- Truyện
- Cứu người đẹp - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Cứu người đẹp - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Một câu chuyện giả cổ, mở ra từ hành trình “cứu người đẹp”, nhưng dần dẫn người đọc đi xa hơn – tới những suy ngẫm về lòng người, về luật và cách trị nước. “Cứu người đẹp” của Lê Thanh Huệ không chỉ là một truyện ngắn, mà còn là một ngụ ngôn mang màu sắc chính luận, đặt ra những câu hỏi đáng suy nghĩ giữa đời sống hôm nay.
Cửa trại lúc chiều tà; bọn cướp ùa ra nhìn chàng trai thanh tú, đang xuống ngựa.
Hoàng tử bước lên, rút kiếm la to:
- Nhân danh Đức vua, trả người đẹp ngay, nếu không các người sẽ phải đền mạng.
Bọn cướp trố mắt nhìn.
Hoàng tử xuống tấn, múa gươm.
Cả lũ cười lăn.
Tướng cướp đưa mắt, phó tướng bước lên, quát lớn:
- Thôi đi! - Hoàng tử giật mình, rơi kiếm - Muốn đấu gươm, mày về học mười năm rồi quay lại. Cút ngay! Nếu không, chỉ một đường, lưỡi gươm này đưa mày xuống thẳng điện Diêm Vương.
Hoàng tử lấy lại hồn phách, nhặt kiếm bước lên. Tướng cướp gạt phó tướng:
- Ta đây không cần biết chú em có phải con nhà quan không. Giết chú em dễ như trở bàn tay, nhưng phải họa lớn hơn giết dân đen. Muốn cứu người đẹp phải biết cướp người đẹp. Chú em nhất quyết cứu người đẹp thì ở đây với bọn ta. Học phí rất cao. Phiền chú em về nhà lấy tiền vàng nộp. Nếu chú em đổi ý, bọn ta cũng lợi. Giết thêm một mạng người chỉ thêm họa.
Hoàng tử nhớ lời thầy đã dạy: về kế sách nên đàm, không nghe, mới đánh. Muốn bắt hổ phải vào tận hang ổ. Vậy nên Hoàng tử đem dâng cả túi vàng, xin ở lại.
Phàm những ai gia nhập phường thảo khấu, để không liên lụy đến gia đình, phải được đặt tên khác thay tên mẹ cha cho. Theo tính khí, anh em tạm đặt tên “Hoàng tử cứu người đẹp”. Tướng cướp lắc đầu, rành rọt:
- Nói ít, hiểu nhiều: chém một nhát, vứt ba chữ cuối. Tên “Hoàng tử” ngắn gọn, bớt phần ủy mị - Quay sang nói với Hoàng tử - Tên oai hùng giờ chưa đặt cho chú được. Tùy theo việc, công trạng, sau này chú sẽ được đổi tên mới, hay hơn.
***

Minh họa: AI.
Được phân công lấy củi, nấu ăn; vì biết chữ nghĩa, biết làm sổ sách, Hoàng tử quản lý kho đồ vật cướp được. Hoàng tử không phục, Tướng cướp động viên: “Muốn sống phải có nghề. Cướp không phải nghề, là nghiệp chướng. Ở đây, chú học được nghề lấy củi, nấu ăn, biết cách giữ tiền cho vợ. Sau này cướp được nhiều, chia nhau rồi chúng ta về xuôi lập nghiệp. Đó là cứu ta trước rồi mới đến cứu người đẹp. Không có tiền, cứu được người đẹp họ cũng trốn ngay thôi”.
Bọn cướp có nhiều vàng, rượu chè be bét, chẳng lo luyện võ công, rình mò, cướp bóc. Tiền nhiều không ăn chơi mới lạ. Tướng cướp nóng lòng, trách Hòang tử “Không làm mà có ăn cũng chết. Vì túi vàng chú em mang vào nên mới ra đại họa thế này”.
Hoàng tử bảo phép cầm quân cần nghiêm cẩn. Tìm một người có tội, đem xử trảm, quân lệnh sẽ tôn nghiêm.
- Anh em ta đây sống chết có nhau. Về tình nghĩa, còn hơn ruột thịt. Chết để cứu họ thì ta làm được. Còn…
***
Đuốc sáng trưng, phó tướng bị dẫn ra. Tướng cướp quắc mắt:
- Tội của mày rất nặng. Anh em ta sống chết có nhau. Chia ngọt, sẻ bùi; tính mạng cũng sẵn sàng cho nhau, sao mày nỡ lấy nhiều tiền hơn anh em, ăn chơi gái gú. Mày biển thủ là phạm vào tội phản bội anh em. Thành kẻ thù, phải chết, mày đừng oán tụi tao.
Đồng bọn xanh mắt lấm lét nhìn nhau. Nếu như vậy thì nhiều lúc chúng cũng phạm tội. Hoàng tử bước ra, rập đầu xin tha tội. Tội này chẳng qua cũng chỉ vì ham vui.
- Chú em nhiều chữ mà ngu hơn lũ quan tham. Chúng nó nói một đằng làm một nẻo. Chúng nó biển thủ ăn chơi không đáng là bao nhưng làm mất lòng nhau, làm dân đen oán hận. Nếu ta cũng làm như thế thì chữ tín, tình cảm huynh đệ không còn. Trại này sẽ tan thành mây khói. Ta đây cũng có hưởng hơn anh em đâu. Ta ky cóp để đủ tiền chia nhau về quê lập nghiệp.
Hoàng tử thưa:
- Đại ca nói chí lý, chí tình. Nhưng trong giao kết chưa có điều này. Do đó xin để anh em quyết định. Việc lớn quyết không được vị thân, chỉ lấy đúng sai làm trọng. Các cụ xưa nói “Bó đũa chọn cột cờ”. Nay Em đem đũa ăn để ở đây. Mỗi người chỉ được cầm một chiếc. Vào trong bếp, ai đồng ý trảm thì bẻ gảy đũa làm đôi. Ai không đồng tình thì để lại. Rồi ta đem ra đếm. Bên nào nhiều thì ta làm theo. Nhưng dù thế nào cũng phải lập lại giao kết về điều này. Ai không đồng tình với giao kết mới thì lập tức rời trại. Xin Đại ca cho làm như thế.
Tướng cướp bảo: “Làm gì thì mấy thằng có chữ cũng đúng hơn”. Tất cả đồng tình, chỉ Tướng cướp còn do dự. Khi mang số đũa ra, không chiếc nào bị gãy. Phó tướng từ nãy đến giờ mặt lạnh như tiền. Giờ sụp xuống khóc, hứa không bao giờ phản bội anh em. Phó tướng cảm ân nghĩa của anh em. Chứ đã làm cướp, chết lúc nào cũng là chết cả.
Tướng cướp dụi mắt có lời:
- Tôi sợ đũa gãy nhiều hơn, phải trảm - Nhìn phó tướng, tướng cướp hùng hồn khoe hiểu biết:– Phường buôn chữ khinh anh em mình lưu manh vô học. Chúng ta chê họ là bọn ngộ chữ. Kỳ thực, bọn họ với chúng ta là một. Chữ thánh hiền lấy trong chữ dân gian. Chém một nhát chia đôi: họ khư khư một mình ôm lấy phần danh, còn chúng ta chia nhau phần lợi. Trong hai phe, thằng nào tham cũng thành ngu cả.
Đặt tay lên vai Hoàng tử, tướng cướp giao thêm việc:
- Chú em đây có học nên giỏi tính toán cân đong. Trước này, giao cho chú việc giữ kho. Giờ tôi giao cho chú em phải lo tính kế lâu dài. Để cho tất cả anh em có vợ con, nương vườn lúc già cả.
Thầy dạy Hoàng tử: phường buôn bán ăn gian, nói dối, mua rẻ bán đắt mà phép nước phải chịu. Từ thảo khấu chuyển sang lừa lọc sẽ dễ hơn làm dân lương thiện. Hoàng tử trình bày kế sách dùng kho vàng đi buôn. Tướng cướp lắc đầu:
- Quan giữ ải ăn tiền đút lót dữ lắm. Đám buôn giỏi, không có lời. Trại ta đi buôn, không đủ lãi nuôi chúng nó.
Hoàng tử thưa:
- Đại ca nói chí lý. Đám con buôn phải nộp thuế cho chúng ta rất nhiều. Họ van xin với chúng ta: em lỗ vốn. Mà rồi thì họ cứ phơi phới đi buôn. Còn nếu đại ca cho anh em đi buôn, ta không mất phí mãi lộ. Cửa nhà quan, ta chỉ đưa ít tiền. Họ không đồng ý, ta rút kiếm. Họ buộc phải nhận tiền để không phải đấu kiếm với ta. Đã nhận tiền, họ mang tội với triều đình. Để khỏi bị trị tội, họ bảo vệ ta thay vì tấu trình về kinh đô giúp họ dẹp phường đút lót…
Anh em nhao nhao hưởng ứng. Hoàng tử chắp tay lễ phép thưa:
- Đi buôn là dùng miệng lưỡi lừa người để ăn cướp. Ta dùng dao kiếm thì họ dùng mật ngọt, để cuối cùng ai cũng lấy được nhiều tiền. Người mua hàng sẽ không mua nếu ta đe dọa họ. Muốn đi buôn, Anh em không được thật thà, rõ ràng như ở đây. Kẻ đi buôn hám lời thì người mua cũng hám lợi. Anh em phải biết nói dối. Ta lừa họ nhưng ta có nói dối với anh em trong trại đâu mà nhục. Giả sử ta mua 1 quan, cứ phải nói mua 3 quan, giờ nể ông bà, bán lại 2 quan, lỗ vốn nhưng còn tình, còn nghĩa. Đầu khó, sau quen thành dễ. So với bỏ tính mạng, anh em ta bỏ chút danh dự, được lợi nhiều hơn. Còn trong anh em ta thì cứ như giao ước mà làm. Đi buôn vài năm, giàu to, về quê, có nhiều mối ta lập phường hội buôn bán tiếp…
Anh em đồng ý. Tướng cướp giao cho Hoàng tử cai quản thu chi, biên vào sổ sách, hàng tháng nói rõ ràng cho anh em biết. Còn việc lo đút lót cho quan trên giao phó tướng. Thằng này ngon, chỉ thấy mặt là quan, lính giữ ải đã hết hồn…
Công việc làm ăn, lỗ ít, lời nhiều. Kho đầy vàng, khi đặt vấn đề chia nhau để làm vốn, anh em không chịu. Họ sợ mình không biết tính toán làm ăn, sẽ rượu chè, bài bạc, gái gú hết. Hoàng tử hiến kế chuyển sang phường hội gọi là Phường buôn bán anh em.
***
Đang lúc rượu nồng, có người xưng là sỹ tử. Lên kinh thi, giữa đường bị trộm lấy sạch, muốn bán cuốn “Truyện Kiều” lấy tiền về lại quê hương.
Trưởng phường buôn ân cần:
- Chú ngồi xuống ăn cơm với anh em.
Thấy ánh mắt hắn nhìn Hoàng tử rất đáng ngờ; mồm lại leo lẻo bình Truyện Kiều với Hoàng tử. Trưởng phường ngày xưa có nuôi con sáo sậu. Suốt ngày tìm sâu, bắt cào cào châu chấu. Tắm rửa, chải lông, sáo sậu lớn khôn, quấn quýt. Một hôm đàn sáo bay qua, sáo sậu bay theo; để lại cả một trời tiếc thương, giận dữ. Để thằng này ở đây, có khi mất toi thằng coi kho, giữ sổ. Bèn gọi sỹ tử đến bên, dõng dạc luận bàn:
- Ta đây thủa nhỏ thường nghe mẹ ta “lẫy Kiều”. Đó là tên nôm na dân dã; còn…
Sỹ tử tiếp lời:
- Gọi là “Đoạn trường tân thanh”…
- Ta biết truyện này cốt truyện của Tàu. Bên đó gọi …
Sỹ tử thưa:
- Dạ, gọi là “Kim Vân Kiều truyện”. Nguyễn Du lấy cốt truyện viết lại, hay hơn nhiều…
Trưởng phường buôn cắt lời:
- Ăn cắp thì nhận là ăn cắp còn chấp nhận được. Trong dân gian có câu “Làm đĩ già mồm”; là ám chỉ phường bán chữ khua môi múa mép; lấy chữ nghĩa để nói sai sự thật - Thấy trong mắt anh em một chữ “ngờ” to đùng. Trưởng phường nổi giận, giảng Kiều:
- Đoạn giữa truyện Kiều có thằng to cao, giỏi kiếm cung mà ngu. Nó chết đứng vì nghe con điếm. Phường buôn chữ tô vẽ “Anh hùng chết vì mỹ nhân”. Lại nói vống lên, con đĩ có tài “cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm”... Con gái chưa chồng nghe sụt sùi. Mấy mụ đàn bà nghe, mơ tưởng nắm được đầu chồng. Nếu ta đây viết truyện, chỉ một nhát, con điếm theo thằng đàn ông xuống dưới đó mà than khóc nỉ non. Còn như trong truyện Kiều, nó sống nhăn, ba ngày sau, nó quên thằng ngu, đi lấy thằng thổ quan; lại nói là bị gán cho thằng đó.
Sực tỉnh, trưởng phường dịu giọng:
- Nói ít để hiểu nhiều. Giờ cuốn sách này làm ta nhớ mẹ ta, do đó nó vô cùng có ích. Ở đời, giúp nhau lúc khó khăn là chuyện thường tình. Ta thưởng chú một lượng vàng làm lộ phí lên kinh thi Hội. Cuốn sách này, ta cho vào lò đốt thay củi. Chú cầm vàng biến nhanh. Thi đậu, không cần cảm tạ. Thi rớt, không được vào đây bán chữ.
Đợi sỹ tử đi khỏi, trưởng phường cắt nghĩa thêm:
- Được Đạm Thanh báo mộng, Thúy Kiều không tin vào số mệnh. Nó làm mọi cách, kể cả cướp chồng, ăn trộm chuông vàng, khánh bạc của nhà chồng, lấy cả tướng cướp để thoát kiếp làm đĩ. Thuộc hàng liệt nữ, nó không tự tử đâu. Đoạn nó nhảy sông tự tử là bịa đặt để thêm phần mùi mẫn. Nói ít để hiểu nhiều; anh em ta phải gắn bó keo sơn, chăm chỉ làm ăn để sau này giàu có, giúp đỡ người nghèo, kẻ khổ là như Thúy Kiều, rũ bỏ nghiệp chướng.
Lại răn đe Hoàng Tử:
- Chữ nghĩa cần cho tính toán, làm ăn. Trong thiên hạ, thích văn chương vì mang đến cho dân đen lòng ủy mị. Chú có thấy người bán được văn chương chữ nghĩa mà giàu không? Vua có phép nước, thì làng xã có lệ. Tuy ở đời không có luật cấm bán chữ, ở trong hội của ta, ta cấm văn chương. Hoàng tử ghi thêm vào giao kết: Cấm bàn chuyện văn chương vì… rách việc.
Anh em tâm phục khẩu phục. Thêm tự hào có đại ca văn võ song toàn. Không như chúng đàm tiếu: phường múa gươm, văn chương dốt đặc cán mai.
***
Trong tim Hoàng tử vẫn còn bóng hình người đẹp, chàng chưa cứu được. Hôm sau, rượu vào, lời ra: “Thưa Đại ca, người đẹp em đi cứu giờ ở đâu”.
Trưởng phường buông đũa:
- Bắt được rồi thì ra giá để người ta chuộc. Mẹ kiếp, cái con này chỉ được cái đẹp người nhưng phải tội con nhà nghèo, không có tiền chuộc, ta thả nàng về nhà...
Hoàng tử buông đũa, mắt đỏ hoe:
- Phiền đại ca cho em biết gia đình nàng ở đâu để em giúp đỡ.
Trưởng phường buôn ném ly rượu vỡ tan tành, mắng:
- Cái thằng, đi với anh mà không bỏ được tính đa sầu, đa cảm. Đó là tánh đàn bà.
Thấy chữ “buồn” trong mắt anh em, trưởng phường vỗ về:
- Nàng về rồi, nàng lại yêu ta. Nhưng sau vụ xử phó tướng; ta nghĩ lại, vì anh em, ta đoạn tình với nàng. Giờ thì cô đẻ con, xấu lắm. Không còn xinh để chú mang gươm thách đấu. Phàm là người học cao biết rộng, không xét sự việc như mọi người nhìn thấy, dân gian gọi là “học chưa hết chữ”. Mà thôi, chuyện gái gú thường tình mắc mớ chi nhắc lại. Chú có nhiều vàng, con gái đẹp còn nhiều hơn. Nhưng để cho họ yêu, chú phải làm đại trượng phu như anh...
Tối đó, Hoàng Tử biến đi, có thư để lại. Cả phường buôn xôn xao, lo lắng: tìm người nhiều chữ coi sổ sách, không có ai nhận đâu. Người ta, học để làm quan, được danh, có bổng lộc, kiếm được nhiều tiền của hơn phường buôn bán…
Sau khi mời thầy đồ giỏi chữ đọc bức thư: phần tài sản của Hoàng Tử chia làm ba phần; một phần để dùng cho anh em nào gặp hoạn nạn, một phần để cho trưởng phường. Phần còn lại dành cho chút mộng mơ, gửi cho người đẹp mà Hoàng tử không cứu nổi do tiền hồi trước mang theo là tiền biển thủ. Nhớ nhắn giúp rằng Hoàng tử giờ đi cứu người đẹp bằng tiền do bàn tay, chữ nghĩa của mình làm ra. Số tiền đó người đẹp giúp gia đình làm vốn thoát nghèo, hết khổ...
Trưởng phường gọi anh em tập trung, an ủi:
- Nói ít để hiểu nhiều. Làm người ai cũng có lòng hiếu thảo. Cha Hoàng tử lâm bệnh nên chú ấy phải về hầu. Nó có biết gì về thuốc thang mà khoe khoang “Về Kinh đô chăm sóc, chữa chạy cho cha lâm trọng bệnh”. Mấy thằng trọng chữ mang bệnh sỹ, khinh tiền. Coi chừng, tiền nó mang về không đủ thuốc thang, sẽ quay lại đây nhờ chúng ta chu cấp. Tiền của nó, chúng ta để lại làm vốn cho nó về lại đây, khỏi phiền anh em giúp nó gầy dựng lại. Anh em đừng quá lo lắng. Chúng ta đối xử với Hoàng tử hơn anh em ruột thịt. Về Kinh đô, gặp toàn bọn ăn gian, nói dối vào khom lưng quỳ gối, ra khỏi cửa, vác mặt lên trời. Nó chán ngay, sẽ lên lại với anh em ta. Trong cuộc đời không có gì hơn chữ tình đi cùng chữ nghĩa.
***
Vua băng hà, Hoàng tử mới lên ngôi. Người lập tức ban bố các đạo luật khắt khe. Phạt rất nặng với quan và dân chúng về tội thất tín và lừa đảo. Trong luật có nhiều điều giúp người buôn bán, nông dân thợ thuyền làm ăn. Về chính sách biên cảnh, quan nào có công phát triển nông, ngư, thương; được sớm về xuôi; nếu muốn ở lại định cư, được tăng thêm một ngạch. Giặc vào phải đi qua miền biên ải. Tướng phải có học hành, thi tuyển. Rồi đưa đi trấn ải biên cương, dựa trên tài năng thực để bổ vào các vị trí trong Binh bộ…
Cuối bộ luật, vua cho viết câu: “Phàm là dân, nhiều người không biết chữ, học bộ luật này làm sao nhớ nổi. Nên Trẫm nói ít để hiểu nhiều. Hạng dân đen chỉ cần nhớ câu này: làm điều gì phải nhớ giữ chữ tín, chữ tình; không làm hại người khác chỉ vì lợi của mình, không ăn gian, nói dối, lừa gạt, không làm những việc tàn ác… là được”. Triều đình đặt tên là Bộ luật an dân. Nhưng nhân dân gọi ngắn gọn: Luật nhân nghĩa.
Mỗi buổi chầu, vua thường nhắc nhở: phàm việc cai trị để làm cho dân lành chứ không phải làm cho dân gian. Để dân gian là do quan tham xằng bậy, rồi khiến Trẫm đây bị dân oán hận. Trẫm sẽ đi kinh lý, xem bộ luật thực hiện có đúng không.
Vua truyền cho đoàn hộ giá cùng mình cải trang làm dân thường để kinh lý. Xuống trò chuyện với dân, nếu thấy điều bất ổn, sẽ đến công đường xét xữ.
Đoàn hộ giá ghé chợ huyện ăn sáng. Bà chủ quán móm mém nhổ bã trầu, quay lại nói với khách quen: “Nay vua mù, quan lại cùng phường với trộm cướp”. Đoàn tùy tùng giận, mặt mày biến sắc. Vua nở nụ cười hồn nhiên đến bên bà cụ:
- Chữ thánh hiền lấy từ chữ dân gian. Tôi giàu lắm, nghe được câu nói hay, thưởng bà lượng vàng.
Tự tay vua cầm hai tay dâng lượng vàng cho cụ già. Lại hỏi tiếp:
- Vì duyên cớ chi mà cụ có “nhời” như vậy.
Dân tình xúm vào kể tội tri huyện mong được thưởng.
Ra khỏi quán ăn, quan thượng thư Hình bộ tấu trình xin đến huyện đường trị tội quan tham. Vua cười bảo:
- Trong thiên hạ có chữ “dân gian”. Trong họ có người gian, cũng có người ngu nghe theo lời đồn. “Dân tình” là chỉ dân đen nghiêng về tình hơn lý. Khi không ưa ai rồi, họ thêu dệt thêm. Vài người có học, đem chữ nghĩa để gièm pha. Cộng lại những thứ đó, thành lời đồn thổi trong dân đen, ra một câu chuyện rất chi là có lý nên mới bay đi muôn phương, gọi là đồn đại. Trẫm và các khanh phải dò la thực hư theo sự việc chứ không theo lời đồn thổi.
Mất một ngày, chỉ tìm thấy có việc quan huyện này lấy tiền của Phường buôn bán rồi làm lợi cho họ. Thành ra họ chèn ép lẫn nhau sinh ra loạn đả với Phường buôn anh em ở ngoài biên cảnh. Quan Thượng thư Hình bộ ở trong đoàn vi hành tâu: “tội này trong bộ luật An dân không có nói tới”. Vua quắc mắt:
- Ngươi nói vậy đáng đuổi về quê làm thứ dân. Luật đời vô số kể, làm sao đưa vô hết được. Do đó ngươi phải xét cho đúng, qui tội cho đúng rồi xử nghiêm để thành án lệ. Sau này gộp nhiều điều thành một câu dễ hiểu ghi thêm vào luật cho đúng với dân tình. Điều nào sai cũng phải bỏ đi. Đó là gọi là xem trong lệ có điều chi hay để đưa vào luật…
Trên huyện đường vua giao quan thượng thư Hình bộ xử án. Vua ngồi xem, làm bộ lơ đãng vuốt râu. Luận tội không theo sự việc để định hình phạt, mà quy kết giống y lời đồn đại của dân đen. Quan thượng thư hình bộ muốn dùng phiên tòa để chứng tỏ mình là người rành rẽ phép nước, thay mặt nhân dân xử án. Suy diễn một hồi, tội quan huyện cần phải trảm. Vua thất sắc nghĩ: xử xong vụ này, các quan từ quan, bỏ hết công đường, triều đình sụp đổ. Vua đứng lên:
- Tất cả bình thân. Ở đời, tham lam là chuyện thường tình. Không tham, dân không ngày đêm khó nhọc làm ăn buôn bán, làm sao nước thịnh. Không tham danh, lấy ai làm quan. Tội của ngươi là lấy phép nước làm lợi cho vài người, làm mất công bằng trong dân chúng. Nhưng không vì thế mà xử trảm người. Còn các tội khác, trẫm nghe trong dân lời qua tiếng lại, xét chưa thấy. Chưa thấy, trẫm không xử được các tội đó. Sau này, xét thấy mà ngươi sửa được rồi, trẫm bỏ qua. Trẫm thấy người thật thà, không dối trá quanh co. Đuổi người về làm thứ dân thì uổng chữ nghĩa của ngươi nên giáng xuống cho làm quan thu thuế. Sau này, xét lại, thấy ngươi làm tốt, trẫm sẽ phục chức cho ngươi. Làm quan thu thuế, ngươi phải ghi lòng tạc dạ câu này. Quan nhiều chữ, nhưng dân đen, con buôn, cũng lắm mưu, nhiều mẹo để qua mắt ngươi, không đóng thuế đầy đủ. Trẫm đây được các thầy giỏi nhất dạy từ tấm bé vẫn tôn người không có chữ làm thầy. Trẫm đã nói nghĩa lý rõ ràng. Nếu ngươi lại phạm tội, theo bộ hình xét xử ngươi, trẫm sẽ tăng hình phạt thêm một mức xuống làm thứ dân.
Vua quay qua chỉ dụ các quan:
- Muốn cai trị dân, các khanh phải ở trong dân mới hiểu họ để ăn nói rành mạch khiến cho dân hiểu được. Còn chữ tình, các khanh chỉ dùng khi dân quy phục. Phép làm quan, các khanh phải có bộ dạng nghiêm cẩn để cho dân không nhờn phép nước.
Đến lượt xử Phường buôn. Vua bảo quan tham là do Hình Bộ, dân tham là tại vua không làm cho họ sáng, nên phải để vua xử. Trên công đường, không cần tra hỏi nhiều, vua kết tội trưởng phường buôn:
- Phàm buôn bán lấy mua may bán đắt làm lời. Triều đình không có dụ nào cho phép người dân dùng tiền bạc đút lót cho quan để kiếm lợi cho mình mà hại người khác. Ngươi cho ít tiền, quan còn từ chối. Ngươi lấy tiền anh em góp lại thành nhiều thì quan làm sao chịu nổi, sẽ lờ cho Phường hội của ngươi làm sai. Rồi ngươi cậy thế làm càn. Dân tình có mắt, bảo “chúng nó là một phường với vua quan, đều trộm cướp cả thôi”. Quan của trẫm có nhiều tiền, nhúng chàm, đêm ngày lo sợ. Bèn bớt chút tiền của ngươi đút lót, lại đút lót cho quan triều đình để phòng thân. Như vậy tội của ngươi là làm hại triều đình. Trẫm phạt ngươi: tịch thu một nửa tài sản.
Trưởng phường buôn nhẹ bổng cả người. Vua nhìn xuống phường buôn thấy chỉ có một chữ “tình” dành cho tội phạm nên gia tăng hình phạt:
- Trẫm biết bà con trong phường sẽ góp tiền giúp đỡ trưởng phường buôn làm lại mấy hồi. Do đó trẫm phạt thêm hai chục roi để ngươi thấm thía – rồi quay nhìn anh em phường buôn: - Nảy giờ trẫm đã giảng giải đến ngọn ngành. Nếu người nào lòng dạ còn u mê, nổi máu anh hùng, xin giảm tội cho phạm nhân, thì trẫm sẽ phạt luôn người đứng ra xin ân giảm chục roi.
Ra khỏi huyện đường, Vua nhắc quan thượng thư Hình bộ:
- Phàm những quan tham, trộm cướp, người làm càn; họ cũng là con em của người dân cả. Dù bị dân tình oán thán, họ không phải là kẻ thù. Ta phạt họ nghiêm để họ trở về thiện lương. Chỉ có quân bán nước là kẻ thù. Ta không giết kẻ thù thì chúng nó giết ta. Nên trong Bộ luật An dân, Trẫm chỉ dùng hình phạt trảm cho những tên bán nước.
***
Triều chính ổn định, vua kinh lý về miền biên cảnh. Vua đình*, cho vời cả phường buôn bán anh em. Vua dặn, bà con tuy buôn bán nhưng là bạn hữu của trẫm, họ thật thà, hồn nhiên, dễ làm điều phạm thượng. Các quan phải dặn dò họ kỹ càng trước khi cho họ vào chầu. Dù có dặn dò, họ vẫn háo hức, vênh vang vì cùng phường bán buôn với vua thuở hàn vi. Chén rượu mừng gặp nhau ngọt ngào, đâu phân chia vị thế vì nó cùng rót ra từ một chum đựng rượu...
Tiệc tàn, vua bổ nhiệm trưởng phường làm quan trấn thủ miền biên ải. Lại còn cho phép tự chọn người dưới trướng. Vua truyền:
- Chiếu trẫm ban đã có xét đến lệ ở miền biên ải thiếu hiền tài.
Quan thượng thư Lễ Bộ dứt khoát: “Muôn tâu Bệ hạ, không có chữ, không làm quan được!”. Vua điềm nhiên chỉ dụ:
- Thái thượng hoàng mới thu phục giang san, có một người xưng là bạn vong niên vào kinh dâng chút lễ vật mọn những mong được bổ làm quan ở huyện nhà. Thấy bất tài, người cho ở lại kinh đô, sai thầy giỏi dạy; khi học được ít chữ thánh hiền mới bổ làm quan, quan nhỏ thôi. Vì chuyện này trong dân gian có lời đàm tiếu đến nay vẫn còn “Không có học, làm sao có bạn học”. Đến tai thái thượng hoàng, người không cho truy xét là vì khi dấy binh khởi nghĩa; thái thượng hoàng không thông thạo chữ thánh hiền. Người giỏi vì biết nhiều chữ của dân gian. Sau này người tự học khi cùng anh em nằm gai nếm mật.
“Thái thượng hoàng ngày đêm lo nghĩ dạy hoàng tử biết trị vì để gấm vóc giang san bền vững muôn đời.
“Các khanh biết rồi, hòang tử suốt đời ở trong cung. Thầy dạy hoàng tử được lựa chọn kỹ càng. Nhưng khi dạy, biết chắc học trò sẽ làm vua của mình nên sợ. Dạy chữ nghĩa, dạy đạo lý còn dễ. Dạy cung kiếm, khó vô cùng. Thầy sợ kiếm gỗ cũng sát thương. Để hoàng tử mệnh hệ gì là bị trảm. Luyện gươm, hoàng tử cầm kiếm gỗ. Lỡ múa may tự trúng bản thân mình thì cũng bị tội. Thầy lấy đọt chuối làm gươm. Khi thi đấu, thầy sợ đọt chuối làm đui mắt hoàng tử. Thành ra có học mà không có hành. Thầy dạy hoàng tử là dạy cách làm vua, trị vì thiên hạ. Hoàng tử cũng như các khanh; từ trận mạc, trồng lúa, đánh cá, bán buôn… cái gì cũng biết; nhưng chẳng biết làm.
“Thấy các thầy dạy hoàng tử chỉ có chữ thánh hiền nên người lo âu, nhắc: không biết chữ dân gian sẽ không hiểu dân, làm sao cai trị đất nước.
“Lại thấy hoàng tử ham chơi, không chịu rèn luyện. Tưởng ngoài đời thì cũng như trong cung cấm. Bèn ra chiếu chỉ thường xuyên cho hoàng tử vi hành. Ra khỏi thành; một lần hoàng tử nghe được bọn cướp táo tợn, ngang nhiên bắt người đẹp nhất vùng. Việc này xảy ra ở miền biên ải xa xôi đầy hoa thơm cỏ lạ làm hoàng tử tò mò, thích thú.
“Hoàng tử thật trong đời, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng. Bọn cướp biết, đem người đẹp trốn mất. Làm sao cứu được người đẹp. Muốn cứu người đẹp thì phải biết cách cứu người đẹp, hoàng tử có được dạy đâu... Nhưng mà để bọn cướp ngang nhiên coi thường phép nước, người đẹp vô cùng đau khổ, hoàng tử làm sao chịu được.
“Hoàng tử rắp tâm trốn đi cứu người đẹp. Sau này trẫm mới biết thầy bí mật tấu trình để vua cha biết. Thái thượng hoàng chỉ dụ: “phàm những gì trẫm biết được để cứu nước là học ở dân tình thời nằm gai nếm mật. Khanh cứ giúp hoàng tử trốn đi. Những trai tráng, có chữ, hào hiệp, khờ dại được dân gian giúp đỡ, nhiều người tin dùng. Không phải họ tốt với chúng nó đâu; họ muốn bắt chúng về làm rể. Khanh làm sao để hoàng tử lấy được nhiều vàng. Trẫm có cớ để khi gặp nguy cấp, cho bắt về vì tội biển thủ. Lại nữa, có nhiều tiền ở với dân đen mới mua được lòng trung thành để họ hết lòng giúp đỡ hoàng tử”.
“Người còn cho tuyển một thanh niên giỏi võ đóng vai sỹ tử thi hội không đậu về quê miền biên ải, giả vờ kết bạn với hoàng tử ở dọc đường. Lại sai người báo cho các phủ biết để dò la bảo vệ hoàng tử…
“Lận đận bao ngày dò la tin tức, hoàng tử và sỹ tử cũng ra đến miền biên ải. Hoa thơm cỏ lạ, chẳng thấy đâu, chỉ thấy núi cao sông sâu, rừng rậm, hổ báo rất nhiều. Ải là những đèo đánh dấu người lính ra đến biên cương. Các quan đến trấn giữ biên cương, vừa đến lại muốn về ngay. Trong lòng họ trông chờ ngày về xuôi. Họ không còn lòng dạ nào cai quản người dân. Phép nước cũng chìm nơi đèo heo mông quạnh. Thế thì mới là nơi cho bọn cướp lập dinh lũy.
“Ra đến đây cũng như là cửa ải. Quyết tâm của hoàng tử chưa bị “ải” nên trẫm chưa chịu quay về...
“Không muốn bạn mình liên lụy, hoàng tử trốn bạn đường tự tìm tới trại cướp.
“Sau này, sỹ tử vào bán sách cho phường buôn. Dốt chữ nghĩa, lại bình Truyện Kiều là cuốn sách hay nhất nên bị trưởng phường đòi mang sách đi đốt. Là nói vậy thôi, cuốn sách đó vẫn còn. Truyện Kiều vẫn nằm trong đầu quan trấn ải cho đến bây giờ nhưng sẽ khác đi khi biết chữ.
“Đó là chuyện xưa, trẫm kể cho các khanh nghe. Còn bây chừ, trẫm trăn trở rất nhiều về kế sách giữ xã tắc lâu bền. Do đó trẫm đưa thượng thư Lễ Bộ cùng đến đây. Trước là phiền Khanh ở lại, thay trẫm dạy việc cai trị dân, dạy chữ thánh hiền cho quan trấn thủ. Sau nữa, khanh học được chữ dân gian. Rồi về giúp trẫm dạy các hoàng tử, công chúa học chữ. Muốn dạy học trò, phải có chữ, có danh. Quan trấn thủ cũng phải lo học chữ để về triều giúp trẫm dạy võ, dạy đạo lý, dạy cách làm thủ lĩnh cho các hoàng tử…”
Lại ra chỉ dụ cho quan trấn thủ chọn gần đường biên nhất nơi có nhiều tiểu thương người Hoa mang hàng sang đất ta để bán; trước cổng chợ dựng tượng 2 người phụ nữ đẹp, nết na, mặt buồn, trang nghiêm tựa lưng vào nhau. Phía hướng qua nước Tầu cô gái Tầu gẩy đàn Tỳ Bà, dưới chân có pho sách chữ Hán, trang đầu khắc “Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân”; trang tiếp viết rằng người dân hai nước luôn làm láng giềng tốt. Người Việt cưu mang người Hoa trên đất Việt; đều cùng là nạn nhân của Đại Hán. Phía Việt Nam, cô gái Việt gẩy đàn Nguyệt và pho sách ghi bằng chữ Nôm, trang đầu khắc: “Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du”. Trang tiếp viết rằng người dân hai nước quý trọng nhau. Người Hoa giúp đỡ người Việt trên đất Tàu; đều cùng là nạn nhân của Đại Hán. Đó gọi là đi sứ bằng dân đen**.
Vua dừng lại, cân nhắc, chỉ dụ:
- Thái thượng hoàng lúc lâm chung gọi trẫm đến truyền: “Nước Việt ta không cắt được vòng lẩn quẩn: giành lại giang san, làm nên thái bình thịnh trị, rồi vua sáng băng hà, triều đình sa đọa, quan tham, dân gian; thừa cơ, giặc tràn vào đô hộ. Đó là do người nước ta muôn đời dễ phôi phai, lại trọng tình hơn lý, dựa dẫm vào gương sáng bề trên. Cha hư, con hỏng; nhà dột từ nóc; vua tồi, để quan tham khiến dân gian, nước mất, nhà tan. Các bậc thánh hiền dạy vua sáng mới tìm được bầy tôi hiền. Lại không dạy làm cách nào buộc vua phải luôn luôn sáng. Trẫm dành được giang san, muốn con cháu có cách gì để giang san thái bình, thịnh trị muôn đời. Trẫm đau đáu cả đời vẫn không tìm ra được cách để vận nước không phải trông cậy vào chỉ một người được mệnh trời cho đứng trên muôn người”. Nói đến đây, người theo tiên tổ.
“Trẫm muốn cắt đứt vòng luẩn quẩn này. Để muôn đời thái bình, thịnh trị, thì phép nước nhất định phải có cách chi khiến vua phải nghe hiền tài để luôn luôn sáng suốt. Xuống dưới thì phép nước nghiêm là có cách trị quan trước, mới đến trị dân. Bộ luật mới làm sao cho từ trên xuống dưới, mọi việc phải rành mạch, trọng lý hơn trọng tình, từ quan đến dân phải chịu phép nước như nhau đặng trên dưới một lòng, lo cho xã tắc mãi mãi bền, chớ không chỉ là bền lâu...
“Về Kinh, trẫm sẽ giao cho quan Tể tướng chiêu tập hiền tài, quan giỏi, thanh liêm, dân tình, cùng hiến kế. Trẫm cho phép trong nhiều năm; lựa chọn trong tất cả các sách thánh hiền, các chữ dân gian tìm ra những chữ đúng nhất để làm mới bộ luật, đem dùng thử ở kinh đô và vài trấn trong vài năm, tu chỉnh đâu vào đó, trên dưới tâm phục, trẫm sẽ ban chiếu thư bộ luật Đại Việt trường tồn...
“Dân ta chỉ trọng chữ nghĩa của người hiền***, mỗi thời chỉ có dăm nhà thơ được đi vào sử sách là vì họ làm thơ phú vì nước vì dân. Nay các khanh bỏ thơ phú ngâm vịnh khoe tài để mang chữ nghĩa giúp trẫm làm ra bộ luật được vĩnh hằng.
“Trẫm nói ít để hiểu nhiều: bộ luật Đại Việt trường tồn soạn nghiêm cẩn, ngắn, dễ hiểu mới nhớ; phải làm sao để được tự thực hiện, như lòng yêu nước của dân ta. Phải làm cho nước nhà mãi hưng thịnh mà không cần phụ thuộc vào một người…
Sài Gòn tháng tư năm 2026
LTH
Ghi chú:
* Vua đình chỉ nơi vua dừng lại, sau này dân làng lấy nơi đó làm đình làng.
** Nghĩa mới là ngoại giao nhân dân.
*** Người hiền, tiếng Việt cổ, chỉ người có cả tài và đức.