TIN TỨC
  • Truyện
  • Bến Mồ Côi | Nguyễn Quế

Bến Mồ Côi | Nguyễn Quế

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-12 15:55:48
mail facebook google pos stwis
3847 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

NGUYỄN QUẾ

Nhân đợt đi công tác, tôi có ý định ghé thăm trang trại chú Tư mà không báo trước nhằm tạo cho chú sự bất ngờ. Biết đâu sự xuất hiện đường đột của tôi ở nơi xa xôi hẻo lánh ấy sẽ làm cho ông cảm thấy vui hơn. Thực tình tôi hiểu và rất thương chú, nhất là khi nhiều người xung quanh cứ bảo chú hơi bị gàn, đang yên đang lành lại bỏ phố về rừng, sống vất vả, cô đơn một mình, bởi qua tình thâm giao giữa chú với gia đình mình, tôi biết được những tâm sự thầm kín của ông.

Chú Tư và ba tôi vốn người cùng quê. Chú ít hơn ba tôi vài tuổi nhưng thân thiết với nhau từ nhỏ. Kẻ trước người sau, hai ông đều đi tham gia kháng chiến trở về, giờ lại sống cùng một dãy phố và có quan điểm, lối sống giống nhau. Vì vậy, dù không phải bà con họ hàng nhưng chú và ba tôi xem nhau như anh em ruột. Thím Tư mất cách nay đã 5 năm vì một căn bệnh kỳ lạ và hiểm nghèo. Thím vốn là đồng đội của chú. Chú thím không có con nhưng sống rất hạnh phúc. Nói đúng ra, thím 3 lần sinh nở nhưng không được làm mẹ bởi cả 3 lần đều bị quái thai, chết yểu. Có người nói di chứng của chất độc da cam và sốt rét rừng mãn tính. Chú bảo: “Kệ nó, nhằm nhò gì!”. Không máu mủ ruột rà, chú thím dành hết tình cảm cho những người xung quanh. Khác với bề ngoài trầm ngâm ít nói, chú Tư là người nặng tình nặng nghĩa, luôn sẵn lòng hy sinh vì người khác. Việc chú bỏ phố về rừng lần này cũng không phải ngoại lệ.

Một buổi tối mùa hè, chú Tư ghé nhà tôi. Vừa ngồi xuống ghế đối diện với ba tôi, chú mở lời:

- Em có điều này muốn thưa với anh.

Ba tôi rót nước mời chú và bảo:

- Có gì chú cứ nói đi.

Sau khi nhấp ngụm trà ba tôi đưa, chú Tư bảo rằng suốt thời gian qua hầu như chưa đêm nào chú ngủ ngon giấc. Nhiều khi vừa chợp mắt đã thấy hình ảnh các đồng đội như lạ, như quen đang băng rừng lội suối hay đang lao vào trận đánh trong cảnh khói lửa ngút trời. Họ trách chú sao đã vội quên một thời chia ngọt sẻ bùi, sống chết có nhau. Vì vậy, chú quyết định trở lại chiến trường xưa gây dựng cuộc sống mới để được sống lại những kỷ niệm của một thời đã qua. Nghe những lời tâm sự của chú, ba tôi thân mật hỏi:

- Chú tính đi đâu?

- Em lên Bến Mồ Côi. Đó là nơi em đã gắn bó cả thời thanh xuân, bỏ lại một phần thân thể của mình và chứng kiến bao đồng đội ngã xuống. Em mới lên trển khảo sát lại tình hình, anh à.

- Chà! Gian nan đấy!… Vậy bao giờ chú đi?

- Dạ, ít bữa nữa em đi.

Ba hôm sau, chú khoác ba lô, mang theo tấm hình thím Tư trước ngực, lên đường. Trước khi chú về nguồn, tôi xin phép ba tôi qua ngủ với chú một đêm để chú ấm lòng.

Không biết từ bao giờ và ai là người đã đặt tên cho nơi ấy là Bến Mồ Côi? Qua lời kể của chú Tư, tôi được biết, đó vốn là vùng rừng chiến khu với những ngọn đồi trập trùng xen kẽ các dải đất bằng phẳng nằm bên cạnh một con sông nổi tiếng, có vị trí rất quan trọng trong hai cuộc kháng chiến. Là một chàng trai mới 15 tuổi mồ côi cha mẹ theo người anh họ đi tham gia cách mạng, chú được đưa tới đây bổ sung vào đội tăng gia sản xuất. Sau đó được điều động về đơn vị huấn luyện chiến đấu trực tiếp bảo vệ bệnh viện dã chiến của phân khu rồi chuyển sang đơn vị bảo vệ kho vũ khí – đạn và sẵn sàng chi viện cho các trận đánh nơi tuyến đầu.

Bệnh viện dã chiến nằm giữa khu rừng bằng lăng mé thung lũng nhỏ, cách chỗ ở của đội tăng gia khoảng hơn cây số, phía dưới có mọi nước trong vắt chảy ra phía bờ sông. Những lúc rảnh rỗi, chú Tư thường xin phép chỉ huy đơn vị tới hỗ trợ y, bác sỹ chăm sóc thương, bệnh binh. Chính tại nơi đây, qua nhiều lần chứng kiến lòng quả cảm trước làn ranh mong manh giữa sự sống, cái chết cùng nỗi đau thương mất mát của bao đồng đội đã để lại cho chú những ấn tượng sâu sắc và những bài học đầu tiên của đời quân ngũ. Thương nhất là phái nữ. Chú nhớ mãi hình ảnh một nữ chiến sỹ trẻ tuổi và xinh đẹp. Dù bị thương phải cưa mất một chân trong điều kiện thiếu thuốc giảm đau, chị đã cắn răng chịu đựng, không một tiếng rên la. Tuy vậy, khi vết thương đã lành sẹo, mỗi lần nhìn xuống cái chân cụt của mình, chị lại lặng lẽ lau những giọt nước mắt chảy dài trên khuôn mặt.

Suốt thời gian ở Bến Mồ Côi, chú Tư đã tham gia hàng chục trận đánh, trong đó có những trận cam go ác liệt, hai lần bị thương nặng. Chú đã chứng kiến bao tấm gương vượt qua gian lao thử thách, chiến đấu dũng cảm, hy sinh oanh liệt của đồng đội cùng những thủ đoạn tàn bạo của kẻ thù. Chỉ riêng Bến Mồ Côi đã phải hứng chịu không biết bao nhiêu bom đạn của địch. Kẻ thù cũng đã nhiều lần sử dụng chất độc da cam hòng tận diệt mọi sự sống trên vùng đất này mà hậu quả thảm khốc của nó là những khu rừng trụi lá, cây cối chết trơ cành và những di chứng mà con người từng sống nơi đây phải gánh chịu. Nhưng nỗi đau lớn nhất trong lòng chú Tư là hài cốt của bao chiến sỹ, trong đó có những người do chính tay chú và các đồng đội của mình chôn cất chưa tìm lại được. Đó là một trong những lý do thôi thúc chú trở về với Bến Mồ Côi…


Nợ nhân sinh – tranh tổng hợp – Trần Vinh.

Theo chỉ dẫn của ba tôi, tôi đi xe khách đến ngã tư T rồi thuê xe ôm vào chỗ chú Tư. Sau khi chú rời phố về đó một thời gian ngắn, tôi lên đường nhập ngũ rồi đi học riết, nay mới có điều kiện lên thăm chú nên hơi bỡ ngỡ. Nghe tôi nói nơi mình cần đến, anh chạy xe ôm hỏi:

- Vô chỗ ông Tư Tình Nghĩa phải hôn?

- Dà… Chú Tư… Ủa, anh cũng biết chú Tư tui? Mà sao lại gọi là ông Tư Tình Nghĩa? – Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

Anh xe ôm thủng thẳng:

- Ở đây ai lại không biết ổng. Bởi ổng thấy người nào khó khăn thì giúp đỡ. Dân mến, gọi riết thành danh.

Anh xe ôm hỏi tôi có quan hệ thế nào với chú Tư rồi xuýt xoa:

- Can trường lắm mới làm được như vầy đó nghen! Mà đâu phải làm cho mình. Ổng làm vì cộng đồng, làm để lập quỹ giúp đỡ con em gia đình chính sách và những người khó khăn. Đó mới là điều đáng phục.

Đường vào Bến Mồ Côi ngoằn ngoèo, khúc khuỷu. Hai bên là những khu rừng chồi tạp xen kẽ những vạt đất trống. Thỉnh thoảng những ngọn gió mồ côi ùa tới, thổi tung cát bụi trên đường rồi chạy ràn rạt vào trốn sau những lùm cây xa tít. Vừa lạng lách né ổ gà, rễ cây chìa ra hai bên đường một cách sành điệu, anh xe ôm vừa kể cho tôi nghe những gian nan vất vả và nguy hiểm mà chú Tư đã trải qua. Anh bảo, trước đây có vào làm cho chú Tư một thời gian nên anh biết rõ, công sức, vốn liếng bỏ ra để tạo nên một cơ ngơi ở nơi rừng sâu như vậy rất lớn. Nào chuyện làm nhà làm cửa. Nào phải cải tạo cả một khu rừng hoang. Nào đi tìm mua và chuyên chở giống cây ở khắp nơi… Cây trồng lên rồi, không chăm sóc kỹ sẽ thành công toi, vốn liếng đổ sông đổ biển. Riêng việc giữ cho rừng cây đừng chịu cảnh chết khô đã là một vấn đề nan giải. Cả một thời gian dài, ban ngày lao động cật lực, đêm đêm chú Tư còn phải thức trắng để phăn nước từ giếng lên gánh đi tưới cho từng gốc cây một. Đất rừng hút nước dữ lắm. Vừa trút cả thùng nước xuống đã thấy khô rang… Cũng hên, có lần đang đêm chú bị sốt nặng, tình cờ có hai anh thợ rừng đi ngang qua khát nước vào xin nước uống. Thấy cửa chỉ khép hờ mà gọi mãi không ai trả lời, họ ghé tai nghe, phát hiện có tiếng rên. Biết chuyện chẳng lành, họ đẩy cửa vào xem thấy chú trùm hai cái mền mà người run cầm cập, mồ hôi nhễ nhãi. Họ lật đật ẵm chú ra xe máy, chở gấp tới bệnh viện nông trường cao su ngoài ngã tư T cấp cứu. Bác sỹ bảo, nếu chậm trễ một hai tiếng sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Vừa cắt sốt chú đã đòi ra viện, trở về với vườn cây.

Thực ra, chuyện gian nan vất vả của chú Tư tôi đã nhiều lần được nghe ba tôi kể lại. Ba tôi thương chú, lâu lâu lại đánh đường lên thăm, đôi khi còn ở lại vài ngày hỗ trợ chú trồng, chăm sóc vườn cây và đi tìm hài cốt liệt sỹ. Thỉnh thoảng chú cũng tranh thủ chạy về thăm ba má tôi. Thương chú sống một mình, thiếu bàn tay chăm sóc của người phụ nữ, má tôi thường nấu những món ăn ngon, mua thêm vài bộ quần áo để ba tôi mang lên cho chú. Lần này cũng vậy. Trước khi tôi lên đường thăm chú, má tôi chuẩn bị đủ thứ đồ “tiếp tế”. Dù cách xa nhưng mối liên hệ giữa chú với gia đình tôi vẫn luôn nối liền nên ba tôi hiểu rõ niềm đam mê và nỗi gian truân của chú. Tuy vậy, những câu chuyện anh xe ôm vừa kể cho tôi biết thêm về những năm tháng chú Tư đã trải qua.

Chợt một mảng xanh lớn, đậm màu hiện lên trước mặt. “Sắp tới chỗ chú Tư rồi đây!”, tôi nhủ thầm. Xe quẹo vào con đường thẳng tắp và khá rộng giữa vườn cây ăn trái. Phía trước là ngôi nhà nhỏ xinh xắn. Chú Tư mặc bộ quân phục tiệp với màu xanh cây lá đứng ở góc sân bên phải, trông oai vệ và trang nghiêm như một vị chỉ huy đang đứng trước hàng quân, chăm chú nhìn chiếc xe máy đang chạy tới. Xe vừa dừng, chú vội chạy tới thân mật vỗ vào vai anh xe ôm và nắm tay tôi, hỏi:

- Chà! Bất ngờ dữ heng! Đi đường vất vả lắm hông?

- Dạ, con chào chú! Dạ, hổng sao chú – Tôi trả lời.

Cất đồ đạc xong, tôi hăm hở đi thăm vườn cây. Chú Tư dẫn tôi ra giữa sân, đưa tay chỉ một vòng xung quanh rồi bảo:

- Đây chính là khu vực trung tâm của Bến Mồ Côi, nơi từng hứng chịu nhiều nhất bom đạn và chất độc da cam của địch. Vì vậy, khi lên đây, chú chọn “đóng đô” tại nơi này.

Tôi buột miệng hỏi:

- Lúc đầu xa dân, xa đường, xa chợ, lại một mình, chắc gian nan dữ heng chú?

- Ôi, có vất vả thiệt, nhưng hổng sao! Nhằm nhò gì! Vốn là lính, chú quen rồi!… Trước khi tiến hành làm, chú có trình bày kỹ với lãnh đạo địa phương và được họ đồng tình ủng hộ nên mọi việc cũng thuận lợi. Hơn nữa, khu vực này giờ chủ yếu là cỏ Mỹ và mắc cỡ tây nên làm cũng mau.

Tôi thầm nghĩ, chú thường hay nói về những thuận lợi và sự giúp đỡ của người khác, ít khi nói đến những khó khăn, gian khổ của mình.

Theo chân chú Tư, tôi bước vào kính cẩn dâng nén nhang thơm lên hương hồn các liệt sỹ trong ngôi nhà thờ rồi đi xem vườn. Chỉ tay về những hàng cây phía trước, chú Tư nói vui rằng đó là đơn vị “quân, binh chủng hợp thành”, đủ các loại cây trái, dành để hái cúng anh em chiến sỹ và tặng khách đến thăm. Kế tiếp là các “đơn vị” bưởi, cam, mít, ổi, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, vải, nhãn… Bưởi thì có bưởi da xanh, bưởi Năm Roi; có cả giống bưởi Phúc Trạch ở Hà Tĩnh, bưởi Diễn Hà Nội, bưởi Đoan Hùng của Phú Thọ… Mít có giống mít Thái, mít tố nữ Lái Thiêu… Đặc sản mọi miền, đủ cả. Đi một đoạn lại gặp vết tích của những hố bom lớn. Chú Tư bảo, lúc mới lên thường gặp bom đạn thời chiến tranh còn sót lại, phải nhờ anh em ngoài huyện đội vào tháo gỡ, thu gom giùm. Bất chợt có tiếng gà gáy vang lên. Ở đâu đó trong khu vườn và xa hơn nữa nhiều tiếng gáy tiếp ứng râm ran. Nhìn rừng cây trước mặt, tôi đường đột hỏi:

- Gần chục héc-ta chỉ trồng rặt cây ăn trái ha chú?

Chú Tư bảo:

- Cũng có người bàn trồng cây này cây kia nhưng chú trả lời, bên cạnh mong muốn góp phần mang lại sự sống mới cho chiến trường xưa, mục đích chú lên đây là tạo nơi tụ họp cho vong limh những đồng đội đã nằm xuống trên mảnh đất này. Nơi tụ họp ấy, chú nghĩ chẳng gì bằng vườn cây hoa thơm trái ngọt.

Nghe những lời chú nói, tôi chợt liên tưởng tới ngôi nhà thờ to, đẹp và chắc chắn giữa vườn, có hành lang xung quanh và khoảng sân rộng phía trước mình vừa vào dâng hương lúc nãy.

Hai chú cháu đang chuyện trò vui vẻ thì một người đàn ông lớn tuổi, dáng cao và hơi ốm đi tới. Người đàn ông vừa cười vừa nói, giọng rôm rả:

- Nghe bảo có khách ở thành phố lên, qua nhậu với ông anh vài ly đây!

Chú Tư vẻ mặt tươi cười giới thiệu tôi với người đàn ông rồi quay qua tôi, bảo:

- Đây là chú Sáu Ngô, lên sau chú chừng dăm tháng.

Bắt tay tôi một cách thân mật, chú Sáu tiếp lời chú Tư, giọng tếu táo:

- Là chú sợ ông anh một mình buồn nên lên bù khú với ổng đó cháu!… Chú vốn là lính truyền tin của chế độ cũ. Sau 75, gia đình chú đi kinh tế mới. Một thời gian sau, do đông con, đời sống khó khăn, chú để cô con gái lớn và cậu con trai út ở lại “hậu cứ” rồi đưa cả nhà gồm chú thím cùng 5 người con trai, 2 người con gái lên đây lập nghiệp.

- Dạ, chú ở gần đây không ạ? Bước đầu chắc gian truân lắm phải không chú ? – Tôi hỏi thăm chú Sáu.

Chú trả lời, giọng xởi lởi:

- Cách đây chỉ hơn cây số. Còn chuyện vất vả thì khỏi nói. Nhiều lúc nhìn đám con quần áo tơi tả, làm quần quật như lao động khổ sai, ăn uống thì đạm bạc, chú xót xa lắm, nhưng nhờ ông bà thương, khó khăn từ từ cũng qua… Lên đây, chú chọn khu sản xuất năm xưa của chú Tư làm “đại bản doanh”, sau đó tập trung nhân lực cải tạo vùng đất trũng ven mọi nước gần bệnh viện cũ làm nơi trồng lúa và rau quả. Với phương châm “Lấy ngắn nuôi dài”, hiện gia đình chú có 7 héc-ta cao su sắp cạo mủ và 3 héc-ta điều đang thu hoạch vụ đầu. Vậy là cuộc sống đã dần ổn định. Cứ chiều chiều, chú lại cuốc bộ tới đây uống trà, chơi cờ tướng và nói chuyện với chú Tư cho vui. Lâu lâu có mồi ngon, anh em làm vài ly rượu đế cho thông máu huyết.

Ngừng giây lát, chú nói tiếp, giọng hơi chùng xuống:

- Chú biết nơi này nhờ đi tìm mộ anh chú trước là bộ đội cùng đơn vị với anh Tư đây rồi gặp anh Tư và nhờ ảnh hướng dẫn. Khi loạn lạc, chiến tranh, mỗi người một chiến tuyến. Hòa bình gặp nhau té ra cùng người nhà cả.

Chú Sáu vừa dứt lời thì vợ chồng người con trai lớn của chú tới, mang theo các thứ mà chú bảo là “đặc sản” của Bến Mồ Côi: nào mình cá lăng nướng muối ớt, đầu cá lăng nấu canh chua ăn với bún, cá lóc nướng trui cuốn bánh tráng với trái điều chín và rau rừng; nào rượu nếp nhà nấu thơm phức… Tôi phụ chú Sáu chọn những thứ ngon nhất bưng ra nhà thờ cúng hương hồn những người đã khuất. Chú Tư cầm điện thoại gọi ai đó. Lát sau, hai người đàn ông còn khá trẻ bước tới, chú giới thiệu là các thành viên mới của Bến Mồ Côi. Bày các thứ má tôi gởi lên bên cạnh những món chế biến tại chỗ, chú bảo:

- Đây! “Đặc sản” của phố kết hợp với “đặc sản” của rừng nhen!

Mồi, rượu đã sẵn sàng. Chú Sáu hô hào:

- Bến Mồ Côi hổng còn “mồ côi” nữa rồi! Sẽ ngày càng có thêm những thành viên mới. Thôi, dô nào!… Mừng ngày hội ngộ nhen!

Mới uống một, hai ly rượu nhỏ, tôi đã cảm nhận được hơi nóng và hương vị của rượu nếp lan tỏa khắp cơ thể. Sợ tôi say, chú Sáu bảo:

- Chủ yếu ăn cho no, rượu tùy khả năng từng người nhen cháu. Còn ai uống được thì vô tư. Nào!… Dô!…

Cuộc vui rồi cũng sắp đến hồi kết thúc. Từ tiệc rượu chuyển sang tiệc trà. Chợt chú Sáu hất hàm về phía chú Tư, nháy mắt với tôi rồi nói:

- Gian truân lúc nào hổng biết chớ giờ sướng nhất là cái ông Tư Tình Nghĩa đây! Một mình một động. Đồ ăn, thức nhậu mênh mông. Khoản thu từ rừng trái cây này và mười mấy triệu tiền lương hưu hàng tháng coi như hổng thèm mó tới.

Chú Tư chẳng chịu thua, liền tấn công lại:

- Chứ đâu như ai làm tiểu đội phó hoài, suốt ngày bị tiểu đội trưởng ăn hiếp, sai vặt.

Chú Sáu giả bộ không nghe, nhìn xéo qua chú Tư rồi vỗ vào vai tôi, nói tiếp:

- Đánh đấm, làm lụng các thứ thì giỏi nhưng vụ ấy dở ẹc Năm ơi! Hổng học được chú Sáu chút nào…

- Nè! Đừng có xỉa dô chuyện của người khác nghe chưa… Chuyện nhỏ. Nhằm nhò gì!

- Ha… ha… ha !… – Chú Sáu ngửa đầu cười khoái chí. Đoạn, ông ghé vào tai tôi giả bộ thì thầm:

- Vậy chớ nay tiến bộ nhiều rồi nghe mậy! Lên Zalo lập nhóm Cựu chiến sỹ Bến Mồ Côi, mới mấy bữa mà tập hợp được hơn trăm thành viên rồi đó. Chú lén vô coi, thấy nhiều cô hiện sống độc thân còn bén lắm! Đang lên kế hoạch tổ chức họp mặt tại đây nữa đó. Phen này thì chết chắc! Ha… ha… ha!…

Tôi và các vị thành viên mới của Bến Mồ Côi bị giọng cười chú Sáu lôi cuốn, cười nghiêng ngả. Cả chú Tư nữa cũng phải nhăn mặt cười theo. Tiếng cười vang vọng cả một vùng bạt ngàn cây trái.

Nguồn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 21

Bài viết liên quan

Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng
Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm