳng khái, bất khuất khiến quân giặc khiếp sợ.

Chi tiết khiến tôi xúc động mãnh liệt là khi trên đường ra pháp trường, chị Sáu đã hồn nhiên nhặt một bông hoa sứ cài lên tóc. Những người chứng kiến lúc chị nhặt hoa cho đến nay không còn sống nhưng hình ảnh cô gái trẻ trước khi ra pháp trường còn cài hoa lên tóc luôn in sâu vào tâm thức nhiều người, đặc biệt là giới nữ...

Chuyến đi ấy đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời cầm bút của tôi. Giữa trùng trùng mộ chí, có những nấm mồ chưa biết tên, tôi tự hỏi ai cũng có một cuộc đời, sao có những người anh hùng, dũng cảm đến vậy? 

Khi trở thành một nhà văn, nhiều người hỏi vì sao tôi viết nhiều về sự hy sinh, mất mát, về những anh hùng liệt nữ. Thật giản dị để nói rằng, những con người hy sinh vì dân vì nước quá cao đẹp. 


Đoàn công tác Hội LHPN Việt Nam chụp hình lưu niệm trước tượng đài Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu trong hoạt động dâng hương, tưởng niệm tại Đền thờ, Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu (huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) ngày 20/7/2023. Trong dịp này, đoàn công tác và Cụm thi đua Hội LHPN các tỉnh Đông Nam Bộ đã đến thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình chính sách và trao học bổng cho học sinh mồ côi, hoàn cảnh khó khăn có thành tích học tập tốt trên địa bàn huyện Đất Đỏ, Long Điền và TP Vũng Tàu.

Lịch sử có nhiều con người kỳ diệu, những tấm gương anh hùng. Mình được sống trong hòa bình, chỉ viết lại những câu chuyện ấy mà còn không làm được thì thật có lỗi. Và vì vậy, cho đến khi không còn thở được, tôi vẫn miệt mài với những trang viết về những người đã ngã xuống cho đất nước...

Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu trong tâm thức nữ tù Côn Đảo

Sau này, khi về công tác ở Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ, tôi có nhiều chuyến về Côn Đảo để làm phim, viết sách. Chuyến về nguồn Côn Đảo với các nữ cựu tù chính trị và tù binh gây cho tôi nhiều xúc động và những liên tưởng. 

Sau chiến tranh, nhiều cựu nữ tù chính trị và tù binh đều có chung ước nguyện ra thăm Côn Đảo, nơi "địa ngục trần gian" đã từng là trường học to lớn cho những người chiến thắng trở về. Và thật dễ hiểu, vì sao những cựu nữ tù chính trị và tù binh được ra thăm Côn Đảo đều không bỏ lỡ những giây phút thiêng liêng, được ra thăm mộ chị Võ Thị Sáu, được thắp lên nén hương, kính cẩn nghiêng mình gởi đến người liệt nữ đã kiên cường nhận án tử hình. 

Tượng đài Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu nơi nghĩa trang Hàng Dương lồng lộng giữa mây trời ngày nay đã được xây mới hơn thời gian đầu tôi ra thăm Côn Đảo. Đôi mắt người con gái được người nghệ sĩ điêu khắc thể hiện với mái tóc ngang vai trong phút cuối cùng, mênh mang, sâu thẳm nỗi nhớ quê hương…

Tôi cũng đôi lần được theo chân các cựu nữ tù Côn Đảo quê hương Đất đỏ của chị Sáu. Chính tại ngôi nhà nơi chị Sáu được sinh ra và lớn lên, chúng tôi biết thêm nhiều chi tiết sống động về một nữ anh hùng, qua những người thân của chị. 


Tượng đài Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu

Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933, tại xã Phước Long Thọ, huyện Long Đất, thị trấn Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa. Chị xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo. Cha chị, ông Võ Văn Hợi, làm nghề đánh xe ngựa, thường chạy tuyến đường từ chợ Đất Đỏ đi Long Điền, Phước Hải. Mẹ chị, bà Nguyễn Thị Đậu bán bún bò, chả giò tại chợ Đất Đỏ. 

Chị là người con thứ sáu trong gia đình. Dưới chị còn có cô em út là Võ Thị Bảy, sinh năm 1934. Chị Bảy năm ấy kể: "Thực dân Pháp chiếm Đất Đỏ, hai người anh chúng tôi lần lượt thoát ly kháng chiến. Chị Sáu đang học lớp ba trường làng đành bỏ học, cùng tôi ở nhà phụ giúp ba má. 

Hồi nhỏ chị đã nổi tiếng gan dạ. Tôi còn nhớ có lần vì bận việc nhà, không thuộc bài, bị thầy giáo bắt đặt tay lên bàn đánh 7 thước. Tay sưng vù nhưng chị Sáu nhất định không khóc. Lần khác, mấy cậu trai nghịch ngợm bắt kỳ nhông dứ vào mặt mấy đứa con gái, nhiều bạn sợ khóc thét. Chị Sáu bình tĩnh nắm cổ con kỳ nhông liệng trở lại. Thấy vậy, mấy đứa trai hoảng hồn, xanh mặt nhìn chị Sáu!".

Không ai nghĩ cô bé hòa lẫn trong làng quê vùng đất đỏ ấy tham gia nhiều trận đánh xuất quỷ nhập thần, như trận đánh vào cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc khánh Pháp 14/7/1948. Trận đánh khiến tên tỉnh trưởng mất mặt với quan Tây, được đồng bào hả hê khen ngợi, chị Sáu được tuyên dương trước toàn Đội. 

Chị còn tham gia diệt ác trừ gian, đưa ra phương án diệt tên Cai tổng Tòng gian ác, ngay tại văn phòng của hắn. Sau trận chết hụt, bị thương nặng, Cai tổng Tòng cùng đám hội tề biết sợ hơn. Nhưng hai tên Cả Suốt, Cả Đay vẫn ngày càng hung hăng, sách nhiễu dân lành. Chị Sáu đề nghị Ban chỉ huy Đội tiêu diệt hai tên ác ôn để trừ họa cho dân. 

Tuy nhỏ tuổi nhất nhưng chị Sáu thường đưa ra những sáng kiến đánh địch táo bạo nhất. Đó là cách đánh riêng của chị nhưng cũng là "định mệnh" của chị…

Bà Nguyễn Thị Kim Dung - người con gái tham gia trận đánh vào rạp Majestic đêm 10/6/1948 bị địch kết án tử hình khi mới 16 tuổi từng ở tù chung với chị Võ Thị Sáu - kể về những kỷ niệm sâu sắc với người nữ tù cùng trang lứa với mình: 

"Trong trận này, hai tên ác ôn Suốt, Đay đền tội. Nhiều tên khác bị thương. Nhưng chị Sáu sa vào tay giặc. Năm đó (1950), chị mới 17 tuổi. Suốt ba ngày ba đêm bị tra tấn tại bót Đất Đỏ, Cai tổng Tòng không moi được lời khai nào của chị. Chúng giải chị về khám Bà Rịa, tiếp tục khai thác. 

Tháng 4 năm 1950, địch chuyển chị Sáu về khám Chí Hòa, Sài Gòn. Chị Sáu sống trong vòng tay thương yêu, chăm sóc của những bạn tù, được các chị lớn dạy văn hóa, dạy cách đối phó với kẻ thù trong nhà tù. Chị cảm động trước phần thưởng do Liên đoàn tù nhân khám Chí Hòa tặng, dù đó chỉ là cây bút chì, cuốn tập và đôi bông tai bằng gáo dừa được mài giũa công phu, láng bóng như sừng. Với chị đó là món quà trang điểm đẹp nhất mà chị có được. 

Phiên tòa xử chị Sáu không có luật sư, không có công chứng, chỉ có những tên chánh án, bồi thẩm tay sai cho giặc. Chúng tuyên án tử hình chị vì tội: Giết người, phá rối trật tự trị an, có hành vi chống lại nhà nước bảo hộ Pháp. Án lệnh do Thủ tướng Pháp ký. Bản án tử hình với người con gái chưa đủ tuổi thành niên đã gây dư luận bất bình, phẫn nộ thời ấy.

 Nghe tin dữ, mẹ chị Sáu, bà Đậu đau đớn, vật vã. Bà tìm đủ mọi cách, tìm gặp nhiều người, hỏi thăm đường vào khám Chí Hòa. Nhờ một người lính tốt bụng chỉ đường, bà Đậu được vô khám thăm con. 

Chị Sáu làm ra vẻ bình thản cho mẹ yên tâm. Chị Sáu xin mẹ một chiếc áo bà ba màu hoa cà, một chiếc quần lụa đen, một chiếc khăn rằn và một khăn tay. Tới phút chia tay, chị vẫn không nói về cái chết. Chị chỉ thốt lên nghẹn ngào: "Đừng buồn nữa nghen má!".

Những người bạn tù kể lại: "Những ngày cuối cùng ở khám Chí Hòa, chị Sáu vẫn tiếp tục học văn hóa, thêu thùa và ca hát. Khiếp sợ bản án tử hình không phải là chị Sáu mà chính là bọn thực dân Pháp. Chúng không dám xử tử chị ở Sài Gòn, mà lén lút đưa chị ra Côn Đảo để hành hình. Khi tên chánh án quay ra đọc lệnh thi hành án, chị Sáu bắt đầu hát Tiến quân ca. 

Giọng hát tha thiết, trong trẻo của chị Sáu vút lên, vang ngân giữa đất trời lồng lộng Côn Đảo. Dũng khí của chị Sáu khiến bàn tay cầm súng của bảy tên đao phủ run lên. Bảy tiếng nổ khô khốc chệch choạc. Những tên sát thủ chuyên nghiệp là vậy mà chỉ có hai viên đạn găm vào bả vai và sườn trái chị, tuôn đỏ thắm vạt áo, chị vẫn tiếp tục hát Tiến quân ca. 

Những tên sát thủ chuyên nghiệp kinh hoàng, run rẩy. Tên đội trưởng Lê Dương rút khẩu súng ngắn, lầm lũi bước lại, dí tận mang tai chị, bóp cò! Lúc đó là 7 giờ sáng ngày 23 tháng 1 năm 1952…".

Trong nhiều năm sau đó, tấm gương anh hùng của chị Võ Thị Sáu được truyền đi, đến từng phòng giam, từng người tù, cả thường phạm lẫn tù chính trị. Kỳ lạ thay, người con gái hy sinh khi mới 17 tuổi trở thành biểu tượng linh thiêng trong cả bọn chúa đảo, cai ngục, ngay cả những tên ác ôn nhất. 

Khí phách của chị Võ Thị Sáu đã truyền dẫn đến nhiều thế hệ, đặc biệt những nữ tù Côn Đảo. Với các cựu nữ tù chính trị Côn Đảo và tù binh, tấm gương anh hùng của chị Võ Thị Sáu là nguồn động viên to lớn, giúp các chị vượt qua những thử thách nghiệt ngã nơi nhà tù được mệnh danh là "địa ngục trần gian", khét tiếng vì sự khốc liệt, tàn bạo. 

Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, hơn 2.000 tù nhân đã bị giam giữ tại Côn Đảo. Nhiều người trong số họ đã ngã xuống, tiếp sức cho đồng đội vững bước, đi theo con đường đã chọn, làm nên huyền thoại Côn Đảo…

Hơn ai hết, các cựu nữ tù chính trị và tù binh khi trở lại thăm Côn Đảo hay về quê chị Đất Đỏ, Bà Rịa đều có niềm tin về sự thiêng liêng của chị Sáu. Bởi nhờ có sức mạnh anh hùng của chị Sáu truyền dẫn, mà các chị đã được che chở, được cưu mang bằng những tấm lòng, ngay trong hàng ngũ địch, có thêm dũng khí để chiến đấu và chiến thắng trở về…

Nguồn: https://phunuvietnam.vn

Mời nghe ca khúc: Chị Sáu với quê hương

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm