TIN TỨC

“Thu thức giấc” của Trịnh Bích Ngân - Mùa của những rung động

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-04-08 08:05:06
mail facebook google pos stwis
1124 lượt xem

TRẦN HÀ YÊN
 

THU THỨC GIẤC
 

Đêm/ Vẩn đục/ Tinh tuyền

Mùa thu/ Trong tôi/ Thức giấc

 

Mùa thu/ Những mùa thu cách tôi/

Một tầm tay/ Một vòng ôm/

Mà quất quýt/ Và đắm say

 

Mùa thu trong tôi/ Chiếc lá chín vàng

Ngất ngây nụ hôn/ Của gió

 

Nụ hôn / Xuyên thời gian / Vượt qua cách trở

Mà giông bão / Và tử thần

Không thể / Tách chia

 

Đêm / Tinh tuyền /

Vẩn đục

Mùa thu / Trong tôi / Đỏ cháy

(TRỊNH BÍCH NGÂN)
 

Mùa thu, mùa của những rung động nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, đã từ lâu trở thành nguồn cảm hứng bất tận trong văn chương và thi ca. Trong bài thơ Thu Thức Giấc, trích Nghiêng về phía nỗi đau của nhà thơ Trịnh Bích Ngân, mùa thu không chỉ hiện diện như một hiện tượng thời tiết hay một khung cảnh thiên nhiên, mà còn là một miền cảm xúc sâu kín, một sự thức tỉnh của tâm hồn. Thu Thức Giấc như dòng suối chảy qua từng ngóc ngách ký ức, chạm đến trái tim người đọc bằng những hình ảnh vừa quen thuộc, vừa bất ngờ.

Bài thơ mở đầu bằng một sự đối lập đầy ám ảnh: Đêm / vẩn đục / tinh tuyền /. Sự đối lập giữa vẩn đụctinh tuyền không chỉ là một trạng thái của đêm, mà còn gợi lên sự giằng xé trong nội tâm con người. Đêm tối thường gắn với sự u uất, nặng nề của ký ức, nhưng đồng thời cũng là khoảng lặng tinh khiết, nơi con người soi chiếu vào chính mình. Cách ngắt dòng độc đáo giúp nhấn mạnh sự đối lập này, tạo ra một không gian đầy trầm tư, nơi người đọc cảm nhận rõ hơn sự xáo trộn của cảm xúc.

Câu thơ Mùa thu / trong tôi / thức giấc / cho ta thấy đây không chỉ đơn thuần là sự chuyển mùa của thiên nhiên, mà còn là một sự thức tỉnh trong tâm hồn con người. Mùa thu trong bài thơ không chỉ là một khoảnh khắc của thời gian, mà còn là biểu tượng cho ký ức, cho những cảm xúc đã từng ngủ yên nay lại bừng tỉnh. Cụm từ trong tôi thức giấc cho thấy một sự trở mình, một sự hồi sinh của những cảm xúc tưởng chừng đã bị chôn vùi theo năm tháng.

Hình ảnh những mùa thu cách tôi / một tầm tay / một vòng ôm / mang đến cảm giác vừa gần gũi, vừa xa xôi. Chỉ một tầm tay, chỉ một vòng ôm, tưởng chừng dễ dàng chạm tới, nhưng thực tế lại là một khoảng cách không thể vượt qua. Điều này khơi gợi nỗi nhớ về những mùa thu đã trôi qua, những con người đã từng hiện diện trong đời nhưng giờ chỉ còn là hồi ức. Câu thơ ngắn gọn nhưng đầy ám ảnh, như một tiếng thở dài giữa dòng chảy vô tận của thời gian.

Hình ảnh đẹp và giàu sức gợi: Chiếc lá chín vàng / ngất ngây nụ hôn / của gió mang đến một cảm giác lãng mạn, bay bổng. Chiếc lá chín vàng là biểu tượng quen thuộc của mùa thu, của sự chuyển giao giữa sống và tàn, giữa rực rỡ và héo úa. Nhưng trong bài thơ này, chiếc lá không đơn thuần chỉ rơi rụng trong lặng lẽ mà lại ngất ngây như thể đang chìm đắm trong một khoảnh khắc yêu đương đầy đam mê với gió. Ở đây, nụ hôn của gió không chỉ là sự ve vuốt của thiên nhiên mà còn là sự giao hòa của cảm xúc con người, một khoảnh khắc yêu thương nồng nàn dù biết rằng rồi sẽ tan biến.

Nhưng điều đặc biệt hơn cả là nụ hôn / xuyên thời gian / vượt qua cách trở. Không còn là một cái chạm thoáng qua giữa thiên nhiên và vạn vật, mà đó là sự bất tử của những cảm xúc chân thành. Giữa cuộc đời đầy biến động, có những điều có thể bị xóa nhòa, nhưng cũng có những tình cảm không gì có thể chia cắt, dù là giông bão / và tử thần. Đây là một trong những hình ảnh có tác dụng gợi cảm mạnh mẽ nhất của bài thơ. Câu thơ đã nhấn mạnh và khẳng định rằng: Tình yêu, ký ức và những rung động sâu lắng trong tâm hồn con người có thể vượt lên trên những rào cản khắc nghiệt nhất của thời gian và cuộc đời.

Bài thơ khép lại bằng một hình ảnh đẹp, sáng tạo đến bất ngờ: Mùa thu / trong tôi / đỏ cháy /. Nếu như mùa thu thường gợi đến sự dịu dàng, lắng đọng với sắc vàng và những cơn gió nhẹ, thì ở đây, nó lại hiện lên trong sắc màu đỏ cháy, một hình ảnh mạnh mẽ, dữ dội. Phải chăng, đây là ngọn lửa của những cảm xúc bùng nổ, của những ký ức không thể nguôi ngoai, hay chính là sức sống mãnh liệt còn rực cháy ngay cả trong những ngày thu tưởng chừng lặng lẽ?

Bằng những hình ảnh giàu sức gợi, những đối lập tinh tế và cách diễn đạt súc tích, bài thơ Thu Thức Giấc không chỉ đơn thuần là một bản nhạc thu buồn, mà còn là một lời khẳng định về sự bất diệt của những rung cảm trong tâm hồn con người. Mùa thu trong thơ không chỉ là một mùa của thiên nhiên, mà còn là mùa của ký ức, của những nỗi niềm không thể gọi tên, của những xúc cảm đã từng tưởng chừng ngủ yên nhưng vẫn âm ỉ cháy trong tâm hồn chủ thể trữ tình - nhà thơ - và trong tâm hồn của mỗi chúng ta.

Nhà thơ Bích Ngân đã khéo léo kết hợp những thủ pháp nghệ thuật độc đáo và lựa chọn ngôn từ chuẩn xác để diễn tả tâm trạng. Ngôn từ ở đây cô đọng, giàu hình ảnh. Một trong những điểm đặc biệt của bài thơ là cách tác giả sử dụng ngôn từ cô đọng, tối giản nhưng giàu sức gợi. Mỗi câu thơ ngắn, chỉ vài từ, tạo ra một nhịp điệu rời rạc, như sự ngập ngừng, như nhịp thổn thức của con tim rung động trước mùa thu. Tất cả như những mảnh ghép nhỏ nhưng lại tạo nên bức tranh cảm xúc toàn vẹn của chủ thể trữ tình. Các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng như tương phản, nhân hóa hay những hình ảnh mang tính biểu tượng… có tác dụng làm nổi bật vẻ đẹp đa chiều của mùa thu. Ví dụ như phép tương phản được sử dụng ở ngay từ đầu bài thơ. Đó là sự đối lập giữa "vẩn đục" "tinh tuyền" đã tạo nên một cảm giác vừa căng thẳng, vừa hài hòa. Đây không chỉ là sự tương phản về mặt hình ảnh, mà còn là sự đối lập giữa hai trạng thái tâm hồn: Hỗn loạn và thanh tịnh, khát khao và bình yên. Hoặc những hình ảnh có tính biểu tượng như chiếc lá chín vàng, nụ hôn của gió, mùa thu đỏ cháy…tất cả đều là những biểu tượng đầy sức gợi, mang đến những tầng ý nghĩa sâu sắc. Chiếc lá không chỉ đơn thuần là hình ảnh thực của thiên nhiên, đó là biểu tượng của thời gian, của sự đổi thay. Nụ hôn của gió là sự giao hòa giữa trời đất và con người. Việc nhân hóa các hình ảnh tự nhiên như chiếc lá, gió, mùa thu đã thổi hồn vào từng câu chữ, khiến cho thiên nhiên trở nên sống động, gần gũi hơn. Điều này cũng giúp người đọc cảm nhận được sự gắn kết mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Không phải vô tình mà các câu thơ trong cả bài thơ đều là những câu ngắn, giàu nhạc tính. Nhà thơ không sử dụng những câu thơ kể lể, dài dòng, cũng không phô bày cảm xúc một cách lộ liễu mà gợi mở tinh tế cho sự cảm nhận. Chị không trực tiếp bày tỏ cảm xúc hay áp đặt một thông điệp cụ thể lên người đọc. Trong suốt chiều dài bài thơ, ta không thấy Bích Ngân nói “Tôi nhớ mùa thu”, hay bảo rằng “Tôi buồn” mà chị chỉ vẽ ra những hình ảnh, những sắc thái cảm xúc để người đọc tự mình cảm nhận. Chẳng hạn, khi viết: Những mùa thu cách tôi / một tầm tay / một vòng ôm, nhà thơ không nói rõ đó là nỗi nhớ về ai, về điều gì, nhưng chính sự mơ hồ ấy lại tạo nên sức mạnh. Không có những lời khẳng định rõ ràng về nỗi nhớ, tình yêu hay sự mất mát, nhưng mỗi hình ảnh lại mở ra một thế giới riêng, khiến người đọc tự soi chiếu vào mùa thu của chính mình. Đó có thể là một hoài niệm đẹp đẽ, một tiếc nuối mơ hồ, hoặc một cảm giác khát khao muốn níu giữ những điều đã qua. Người đọc có thể tự gán ghép mùa thu ấy với những gì họ đã đánh mất và đó chính là nét đẹp của sự gợi mở trong phong cách thơ của Bích Ngân. Tác giả đã để những khoảng trống cho người đọc tự mình lấp đầy.

Cũng trong bài thơ Thu Thức Giấc, người đọc dễ dàng nhận ra có sự biến đổi trong nhịp điệu, từ lặng lẽ đến bùng cháy. Đây cũng là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của Bích Ngân nói chung và đặc biệt trong tập thơ Nghiêng về phía nỗi đau. Ngay từ đầu bài thơ, nhịp thơ đã chậm rãi, như một bước chân nhẹ nhàng bước vào không gian mùa thu. Những câu thơ ngắn, từng chữ như rơi xuống một cách dè dặt, tạo ra cảm giác suy tư: Mùa thu / trong tôi/ thức giấc. Nhưng đến cuối bài thơ, nhịp điệu trở nên dồn dập hơn, mạnh mẽ hơn: Mùa thu /trong tôi/ đỏ cháy. Hay từ sự dịu dàng, lắng đọng của thu, tác giả bất ngờ kết thúc bằng một hình ảnh đầy kịch tính, mùa thu không còn là màu vàng êm ả, mà là đỏ cháy. Đây có thể xem là cao trào cảm xúc của bài thơ. Sự đỏ cháy này không chỉ là một hình ảnh thị giác, mà còn là cảm giác của một trái tim đang rực lửa, một tâm hồn không chịu ngủ yên trong nỗi buồn mà muốn bùng cháy với những khát khao, những rung động mãnh liệt. Sự thay đổi nhịp điệu này khiến bài thơ không còn là một bản nhạc trầm buồn của mùa thu, mà có cả những nốt thăng, những khoảnh khắc bùng nổ đầy cảm xúc.

Có thể nói rằng, Thu Thức Giấc không chỉ đơn thuần là một bài thơ về mùa thu mà còn là một bức tranh cảm xúc đầy biến động của con người trước thời gian, ký ức và những rung động sâu thẳm trong tâm hồn. Mùa thu trong bài thơ không chỉ là sắc vàng của lá rơi, làn gió nhẹ thoảng qua, mà còn là một thực thể sống động, mang theo hơi thở của quá khứ, hiện tại và cả những khao khát không tên.

Nhà thơ đã tạo nên một không gian thơ đặc biệt, nơi mùa thu không chỉ gợi buồn mà còn chứa đựng sự mãnh liệt, nơi những cảm xúc tưởng như dịu dàng lại có thể đỏ cháy, nơi những ký ức tưởng như xa vời lại có thể xuyên thời gian, vượt qua cách trở. Mỗi câu thơ là một nhịp đập của trái tim, khi thì rời rạc, chậm rãi như tiếng thở dài của kẻ hoài niệm, khi thì bùng nổ, dữ dội như một ngọn lửa cảm xúc chưa bao giờ lụi tàn.

Thu Thức Giấc như một lời nhắc nhở rằng: Mùa thu không chỉ là một khoảnh khắc trong năm, mà còn là trạng thái của tâm hồn. Có những mùa thu chỉ đến một lần rồi đi, nhưng cũng có những mùa thu cứ mãi thức giấc trong lòng người, những mùa thu của tình yêu, của ký ức, của những rung cảm không thể gọi tên! Và dù mùa thu ấy dịu dàng hay rực cháy, nó vẫn mãi hiện hữu, như một phần không thể tách rời trong tâm hồn chúng ta. Và đó chính là giá trị lớn nhất của Thu Thức Giấc, một bài thơ không chỉ để đọc, mà còn để cảm!

(Bài đăng Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số tháng 4/2025)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm