TIN TỨC
  • Truyện
  • Sự tích sông Quan Tài – Truyện ngắn của Hồng Chiến

Sự tích sông Quan Tài – Truyện ngắn của Hồng Chiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-02 22:43:49
mail facebook google pos stwis
2533 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Buôn Krail có hơn trăm nóc nhà dài hội tụ bên bờ một con sông chảy ngược. Con sông này bắt nguồn từ phía mặt trời mọc, vươn cánh tay dài gân guốc vào tận các khe sâu, núi cao của dãy Chư Yang Sin chắt lọc những hạt nước tinh khiết nhất góp lại, tạo thành dòng rồi đổ về hướng tây, đuổi theo ông mắt trời xem đi ngủ nơi nào. Những người dân buôn Krail hiền lành, chất phác, quanh năm chí thú lo làm ăn và vui chơi, ca hát. Hai bên bờ sông, mùa mưa nước dâng cao, tạo nên một vùng nước rộng mênh mông; nhưng khi mùa khô đến, nước rút đi để lại một cánh đồng rộng lớn, màu mỡ, thuận lợi gieo trồng cây lương thực.

Người dân chỉ cần gom cỏ rác tấp đống lại đốt, xong chọc que tra hạt. Mấy tháng sau cây bắp cao hơn đầu người, mỗi cây cho từ năm đến bảy bắp, bắp nào cũng to như bắp tay người lớn, hạt đều chằn chặn. Còn gieo lúa, mỗi hạt lúa cho bốn năm bông, một bông mang theo cả vốc tay hạt. Nông sản thu về, các bếp làm một cái kho trên vùng đất cao ngoài rẫy để trữ, khi nào ăn ra lấy về chứ không mang về nhà. Dưới sàn: heo, gà, trâu, bò… nhà nào cũng có nhiều để dùng phòng khi mùa mưa không vào rừng bắt thú được. Trong rừng thú nhiều lắm, nhà nào muốn ăn loại gì rủ vài người vào bắt mang về như ta nhốt sẵn trong chuồng vậy rồi chia đều cho tất cả các bếp trong buôn cùng ăn.

Nàng H’Linh con gái của Mtao buôn Krail không những đẹp người, đẹp nết mà còn rất khéo tay trong việc thêu thùa, dệt vải. Nàng thường cùng các nữ tỳ vào rừng già chọn những loại cây có sợi đẹp nhất đem về dệt vải, thêu thùa. Nàng dệt hoa trên áo, lũ bướm nô nức kéo đến xem che kín cả nhà; nàng dệt bụi trúc, chim chóc lao vào định đậu đập đầu vào tấm thêu… M’tao buôn Klail là một đàn người ông trung niên không những khỏe mạnh mà còn mưu lược, thống lĩnh cả vùng phía đông bắc dãy Chư Yang Sin kéo dài đến tận thảo nguyên M’drak được nhiều người yêu quý, kính trọng. Hai vợ chồng M’tao chỉ sinh được một mình H’Linh nên yêu thương nàng hết mực. M’tao buôn Klail có người bạn thân làm M’tao buôn Yok Đôn phía tây dãy Chư Yang Sin, thuộc vùng thảo nguyên Ea Suop, trong nhà lúc nào cũng có hơn trăm con voi, vài ngàn con ngựa, năm ngàn quân lính. M’tao buôn Yok Đôn cũng sinh được một người con trai khôi ngô tuấn tú, săn bắt voi, ném lao, bắn nỏ… từ xưa đến nay chưa có ai sánh bằng và điều đặc biệt là sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm với H’Linh. Hai Mtao thấy các con đều hơn người nên quyết định khi đủ mười bảy mùa rẫy sẽ làm lễ thành hôn cho đôi trẻ. Hàng tháng, nếu Mtao buôn Yok Đôn không dẫn con trai xuống thăm, H’Linh được ama đưa qua bên ấy chơi; đôi trai tài, gái sắc yêu quý nhau lắm, họ chỉ mong đủ tuổi để được làm vợ chồng.

Hôm ấy, buổi sáng trời trong xanh không một gợn mây, nàng H’Linh cùng các tùy nữ vào rừng tìm cây lấy sợi về dệt vải; trưa đến nàng cùng người hầu và quân lính dừng lại bên thác Yang Hanh nghỉ. Mấy người tỳ nữ lấy hoa rừng kết thành vòng đặt lên đầu trang điểm cho H’Linh. Trời đang trong xanh, bỗng một tia chớp lóe lên rồi một tiếng nổ inh tai. Gió ở trên các sườn đồi ào ào chạy đến kéo theo lũ mây đen vần vũ che khuất cả bầu trời. Quân lính mời nàng lên ngựa để về. Nàng H’Linh cười bảo:

– Đang mùa khô, tự nhiên có sấm chớp thế này chắc chỉ mưa ít hạt rồi tạnh thôi, không lo đâu; tắm mưa một lúc cũng hay đấy.

Mọi người vâng lời cùng ngồi đợi mưa. Mưa rơi, lúc đầu chỉ vài hạt sau nặng dần, những hạt mưa thi nhau rơi xuống thành dòng. Quân lính và các tùy nữ dùng tay tạt nước vào nhau; tiếng cười, tiếng nói làm lay động cả cánh rừng. Mọi người tắm mưa, nô đùa, còn H’Linh ngồi trên tảng đá nhìn và vỗ tay cổ vũ cho cánh tùy nữ. Mọi người mải vui không hay biết có một đoàn người lạ vừa đến, đang lặng lẽ chứng kiến cảnh vui đùa của quân lính H’Linh. Trời đột ngột tạnh mưa như lúc ập đến. Gió lại ào ào nổi lên. Trên trời những đám mây đen vẫn lầm lì không chịu bay đi. Mọi người đang vui đùa bỗng im bặt khi phát hiện ra đoàn người lạ đứng trong rừng già. Quân lính lao lại cầm giáo mác, cung tên; bọn tùy nữ như bầy ong thợ vội vã chạy lại đứng vòng tròn xung quanh H’Linh. Từ trong rừng, một chàng thanh niên thân hình vạm vỡ, tuổi chừng mười tám mùa trăng, cỡi con voi đực trắng có cặp ngà chéo nhau, đi đến bên khoảng đất trống gần nơi quân lính của H’Linh đang đứng thủ thế chuẩn bị giao chiến thì dừng lại, voi quỳ xuống cho chàng trai bước xuống đất. Người con trai lạ cất tiếng:

– Chào các bạn, mình ở buôn xa đến chơi xin có lời chào tất cả.

– Đất, nước và rừng già là của chung mọi người mà.

H’Linh bước ra trả lời. Chàng trai lạ sững người khi nhìn thấy khuôn mặt xinh đẹp, trên đầu còn đội một vòng hoa trắng tinh khiết, hương thơm ngào ngạt tỏa ra làm rụt luôn cái lưỡi không còn biết nói nữa; đôi mắt mở to hết cở như gặp Yang (1) xuất hiện. Thấy người lạ như bức tượng mới đẽo, H’Linh mỉm cười hỏi thêm:

– Người lạ ở đâu đến và định đi đâu mà qua vùng đất này?

– Tôi… tôi từ bên kia núi… qua bên này núi, đi… đi…!

– Người ở tận Lang Bi Ang qua?

– Đúng thế!

– Định đi đâu mà lại qua đây?

– Đây là đâu?

– Đây là đất của Mtao buôn Klail.

– Tôi… tôi cũng định đến thăm Mtao buôn Klail.

– Đến thăm Mtao có việc gì không?

– Chuyển lời thăm và lời mời Mtao buôn Klail qua thăm Tù trưởng La Ngư Thượng (2).

– Tôi là H’Linh, con gái Mtao buôn Klail, mời chàng về nhà.

H’Linh lên ngựa đi trước cùng quân hầu của mình, còn chàng trai lạ có năm chục con voi, ba trăm con ngựa tía cao lớn nối gót theo sau. Về gần đến buôn, tiếng tù và ngân lên báo hiệu có người lạ đến thăm. Mtao buôn Klail ra đầu cầu thang đứng đợi, thấy đoàn quân của chàng trai lạ tiến vào buôn gươm giáo sáng lòe, đội ngũ như một đoàn quân thiện chiến lấy làm bằng lòng lắm. Chàng trai đến chân cầu thang xuống voi, cúi đầu làm lễ chào, Mtao mời vào nhà nói chuyện. Chàng trai lạ cho quân lính mang lễ vật lên nhà gồm: một gùi trà, hai gùi quả hồng sấy, ba gùi thịt sơn dương khô cùng chín súc vải dệt của người K’ho…

– Chàng trai ở đâu đến mà tặng ta nhiều lễ vật thế?

– Tôi là K’Lang bạp (3) của Tù trưởng La Ngư Thượng thuộc xứ cao nguyên Lâm Viên, nghe tiếng Mtao buôn Klail là người tài giỏi lại rộng bụng nghĩa hiệp nên vâng lời mebèp (4) qua thăm và xin kết nối tình giao hảo.

– K’Lang đi mấy ngày mới tới được đây?

– Vừa đủ một bàn tay năm lần mặt trời đi ngủ.

– Bên ấy có núi cao như bên này không?

– Cũng giống như bên này, nhưng bên ấy nhiều cây có lá nhỏ hơn.

Mtao buôn Klail ưng bụng lắm mở tiệc thết đãi; mổ năm con bò, mười con heo lớn lại chôn cột đầu buôn buộc rượu mời khách. K’Lang ở lại thăm năm ngày, ngày nào cũng được Mtao bày tiệc thết đãi ân tình, quân lính đôi bên ngả nghiêng bên ché rượu, vui lắm; tiếng chiêng bay vút qua các đỉnh núi vang tận trời xanh đủ năm ngày năm đêm. Thấy nàng H’Linh xinh đẹp, khéo tay, đối xử với mọi người rất vui vẻ càng làm cho lòng K’Lang thêm thầm yêu trộm nhớ muốn lấy làm vợ. Qua ngày thứ sáu, K’Lang ngỏ lời mời Mtao qua thăm Tù trưởng La Ngư Thượng. Mtao nhận lời, mang theo đoàn tùy tùng mười con voi, một trăm con ngựa, cùng con gái H’Linh lên đường. Sau năm ngày trèo đèo, lội suối M’tao buôn Klail đến La Ngư Thượng và được Tù trưởng La Ngư Thượng mở tiệc lớn chiêu đãi. Trong những ngày lưu lại, đích thân Tù trưởng La Ngư Thượng đưa Mtao đi thăm các vùng đất thuộc mình cai quản. Được chứng kiến cảnh vật, đất đai phì nhiêu, cây cỏ xanh tốt và đặc biệt có những hồ nước lớn trong vùng làm M’tao buôn Klail ưng lắm. Riêng H’Linh được K’Lang dẫn đi thăm những vườn hoa có rất nhiều hoa lạ, màu sắc rực rỡ, hương thơm khi nào cũng vây đầy xung quanh. Thăm nơi dệt vải, H’Linh thấy rất nhiều mẫu mới lạ và các sợi dùng để dệt cũng mảnh hơn, óng mượt hơn so với bên nhà nên thích lắm cố hỏi cặn kẽ để học về nhà làm theo. Thấy H’Linh thông minh, ham hiểu biết như vậy, lòng K’Lang càng đắm say không muốn rời xa nàng.

Thời gian thấm thoắt, thoáng một cái đã mười ngày trôi qua, M’tao buôn Klail ngỏ lời xin về. Tù trưởng La Ngư Thượng cố giữ lại thêm mấy ngày, mở tiệc linh đình chia tay. Khi rượu ché túc gần vơi, ché ba gần cạn, Tù trưởng La Ngư Thượng mới ngỏ lời:

– Con gái của Mtao chắc cũng đến tuổi bắt chồng, con trai tôi cũng đã đủ tuổi lấy vợ, chúng ta có thể kết làm thông gia được chăng?

– Ô, chúng ta chỉ có thể kết bạn thôi, còn thông gia thì không được vì H’Linh đã có lời đính ước rồi.

Nghe Mtao trả lời, gương mặt Tù trưởng hơi tối lại, ông ta thở dài rồi nói:

– Chúng nó không có duyên thì đành vậy.

Họ chia tay nhau trong tiếng chiêng tiễn khách và hẹn gặp lại tại buôn Klail.

Thấy Mtao buôn Klail đưa nàng H’Linh về nhà, lòng K’Lang như có lửa đốt, không ăn không ngủ được, muốn xin Tù trưởng cho quân lính qua cướp dâu. Lúc đầu Tù trưởng không ưng, nhưng sau thấy K’Lang không ăn, không ngủ, nằm bẹp một góc nhà nên thương con, buộc phải đồng ý.

Buổi sáng, ông mặt trời mới thức dậy, người dân buôn Klail chưa kịp nổi lửa nấu ăn đã nghe có tiếng trống trận vang lên dồn dập rồi một đoàn quân từ trong rừng xông ra. Con bạch tượng chéo ngà đi đầu, trên cổ có chàng thanh niên khoác áo giáp bạc, cầm kiếm thép sáng lòe; phía sau có năm trăm con voi chiến, năm ngàn con ngựa và đội lính bộ đông như lá rừng bày trận trước buôn. Mtao buôn Klail vội vã tập hợp một trăm hai mươi con voi, năm trăm con ngựa và toàn bộ trai tráng hơn ngàn người mang cung tên, giáo mác ra đối trận.

Một hồi trống dài vừa dứt, người mặc áo giáp bạc thúc con voi trắng tiến ra phía trước, Mtao buôn Klail cũng thúc voi tiến lên hỏi:

– Tại sao lại đưa quân đến đây?

– Thưa Mtao, hôm nay tôi đến để xin được đón nàng H’Linh về làm vợ.

– H’Linh đã có đính ước, không thể gả cho ngươi được, hãy mang quân về đi.

– Tôi nhất định phải bắt H’Linh về làm vợ!

– Nếu không được thì sao?

– Chiến tranh.

Nàng H’Linh cả đêm thao thức không ngủ được, sáng ra dậy sớm dệt vải nhưng sợi bị đứt, nối được sợi, khung lại gãy làm đôi, lòng như có than hồng. Đang bồn chồn chưa biết nguyên nhân làm sao, bỗng nghe trống trận vang lên, nàng giật mình biết điềm chẳng lành nên vội xuống sàn đóng yên vào con ngựa bạch yêu quý rồi theo sau voi Mtao ra trận. Khi nghe K’Lang nói vậy, H’Linh thúc ngựa xông ra:

– Ta đã đính hôn từ nhỏ, xem như đã có chồng sao người còn làm điều càn bậy như thế?

– H’Linh, ta yêu nàng, bất chấp tất cả để bắt nàng làm vợ. Nếu Mtao không bằng lòng, nàng không ưng ý, hôm nay đất này sẽ thành sông máu. Tùy nàng chọn.

H’Linh nước mắt lưng tròng, trong lòng đau xót lắm, thúc ngựa lại bên Mtao:

– Mtao ơi, con yêu Mtao và amí(5) nhiều lắm, nhưng không thể để vì con mà chiến tranh xảy ra, nhiều người vô tội phải chết, biết bao người phụ nữ mất chồng, trẻ con mất cha… Xin Mtao cho con được tự xử.

H’Linh nói xong quay ngựa tiến lên phía trước nói:

– Chỉ vì một người con gái mà chàng đẩy nhiều người vào chỗ chết như vậy là quá tàn nhẫn, chỉ vì cái riêng mà gây họa cho nhiều người, vậy là không tốt. Thôi thì thuận theo ý Yang vậy, nếu chàng đuổi theo bắt được ta trước khi ta đến được buôn của người ta sắp bắt làm chồng, ta sẽ đồng ý làm vợ người. Còn không thì hãy mang quân về, không được gây chuyện binh đao.

Nghe H’Linh nói vậy, K’Lang mừng lắm nhận lời ngay vì nghĩ: với con bạch tượng nhanh nhẹn này thì chỉ chớp mắt có thể bắt được nàng mang về làm vợ. Ba hồi trống nổi lên vừa dứt, trong tiếng hò reo của quân sỹ hai bên, H’Linh thúc ngựa lao vào cánh rừng ven sông lớn chạy ngược về phía tây. Con ngựa thuận ý chủ, chạy theo con đường nhỏ có nhiều cây to làm con voi kềnh càng luôn phải tránh né cây mới đi được. Ngựa của H’Linh chạy từ sáng qua trưa, sang chiều đến một thác nước thì kiệt sức gục đầu chết; sau này người dân địa phương đặt tên là thác Trinh Nữ. H’Linh không còn ngựa đành tiếp tục chạy bộ; nàng chạy mãi, chạy mãi chân tóe máu, váy rách toạc… đến khi mặt trời xuống núi đi ngủ mới tới một con thác lớn đang gầm thét dữ dội, phía trên có nhiều đá lớn chắn mất đường đi. H’ Linh ngửa mặt nhìn lên trời than:

– Yang ơi, con biết làm sao đây, nếu để K’lang bắt được thì chắc chắn M’tao buôn Yok Đôn sẽ kéo quân đến rửa hận, chiến tranh bao giờ kết thúc, bao nhiều người sẽ chết oan uổng vì con. Con tự nguyện xin được chết để ngăn cuộc chiến tranh vô nghĩa này. Cầu xin Yang cho con được toại nguyện.

Nói dứt lời, H’Linh leo lên hòn đá cao, gieo mình xuống dòng thác. Vừa lúc đó K’Lang thúc voi chạy đến thấy thế hét lên một tiếng hãi hùng. Dòng thác gầm lên, bồng xác nàng đặt lên hòn đá phía dưới chân thác, phun bọt trắng phau vây quanh. K’Lang đứng lặng nhìn xác người mình yêu, trong lòng vô cùng hối hận. Mtao cũng thúc voi chạy đến nhìn thấy xác con vội xuống bế mang về. Dòng thác nơi H’Linh chết được người dân địa phương đặt tên là thác H’Linh.

M’Tao buôn Klail đưa được xác H’Linh về đến buôn; amí H’Linh chạy ra nhìn thấy con đã chết liền thét lên một tiếng ngã vật ra đầu đập vào cầu thang, hồn đi theo Yang luôn. Mtao đau xót, căm giận cánh rừng bên phải dòng sông không tránh đường để con gái đi nên mới phải chết thảm để rồi vợ cũng chết theo. Vì thế Mtao không thèm chặt gỗ bên này mà sai quân lính qua bên kia sông xin rừng cho chặt hai cây gỗ quý về làm quan tài cho vợ, cho con. Nhưng lạ thay, hễ quan tài làm xong đưa qua sông thì chìm, lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba… đến lần thứ bảy vẫn chìm. Mtao ngạc nhiên lắm, mới lập đàn cầu xin Yang sông cho mình đưa quan tài về chôn cất cho vợ con. Đêm đến Yang sông hiện về bảo:

– Nếu nhà ngươi đồng ý từ nay cho mọi người gọi tên sông là Krông Bông, ta sẽ cho qua.

Mtao bằng lòng.

Mờ sáng hôm sau hai cây gỗ lớn không biết ai chặt từ rừng bên trái sông trôi qua bên phải sông; Mtao cho voi kéo về làm quan tài chôn cất cho vợ và con gái. Tang lễ xong, Mtao làm lễ tạ ơn Yang sông và ra lệnh cho mọi người gọi tên sông là Krông Bông vì thế cho đến tận ngày nay người dân nơi đây vẫn gọi dòng sông ấy là Krông Bông – sông Quan Tài.

H.C

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm