TIN TỨC

Cháu giờ ở đâu, hãy về với ngoại!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-12 08:00:31
mail facebook google pos stwis
2569 lượt xem

BÀI HƯỞNG ỨNG CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

TRẦM HƯƠNG

Bà mẹ VNAH Hồ Thị Nói, sinh năm 1930, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi. Mẹ có chồng và hai con hy sinh. Chồng mẹ - ông Phan Văn Huyện- Xã đội trưởng Phú Mỹ Hưng, hy sinh ở Đồng Lớn, Trung Lập Thượng vào ngày 29 tết năm 1968. Hai con gái mẹ- chị Phan Thị Liên hy sinh để lại đứa con gái mới 5 tháng tuổi. Chị Phan Thị Hòa là quân y sĩ, hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1969.

Tôi biết cho đến giờ, mẹ vẫn còn khắc khoải, đau lòng mỗi khi nghĩ đến đứa cháu mồ côi…

Khi tôi tìm đến nhà mẹ Hồ Thị Nói tại Xã Phú Mỹ Hưng, Củ Chi thì mẹ đang đi kiếm nấm trắng ngoài vườn. Trong lúc đợi đứa cháu đi tìm mẹ, chị Phan Thị Hiệp, con gái thứ hai của mẹ tiếp tôi, cởi mở, chân tình. Hình ảnh của một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng với thương khó, hy sinh, chịu đựng dần hiện lên, đầy đặn qua những dòng ghi chép trong quyển sổ tay. Tôi bước vào phòng khách ngôi nhà mẹ. Cũng giống như bao căn phòng khách ở Củ Chi, góc trang trọng nhất dành cho những người đã khuất. Những tấm bằng Tổ quốc ghi công và danh hiệu Bà mẹ VNAH được đặt nơi trang trọng nhất ngôi nhà đã nói lên tất cả: Mẹ Hồ Thị Nói, có chồng và hai con đều ngã xuống cho Tổ quốc. Chị Phan Thị Hiệp - con gái thứ ba của mẹ Hồ Thị Nói kể về mẹ: “Cha tôi đi kháng chiến. Một mình mẹ một nách nuôi bảy đứa con thơ. Hồi xưa vùng đất này có nhiều bưng, suối; hoang vu lắm. Để cách mạng không còn đất sống, địch đã ném bom, rải chất độc khai hoang, biến nơi này thành đất trắng. Hòa bình, bà con về cày cấy, lập vườn, làng xóm mới xanh tươi trở lại”. Quả thật như lời chị Hiệp nói, ấp Phú Lợi, xã Phú Mỹ Hưng ngày nay đã được đô thị hóa. Những ngôi nhà gạch khang trang ẩn mình trong những vườn cây xanh mát. Nhiều dãy nhà phố cũng sát nhau…

Cháu ngoại của mẹ Hồ Thị Nói lùng sục khu vườn ngoài vườn một lúc mới tìm thấy bà ngoại. Tôi thực sự kinh ngạc vì vẻ đẹp phúc hậu của mẹ. Dưới vành chiếc nón lá đã cũ, rách nát; gương mặt mẹ bừng sáng lên ngọn lửa ấm áp của sự hiếu khách, gần gũi của những bà mẹ Củ Chi. Mẹ ôm bó măng, để giữa sân nhà, ra sàn nước rửa tay, rồi bước vào phòng khách, trách nhẹ: “Phải chi tụi con báo cho má biết, má ở nhà, đâu có đi hái măng, hái nấm trắng làm chi để tụi con phải đợi!”. Tôi lại rất muốn cùng mẹ hái măng, hái nấm trắng; nên đề nghị được mẹ đưa đi…

Ở tuổi 82, mắt mẹ vẫn còn rất tinh, phát hiện ra những cây nấm trắng. Mẹ vẫn còn hái măng thoăn thoắt. Những năm tháng lao động tần tảo nuôi con cho chồng đi đánh giặc đã giúp mẹ có được sự nhanh nhẹn, tráng kiện, dẻo dai ở độ tuổi thuộc hàng "xưa nay hiếm".  Mẹ ngồi nghỉ mệt bên bờ suối, ven cánh rừng, giỡ chiếc nón lá cũ, rách ra làm quạt. Mẹ kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng đau thương của đời người. Mẹ kể những ngày Củ Chi bị biến thành vùng đất trắng, mẹ dẫn đàn con về ấp Đồng Lớn, ở đậu một nhà quen. Giặc càn vào, bắt mẹ dẫn lính vô rừng, để nếu có trúng mìn hay lựu đạn do du kích gài, bảo vệ căn cứ; mẹ là người chết trước. Mẹ không chịu đi, địch dùng báng súng đánh vào hai chân. Mẹ không đi nổi sau trận đòn, lếch về nhà. Không chỉ chống chọi với kẻ thù, mẹ còn lao vào cuộc chiến chống đói nghèo. Mẹ là cây cột chống trời, che chở, cưu mang cho đàn con bảy đứa. Mẹ giỡ đất hoang, cấy lúa, đánh đu tính mạng với bom mìn. Thương mẹ, lúa lên xanh, trỉu hạt. Làm ba năm, mẹ trả đất, mua dây ruộng cho con…

Có ruộng, có lúa, con no, mẹ mới giúp được chồng, con lo việc nước. Chồng mẹ, ông Phan Văn Huyện phụ trách đào một đoạn địa đạo. Chị Phan Thị Liên - con gái đầu của mẹ rất thương cha, hướng ứng lời cha mình vận động, xung phong đào địa đạo. “Cha con nó đào địa đạo thì mình cũng phải làm cái gì chớ!”. Mẹ nhớ những ngày bưng rổ khoai mì ra địa đạo, tiếp tế cho cho con gái cùng đồng đội của con. “Củ Chi này còn đọt mì cũng đánh Mỹ. Mấy củ khoai mì cũng nuôi chí lớn tụi nhỏ đánh giặc. Mì cũng không đủ cho tụi nó ăn!”. Mẹ nhớ thời ấy ở Phú Mỹ Hưng chưa có nhà máy xay gạo. Khuya về, chị Liên giúp mẹ xay gạo bằng cối xay bằng tay, cung cấp lương thực cho bộ đội. Khi Mỹ tràn vô xóm làng, mẹ đưa gia đình đi tản cư qua sông Rạch Kiến, Rạch Bắp, tận bên Bình Dương. Những năm tản cư, gánh nặng mưu sinh dồn lên đôi vai mẹ. Ai mướn gì mẹ làm nấy. Mẹ mua từng trái khổ qua, bầu mướp, dưa gánh gồng ra chợ bán. Vậy mà mỗi khi ở địa phương kêu gọi đi đấu tranh chính trị, mẹ liền gánh gồng, hòa vào đoán người đấu tranh. Mẹ kể mẹ bị địch bắt, đánh đập, lột nón, lột áo nhiều lần. Mẹ Hồ Thị Nói hào hứng kể những kỷ niệm đấu tranh chính trị, bị giặc bắt, đánh đập nhưng mẹ và bà con không chùn bước…

Nỗi đau thương, mất mát lần lượt phủ lên đời mẹ. Chồng mẹ, ông Phan Văn Huyện - Xã đội trưởng ở phú Mỹ Hưng, hy sinh ở Đồng Lớn, Trung Lập Thượng vào ngày 29 tết năm 1968. Người xã đội trưởng kiên cường năm ấy cùng một nữ du kích ở An Nhơn Tây nấp dưới căn hầm bí mật. Do có chỉ điểm, địch phát hiện ra căn hầm, kêu gọi ông Huyện đầu hàng. Ông Huyện và chị Hằng kiên quyết tử thủ. Địch ném lựu đạn xuống căn hầm, ông Huyện và chị Hằng cùng hy sinh. Cả hai người liệt sĩ được đồng bào chôn ở Đồng Lớn, Trung Lập thượng. Mãi đến ngày hòa bình, mẹ mới có điều kiện đưa hài cốt chồng về nghĩa trang liệt sĩ…

Lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, những người con gái của mẹ dù rất xinh đẹp, đảm đang lập lại số phận gian truân của mẹ. Khi quê hương, làng xóm bị bom đạn Mỹ giày xéo, những người mẹ, người chị Củ Chi cũng không yên lòng sống bên cạnh chồng, con. Chị Phan Thị Liên - con gái của mẹ Hồ Thị Nói từng tham gia du kích mật, đào địa đạo đánh giặc, gặp gỡ, yêu thương một du kích. Họ nên vợ nên chồng bằng một đám tuyên bố giản dị. Chị Liên có mang được bốn tháng, chồng hy sinh. Mẹ đến thăm con gái, an ủi con, cùng hòa những giọt nước mắt khóc chồng với con gái. Mẹ đã trải qua nỗi khổ đau, mất mát khi chồng hy sinh nên mẹ hiểu được nỗi hẫng hụt, trống vắng của người vợ mất chồng. Tất cả tình thương, mẹ dồn vào đứa cháu gái bé bỏng. Mẹ đặt tên cháu là Hạnh, mong đứa trẻ lớn lên là một cô gái đoan trang, đức hạnh, được sống trong hạnh phúc. Mẹ đâu hay bão giông đang giằng xé lòng chị Liên. Một bên là trách nhiệm nuôi nấng đứa con còn ẵm ngữa; một bên là tiếng gọi non nước. Chị Hạnh được gọi đi học khóa quân y sĩ. Hiểu được nỗi lo lắng, giằng xé trong lòng con gái, mẹ nhận phần nuôi cháu ngoại, động viên con gái lên đường…

Con đi rồi, mẹ ở lại vùng địch chiếm, làm thuê mướn, mua gánh bán bưng, tần tảo nuôi cháu ngoại. Trên đường đi công tác, chị Liên bị một chiếc xe hàng Mỹ đâm vào. Chị hy sinh, để lại đứa con bé bỏng mới 5 tháng tuổi và ước mơ trở thành y bác sĩ phục vụ cho đồng bào, chiến sĩ. Chị Liên hy sinh, mẹ Hồ Thị Nói thay con gái làm mẹ. Nhiều đêm mẹ nhớ con, mơ thấy con trở về. Con gái mẹ rất siêng năng, ai cũng yêu quý. Mẹ nhớ chị Liên đã cùng đào địa đạo trong lòng đất với đồng đội, tham gia làm giao liên, du kích mật. Chị đòi đi thoát ly từ năm 15 tuổi nhưng mẹ cứ lần lữa, không nỡ xa con gái. Khi chồng chị Liên hy sinh, mẹ biết ước nguyện của  chị là được thoát ly làm cách mạng, thay chồng đánh Mỹ. Mẹ biết con gái Củ Chi rất gan lỳ, dũng cảm; đã quyết thì không thể ngăn được. Thương con gái, mẹ đã nhận phần nuôi cháu ngoại, như một sự chia sẻ thầm lặng của tình mẹ.

Chị Liên nằm lại Xóm Trại, xã Phú Thuận, Tây Ninh. Mãi đến ngày hòa bình, mẹ mới đưa được hài cốt chị Liên về quy tập ở nghĩa trang liệt sĩ quê nhà. Bất chấp bom đạn tơi bời, bất chấp sự khác nghiệt của cuộc chiến tranh, những người con gái Củ Chi lớn lên, xinh đẹp. Nhan sắc của những người con gái của mẹ ngày càng trở thành nỗi lo lắng, bất an của mẹ. Lính tráng, sĩ quan luôn rình rập trước nhà mẹ, không chỉ để rình “Việt Cộng” mà còn giăng bẫy những cô gái ngây thơ, trong trắng. Mẹ mừng vì theo gương chiến đấu của người cha liệt sĩ, hai con gái còn lại của mẹ: chị Phan Thị Nguyệt, Phan Thị Hòa thoát ly làm cách mạng. Như bao bà mẹ Củ Chi thương khó, mộc mạc khác; mẹ chuẩn bị cho mỗi chị cái bòng, đựng vài bộ quần áo bằng ni-lông, chiếc võng, ít tiền dằn túi. Mẹ còn chắt chiu cho mỗi chị đôi bông, chiếc nhẫn; như ngày xưa mẹ đã chắt chiu từng đồng lời, mua tặng cho chị Phan Thị Liên. Những thứ trông nhỏ nhoi, tầm thường ấy là cả gia tài của người mẹ yêu thương con, trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến tranh. Mẹ nhìn theo dáng con đi, nén lại đau thương, bịn rịn; vừa tự hào vì con mẹ đã chọn lựa con đường cách mạng như chồng mẹ năm xưa. Đêm đêm, mẹ thao thức, dõi theo bước chân con. Mẹ không khỏi lo lắng, đau thắt lòng khi nghe tin chiến sự diễn ra ở đâu đó. Dự cảm người mẹ về sự mất mát đã trở thành sự thật, khi ngày 21 tháng 8 năm 1969, mẹ nhận được tin chị Phan Thị Hòa hy sinh.

Mẹ Hồ Thị Nói ngồi trên bộ ván chậm rãi ngoái trầu, nhìn lên góc nhà dành cho chồng và hai con đã hy sinh. Những tấm bằng Tổ quốc ghi công hiển hiện trước mắt mẹ. Mẹ thở dài, tiếc nuối nói với tôi: “Hồi đó nghèo quá, cắm đầu lo làm ăn, tránh bom đạn, không ai có hình hết. Con Liên có tấm hình trong căn cước. Con nó mang về họa, để thờ nhưng rồi thất lạc luôn. Phải chi như bây giờ, máy chụp hình kiếm dễ ợt, mẹ chụp mấy tấm hình cho chồng con, để có bức ảnh thờ!”. Nhưng ký ức mẹ thì lưu giữ không phai mờ hình ảnh của chồng, con. Hôm ấy, trên đường công tác, quân Mỹ càn vô xóm, gom dân đi. Một trái cối của biệt kích bắn vào xóm, chị Hòa gục xuống. Chị Hòa nằm trên cánh đồng mùa lúa chín, mắt nhìn lên bầu trời xanh, mãi không khép lại được vì còn quá nhiều những ước mơ cho quê hương đất nước, cho mẹ chưa làm được. Hay tin, mẹ và những đứa em tìm đến Đồng Lớn, Trung Lập Thượng, tìm xác chị Hòa. Mẹ đỡ chị Hòa lên, vuốt mắt cho con gái. Cơ thể chị còn ngún khói miểng pháo. Máu chị Hòa thấm xuống mãnh đất Củ Chi, khi mới 17 tuổi. Chị Phan Thị Nguyệt, em gái chị Hòa kể: “Hai chị em được mẹ cho thoát ly. Tôi vào văn công, chị Hòa vào y tá. Tôi đâu ngờ khi chọn ngành phục vụ cách mạng là chúng tôi cũng đã chọn số phận cho mình!”.

Những năm cuối đời, mẹ còn lại niềm day dứt, khi số phận đứa cháu ngoại không được may mắn, suôn sẻ. Do chị Phan Thị Liên hy sinh, bên nội bắt cháu về nuôi. Đứa bé tuột khỏi vòng tay yêu thương của bà ngoại. Cháu Hương lấy chồng sớm, như câu ca buồn “Bướm vàng đậu cánh mù u, lấy chồng sớm làm gì… để lời ru thêm buồn”. Hôn nhân đổ vỡ, Hương phiêu bạt nơi nào chẳng rõ. Số phận không may mắn của Hương làm mẹ day dứt, trước vong linh của con gái và người chồng đã ngã xuống cho Tổ quốc. Những đứa bé mồ côi cha mẹ trong chiến tranh không tránh khỏi những thiệt thòi, mất mát. Mẹ đã cố gắng làm tất cả để bù đắp cho cháu nhưng mẹ bất lực hiểu một đứa trẻ lớn lên, trưởng thành đâu phải chỉ cần cơm áo mà cần lắm tình yêu thương của cha mẹ. Nhưng cha mẹ Hương đều hy sinh khi cháu còn bé xíu, không gì bù đắp nổi khoảng trống vắng trong lòng đứa trẻ sớm mất người thân. Mẹ mong ngày giỗ sắp tới của chị Phan Thị Liên, đứa con mồ côi của chị sẽ tìm về quê ngoại, thắp cho mẹ nén hương tưởng niệm. Mẹ mong gặp lại đứa cháu ngoại của mình để nói: “Dù con đi đâu, ở chân trời nào, bà ngoại vẫn yêu thương con, vẫn mong con quay về…”. Mẹ ngồi thẩn thờ bên dòng suối, gương mặt đượm buồn với tiếng gọi: “Hương ơi, cháu giờ ở đâu, hãy về với ngoại. Ngoại đã già rồi, rất mong được gặp cháu, cháu ơi!”.
 

Ở tuổi 82, mẹ Hồ Thị Nói ngày đêm khắc khoải với cuộc đời không suôn sẻ của đứa cháu ngoại sớm mồ côi cha mẹ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm