TIN TỨC

“Thu thức giấc” của Trịnh Bích Ngân - Mùa của những rung động

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-08 08:05:06
mail facebook google pos stwis
1388 lượt xem

TRẦN HÀ YÊN
 

THU THỨC GIẤC
 

Đêm/ Vẩn đục/ Tinh tuyền

Mùa thu/ Trong tôi/ Thức giấc

 

Mùa thu/ Những mùa thu cách tôi/

Một tầm tay/ Một vòng ôm/

Mà quất quýt/ Và đắm say

 

Mùa thu trong tôi/ Chiếc lá chín vàng

Ngất ngây nụ hôn/ Của gió

 

Nụ hôn / Xuyên thời gian / Vượt qua cách trở

Mà giông bão / Và tử thần

Không thể / Tách chia

 

Đêm / Tinh tuyền /

Vẩn đục

Mùa thu / Trong tôi / Đỏ cháy

(TRỊNH BÍCH NGÂN)
 

Mùa thu, mùa của những rung động nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, đã từ lâu trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong văn chương và thi ca. Trong bài thơ Thu Thức Giấc, trích Nghiêng về phía nỗi đau của nhà thơ Trịnh Bích Ngân, mùa thu không chỉ hiện diện như một hiện tượng thời tiết hay một khung cảnh thiên nhiên, mà còn là một miền cảm xúc sâu kín, một sự thức tỉnh của tâm hồn. Thu Thức Giấc như dòng suối chảy qua từng ngóc ngách ký ức, chạm đến trái tim người đọc bằng những hình ảnh vừa quen thuộc, vừa bất ngờ.

Bài thơ mở đầu bằng một sự đối lập đầy ám ảnh: Đêm / vẩn đục / tinh tuyền /. Sự đối lập giữa vẩn đục và tinh tuyền không chỉ là một trạng thái của đêm, mà còn gợi lên sự giằng xé trong nội tâm con người. Đêm tối thường gắn với sự u uất, nặng nề của ký ức, nhưng đồng thời cũng là khoảng lặng tinh khiết, nơi con người soi chiếu vào chính mình. Cách ngắt dòng độc đáo giúp nhấn mạnh sự đối lập này, tạo ra một không gian đầy trầm tư, nơi người đọc cảm nhận rõ hơn sự xáo trộn của cảm xúc.

Câu thơ Mùa thu / trong tôi / thức giấc / cho ta thấy đây không chỉ đơn thuần là sự chuyển mùa của thiên nhiên, mà còn là một sự thức tỉnh trong tâm hồn con người. Mùa thu trong bài thơ không chỉ là một khoảnh khắc của thời gian, mà còn là biểu tượng cho ký ức, cho những cảm xúc đã từng ngủ yên nay lại bừng tỉnh. Cụm từ trong tôi thức giấc cho thấy một sự trở mình, một sự hồi sinh của những cảm xúc tưởng chừng đã bị chôn vùi theo năm tháng.

Hình ảnh những mùa thu cách tôi / một tầm tay / một vòng ôm / mang đến cảm giác vừa gần gũi, vừa xa xôi. Chỉ một tầm tay, chỉ một vòng ôm, tưởng chừng dễ dàng chạm tới, nhưng thực tế lại là một khoảng cách không thể vượt qua. Điều này khơi gợi nỗi nhớ về những mùa thu đã trôi qua, những con người đã từng hiện diện trong đời nhưng giờ chỉ còn là hồi ức. Câu thơ ngắn gọn nhưng đầy ám ảnh, như một tiếng thở dài giữa dòng chảy vô tận của thời gian.

Hình ảnh đẹp và giàu sức gợi: Chiếc lá chín vàng / ngất ngây nụ hôn / của gió mang đến một cảm giác lãng mạn, bay bổng. Chiếc lá chín vàng là biểu tượng quen thuộc của mùa thu, của sự chuyển giao giữa sống và tàn, giữa rực rỡ và héo úa. Nhưng trong bài thơ này, chiếc lá không đơn thuần chỉ rơi rụng trong lặng lẽ mà lại ngất ngây như thể đang chìm đắm trong một khoảnh khắc yêu đương đầy đam mê với gió. Ở đây, nụ hôn của gió không chỉ là sự ve vuốt của thiên nhiên mà còn là sự giao hòa của cảm xúc con người, một khoảnh khắc yêu thương nồng nàn dù biết rằng rồi sẽ tan biến.

Nhưng điều đặc biệt hơn cả là nụ hôn / xuyên thời gian / vượt qua cách trở. Không còn là một cái chạm thoáng qua giữa thiên nhiên và vạn vật, mà đó là sự bất tử của những cảm xúc chân thành. Giữa cuộc đời đầy biến động, có những điều có thể bị xóa nhòa, nhưng cũng có những tình cảm không gì có thể chia cắt, dù là giông bão / và tử thần. Đây là một trong những hình ảnh có tác dụng gợi cảm mạnh mẽ nhất của bài thơ. Câu thơ đã nhấn mạnh và khẳng định rằng: Tình yêu, ký ức và những rung động sâu lắng trong tâm hồn con người có thể vượt lên trên những rào cản khắc nghiệt nhất của thời gian và cuộc đời.

Bài thơ khép lại bằng một hình ảnh đẹp, sáng tạo đến bất ngờ: Mùa thu / trong tôi / đỏ cháy /. Nếu như mùa thu thường gợi đến sự dịu dàng, lắng đọng với sắc vàng và những cơn gió nhẹ, thì ở đây, nó lại hiện lên trong sắc màu đỏ cháy, một hình ảnh mạnh mẽ, dữ dội. Phải chăng, đây là ngọn lửa của những cảm xúc bùng nổ, của những ký ức không thể nguôi ngoai, hay chính là sức sống mãnh liệt còn rực cháy ngay cả trong những ngày thu tưởng chừng lặng lẽ?

Bằng những hình ảnh giàu sức gợi, những đối lập tinh tế và cách diễn đạt súc tích, bài thơ Thu Thức Giấc không chỉ đơn thuần là một bản nhạc thu buồn, mà còn là một lời khẳng định về sự bất diệt của những rung cảm trong tâm hồn con người. Mùa thu trong thơ không chỉ là một mùa của thiên nhiên, mà còn là mùa của ký ức, của những nỗi niềm không thể gọi tên, của những xúc cảm đã từng tưởng chừng ngủ yên nhưng vẫn âm ỉ cháy trong tâm hồn chủ thể trữ tình - nhà thơ - và trong tâm hồn của mỗi chúng ta.

Nhà thơ Bích Ngân đã khéo léo kết hợp những thủ pháp nghệ thuật độc đáo và lựa chọn ngôn từ chuẩn xác để diễn tả tâm trạng. Ngôn từ ở đây cô đọng, giàu hình ảnh. Một trong những điểm đặc biệt của bài thơ là cách tác giả sử dụng ngôn từ cô đọng, tối giản nhưng giàu sức gợi. Mỗi câu thơ ngắn, chỉ vài từ, tạo ra một nhịp điệu rời rạc, như sự ngập ngừng, như nhịp thổn thức của con tim rung động trước mùa thu. Tất cả như những mảnh ghép nhỏ nhưng lại tạo nên bức tranh cảm xúc toàn vẹn của chủ thể trữ tình. Các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng như tương phản, nhân hóa hay những hình ảnh mang tính biểu tượng… có tác dụng làm nổi bật vẻ đẹp đa chiều của mùa thu. Ví dụ như phép tương phản được sử dụng ở ngay từ đầu bài thơ. Đó là sự đối lập giữa "vẩn đục" và "tinh tuyền" đã tạo nên một cảm giác vừa căng thẳng, vừa hài hòa. Đây không chỉ là sự tương phản về mặt hình ảnh, mà còn là sự đối lập giữa hai trạng thái tâm hồn: Hỗn loạn và thanh tịnh, khát khao và bình yên. Hoặc những hình ảnh có tính biểu tượng như chiếc lá chín vàng, nụ hôn của gió, mùa thu đỏ cháy…tất cả đều là những biểu tượng đầy sức gợi, mang đến những tầng ý nghĩa sâu sắc. Chiếc lá không chỉ đơn thuần là hình ảnh thực của thiên nhiên, đó là biểu tượng của thời gian, của sự đổi thay. Nụ hôn của gió là sự giao hòa giữa trời đất và con người. Việc nhân hóa các hình ảnh tự nhiên như chiếc lá, gió, mùa thu đã thổi hồn vào từng câu chữ, khiến cho thiên nhiên trở nên sống động, gần gũi hơn. Điều này cũng giúp người đọc cảm nhận được sự gắn kết mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Không phải vô tình mà các câu thơ trong cả bài thơ đều là những câu ngắn, giàu nhạc tính. Nhà thơ không sử dụng những câu thơ kể lể, dài dòng, cũng không phô bày cảm xúc một cách lộ liễu mà gợi mở tinh tế cho sự cảm nhận. Chị không trực tiếp bày tỏ cảm xúc hay áp đặt một thông điệp cụ thể lên người đọc. Trong suốt chiều dài bài thơ, ta không thấy Bích Ngân nói “Tôi nhớ mùa thu”, hay bảo rằng “Tôi buồn” mà chị chỉ vẽ ra những hình ảnh, những sắc thái cảm xúc để người đọc tự mình cảm nhận. Chẳng hạn, khi viết: Những mùa thu cách tôi / một tầm tay / một vòng ôm, nhà thơ không nói rõ đó là nỗi nhớ về ai, về điều gì, nhưng chính sự mơ hồ ấy lại tạo nên sức mạnh. Không có những lời khẳng định rõ ràng về nỗi nhớ, tình yêu hay sự mất mát, nhưng mỗi hình ảnh lại mở ra một thế giới riêng, khiến người đọc tự soi chiếu vào mùa thu của chính mình. Đó có thể là một hoài niệm đẹp đẽ, một tiếc nuối mơ hồ, hoặc một cảm giác khát khao muốn níu giữ những điều đã qua. Người đọc có thể tự gán ghép mùa thu ấy với những gì họ đã đánh mất và đó chính là nét đẹp của sự gợi mở trong phong cách thơ của Bích Ngân. Tác giả đã để những khoảng trống cho người đọc tự mình lấp đầy.

Cũng trong bài thơ Thu Thức Giấc, người đọc dễ dàng nhận ra có sự biến đổi trong nhịp điệu, từ lặng lẽ đến bùng cháy. Đây cũng là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của Bích Ngân nói chung và đặc biệt trong tập thơ Nghiêng về phía nỗi đau. Ngay từ đầu bài thơ, nhịp thơ đã chậm rãi, như một bước chân nhẹ nhàng bước vào không gian mùa thu. Những câu thơ ngắn, từng chữ như rơi xuống một cách dè dặt, tạo ra cảm giác suy tư: Mùa thu / trong tôi/ thức giấc. Nhưng đến cuối bài thơ, nhịp điệu trở nên dồn dập hơn, mạnh mẽ hơn: Mùa thu /trong tôi/ đỏ cháy. Hay từ sự dịu dàng, lắng đọng của thu, tác giả bất ngờ kết thúc bằng một hình ảnh đầy kịch tính, mùa thu không còn là màu vàng êm ả, mà là đỏ cháy. Đây có thể xem là cao trào cảm xúc của bài thơ. Sự đỏ cháy này không chỉ là một hình ảnh thị giác, mà còn là cảm giác của một trái tim đang rực lửa, một tâm hồn không chịu ngủ yên trong nỗi buồn mà muốn bùng cháy với những khát khao, những rung động mãnh liệt. Sự thay đổi nhịp điệu này khiến bài thơ không còn là một bản nhạc trầm buồn của mùa thu, mà có cả những nốt thăng, những khoảnh khắc bùng nổ đầy cảm xúc.

Có thể nói rằng, Thu Thức Giấc không chỉ đơn thuần là một bài thơ về mùa thu mà còn là một bức tranh cảm xúc đầy biến động của con người trước thời gian, ký ức và những rung động sâu thẳm trong tâm hồn. Mùa thu trong bài thơ không chỉ là sắc vàng của lá rơi, làn gió nhẹ thoảng qua, mà còn là một thực thể sống động, mang theo hơi thở của quá khứ, hiện tại và cả những khao khát không tên.

Nhà thơ đã tạo nên một không gian thơ đặc biệt, nơi mùa thu không chỉ gợi buồn mà còn chứa đựng sự mãnh liệt, nơi những cảm xúc tưởng như dịu dàng lại có thể đỏ cháy, nơi những ký ức tưởng như xa vời lại có thể xuyên thời gian, vượt qua cách trở. Mỗi câu thơ là một nhịp đập của trái tim, khi thì rời rạc, chậm rãi như tiếng thở dài của kẻ hoài niệm, khi thì bùng nổ, dữ dội như một ngọn lửa cảm xúc chưa bao giờ lụi tàn.

Thu Thức Giấc như một lời nhắc nhở rằng: Mùa thu không chỉ là một khoảnh khắc trong năm, mà còn là trạng thái của tâm hồn. Có những mùa thu chỉ đến một lần rồi đi, nhưng cũng có những mùa thu cứ mãi thức giấc trong lòng người, những mùa thu của tình yêu, của ký ức, của những rung cảm không thể gọi tên! Và dù mùa thu ấy dịu dàng hay rực cháy, nó vẫn mãi hiện hữu, như một phần không thể tách rời trong tâm hồn chúng ta. Và đó chính là giá trị lớn nhất của Thu Thức Giấc, một bài thơ không chỉ để đọc, mà còn để cảm!

(Bài đăng Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số tháng 4/2025)

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm