TIN TỨC

Chúng tôi đi mãi đất nào mộ anh?

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-26 14:31:29
mail facebook google pos stwis
1683 lượt xem

Lê Xuân

Kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7

 Chiến tranh đã lùi xa hơn một phần tư thế kỷ, nhưng dư âm của nó vẫn còn in  đậm nét trên mỗi khuôn mặt người mẹ, người vợ, người con, những đồng đội có người thân nằm lại các chiến trường. Hài cốt các anh, chị đang ở trên mảnh đất Khe Sanh, đường Chín Nam Lào, rừng già Tây Nguyên hay bưng biền Đồng Tháp? Các anh không về, lòng mẹ lặng im (Phạm Minh Tuấn). Xương máu của các anh đã góp phần tạo nên một Dáng đứng VIệt Nam tạc vào thế kỷ (Lê Anh Xuân). Thơ về đề tài người lính, về anh bộ đội Cụ Hồ, về thương binh liệt sĩ nhiều như sao trên trời, nhưng những vần thơ viết về nghĩa cử cao đẹp đi tìm hài cốt đồng đội, tuy ít nhưng vẫn làm xúc động bao thế hệ hôm nay và mai sau.

Xin dâng lên hương hồn các anh - những chiến sĩ hữu danh và vô danh của đất mẹ yêu dấu, những vần thơ tưởng niệm thành kính. Đó là nén tâm nhang của những thi sĩ chuyên nghiệp và những cây viết nghiệp dư. Hàng ngày ở hậu phương: Bao bà mẹ mắt mòn bên lối cỏ/ Đã bấy nhiêu năm hoá tượng đài (Lê Mạnh Tuấn). Mẹ cứ đợi một ngày nào đó được thấy hình hài của con dù chỉ là một nắm tro tàn để vơi nỗi cô đơn. Nhà thơ Lê Đình Cánh đã gởi vào Gió đất lời thì thầm tới cõi tâm linh, nơi các anh yên nghĩ ở một nghĩa trang trắng trời lau bát ngát:

Người còn tên. Người mất tên…

Giãi dầu mưa gió, nằm bên giãi dầu

Gió sương cỏ dại phai màu

Nắm mồ liệt sĩ, như nhau nấm mồ.

Cảm động biết bao, những người đồng đội còn may mắn sau cuộc chiến, mang trong người mảnh đạn nhưng vẫn cố lặn lội đi tìm hài cốt bạn trong một chiều xuân: Nắng nung/ Đầu đạn còn ở trong lưng/ Vui với mùa xuân/ Chúng tôi đi tìm hài cốt đồng đội (Tìm đồng đội – Sơn Thu). Những câu thơ như một lời quyết tâm hứa với người đã khuất. Người nằm dưới đất sâu đã cảm được Lời thiêng: Thương bạn ngược xuôi/ Đi tìm đồng đội/ Tôi hoá đất rồi/ Cỏ đã xanh chưa? Tôi hoá đá dưới chân Tô Thị/ Tận bến Kỳ Cùng/ Bạn nhớ đến thăm (Trần Ngọc Tuấn). Các anh nằm ở đâu? Chúng tôi đang vượt Trường Sơn trong cảnh sáng nắng, chiều mưa để tìm các anh đây. Nỗi nhớ, nỗi khát khao hiện lên cả ở trong giấc mơ:

Trường Sơn năm đợi tháng trông

Ngày tìm đồng đội đêm nồng chiêm bao

Núi cao, thác lũ, mưa trào

 Chúng tôi đi mãi, đất nào mộ anh?

(Đồng đội – Đinh Ngọc Du).

Nhà thơ Quang Chuyền trong lời Ru đồng đội đã hỏi trời, hỏi đất, hỏi núi, hỏi sông: Nơi nào cất giấu hình anh? Nơi nào giấu cuộc chiến tranh thuở nào? Nơi nào mưa thấp mây cao? Nơi nào tên tuổi chìm vào đất đai? Những câu hỏi như xoáy vào lòng người đang bước thấp bước cao ngày đêm đi tìm đồng đội, nhắc nhở chúng ta hãy nghĩ về các anh, về trách nhiệm của những người còn sống đối với những chiến sĩ vô danh ấy. Nghiêm Thị Hằng lại hoá thân vào vai một người em đi tìm mộ anh theo lời trăng trối của cha mẹ trước lúc ra đi:

Trong ngàn nấm mộ vô danh

Em đi tìm viếng mộ anh, em tìm

Khấn trời lạy đất linh thiêng

Chỉ cho em một cõi riêng anh nằm.

Thời gian trôi đi tưởng có thể làm vơi phần nào nỗi đau mất mát, nhưng thời gian cũng làm tăng thêm niềm day dứt khôn nguôi khi những người thân chưa tìm được hài cốt các anh. Thời gian tâm lý của những người đi tìm mộ như muốn kéo thời gian của tạo hoá chậm lại:

Níu thời gian gỡ nỗi đau

Đi tìm đồng đội rừng sâu gửi mình.

(Tìm đồng đội – Phạm Thông)

Nhà thơ Tô Hoàn với bài Tôi gọi rừng già đã hỏi mây, hỏi chim, hỏi rừng… về bạn mình ở đâu và cũng chỉ nhận ở cõi hư vô một lời thinh không với lòng mình: Thế mà đã mấy mươi năm/ Ánh cây bóng cỏ bạn nằm giờ đâu?/ Rừng hoang rờn rợn một màu/ Cây nằm cây đứng đan nhau rối bời/ Hỏi chim – chim lặn vào trời/ Hỏi mây – mây xoã tóc trôi trắng ngàn. Những câu hỏi vang lên và tan biến vào rừng xanh hoang vắng. Một không gian rợn ngợp, một con người cô đơn, ngơ ngác giữa rừng sâu.

Trong cuộc thi thơ lục bát của báo Giáo dục – Thời đại (1996 - 1998) có bài thơ đạt giải Nhì của Đinh Phạm Thái: Cái roi ngày ấy đã dựng lại nỗi đau của một người mẹ có đứa con duy nhất hay nghịch ngợm có lần đã bị đánh đòn. Anh đi bộ đội và nằm lại Trường Sơn. Người mẹ mỗi lần chạm tới cái roi là như đụng tới một nỗi đau sâu lắng:

Bây giờ con ở đâu xa

Nắm xương không cửa, không nhà mãi đi

Trường sơn một dải xanh rì

Đất đen, đất đỏ đất gì chôn con?

Chân run quờ chiếc gậy mòn

Sợ cầm phải cái roi còn đâu đây.

Kỷ niệm xưa như một nhát cắt ứa máu trong trái tim mẹ. Trong cuộc tìm kiếm đồng đội này, cũng có những người may mắn tìm được nắm xương của bạn mình. Cả làng xóm lại nâng niu đón hài cốt anh, cũng như trước đây đã tiễn anh ra đi. Về với quê nhà, người người rơi lệ, mừng mừng tủi tủi. Làng đón bạn về bạn ạ, như ngày làng tiễn ta đi/ Chỉ khác xưa những bàn tay vẫy/ Nay nâng niu hài cốt bạn về…/ Cờ đỏ quá trong tay người lặng lẽ/ Vải màu cờ ôm giấc bạn ngàn năm (Bạn về - Vũ Toàn). Có một người mẹ Nam Bộ ngoài bảy mươi tuổi bên bờ sông Tiền, đã từng khóc chồng, khóc con hết nước mắt, nay nhận được hài cốt của thằng Út do đồng đội đem về:Mẹ nhận về hài cốt đứa con trai/ Một nắm xương không còn nguyên vẹn/ Ngày anh đi tuổi vừa tròn mười tám/ Mũ tai bèo vành vạnh vầng trăng. Mẹ run run, thoáng một chút ngỡ ngàng khi thấy mười ngón tay. Mẹ sững sờ nhớ lại thằng Út con mẹ mất một ngón tay cái khi chặt dừa cơ mà? Mẹ lặng im và cao đẹp biết bao, đã tự nhận hài cốt vô danh ấy như chính thằng Út của mình: Tôi sững lặng trước trái tim người mẹ/ Thằng Út nào cũng máu thịt sinh ra (Trái tim người mẹ -Võ Thị Kim Liên). Trong ngàn ngàn ngôi mộ không tên ở Quảng Trị, Trường Sơn, Tây Ninh, Đồng Tháp… ngày ngày ta vẫn thấy có những người mẹ, người vợ, người em cứ lần từng tấm bia, may ra tìm thấy tên người thân trong đó. Hy vọng thật mong manh, và một người em đã thốt lên:

Em đi tìm/ Không thấy tên anh trong danh sách nối dài/ Không thấy mồ anh trong nghĩa trang cỏ ấy/ Đất như gọi bước chân em trở lại/ Bên cánh đồng lá lúa- mũi kim (Tìm Anh – Vũ Toàn). Còn như Mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc thì vẫn y nguyên nằm đó với tên tuổi đàng hoàng trên mộ chí:

Mười ngôi mộ chẳng biết già

Bởi xây bằng tiếng chim ca bên trờ

(Đồng Đức Bốn).

Biết bao cô gái khác chỉ để lại một khoảng trời con gái không tên: Em nằm dưới đất sâu/ Như khoảng trời đã nằm yên trong lòng đất/ Đêm đêm tâm hồn em toả sáng/ Những vì sao ngời chói, lung linh (Khoảng trời, hố bom - Lâm Thị Mỹ Dạ). Trong một chiều hành quân sau chiến tranh biên giới phía Bắc - 1979, những người lính bắt gặp những nấm mộ vô danh bên đường, họ như được tiếp thêm nghị lực trước giờ xuất kích: Các em đi khi mười tám tuổi xuân/ Và để lại những trái tim trong trắng/ Tiếng các em thét gọi nhau trong chiến hào khói lửa/ Còn cháy lòng bao chiến sĩ xung phong. (Gặp lại các em - Nguyễn ĐÌnh Chiến). Các anh, các chị, các em hãy tha lỗi cho chúng tôi vì việc tìm kiếm quá muộn. Biết bao ngôi mộ không tên, anh nằm trong đó và: Sau hy sinh, anh hy sinh lần nữa (Nhật Linh). Một dáng mẹ già đi ngược chiều gió vào nghĩa trang, trước những tấm bia vô danh, mẹ vẫn tâm niệm và tưởng tượng ra: Con mang tên chung của bao anh em/ Gương mặt con tươi nụ cười đồng đội (Bên mộ liệt sĩ vô danh - Nguyễn Đức Hạnh). Những người mẹ ấy Là trầm hương, thắp sáng mộ anh (Lê Huy Hạnh).

Có những người yêu, chỉ một lần tiễn anh lên đường ra hoả tuyến, để rồi biền biệt chờ mong và trở thành Tô Thị. Có những người vợ chỉ gần chồng trong gang tấc rồi âm thầm nuôi con một mình khi người anh nằm lại ở chiến trường. Căn nhà của chị trở nên trống trải, chị thương con: Chỉ nhớ gương mặt mẹ, còn cha thật xa vời. Biết bao dãi rừng bạt ngàn với sỏi đá, cỏ cây phủ lên các anh, ôm ấp chở che anh trong lòng đất mẹ:

Phủ lên ngôi mộ hao gầy

Một xanh thoáng mát, một ngày sắc quê

Cho hồn bạn níu trở về

Bớt đi một chút vụng về miền Trung

(Cỏ - Lê Thanh Xuân)

Đêm đêm có những người vợ vẫn tâm tình kể chuyện quê nhà cho người chồng ở chốn xa xôi dưới lòng đất nghe: Quê nhà mấy trận bão giông/ Mãi lo nước ngập trắng đồng lúa xanh/ Mãi lo cơm đủ áo lành/ Còn đâu lúc rãnh để thành Vọng Phu  (Lê Đình Cánh). Nỗi đau tưởng đã hoá đá, con người tưởng như bị bi kịch nhấn chìm. Nhưng không, đẹp biết bao hình ảnh người phụ nữ Việt Nam vẫn nén nỗi đau để lo việc nhà, việc nước thay anh. Chất lạc quan vút cao từ niềm tin ở cuộc đời mới, niềm vui độc lập tự do của dân tộc, niềm tự hào vì đã có chồng con góp xương máu để làm nên một Việt Nam  bát ngát mùa xuân.

Các anh đã trở nên bất tử cùng núi sông đất nước, đã hoà vào cỏ cây hoa lá để muôn đời con cháu tươi xanh. Các anh đã viết tiếp những trang sử vàng chói lọi của dân tộc, vang dội bước quân hành của một thời chống Pháp, chống Mỹ hào hùng. Hồn thiêng các anh thúc giục chúng ta- những người đang sống, hãy nghĩ về các anh, hãy tìm kiếm các anh để làm vơi đi phần nào nỗi đau của những người thân trong cuộc sống hôm nay.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm