TIN TỨC

Chuyện về các liệt sĩ hy sinh trước thềm giải phóng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-11 09:29:20
mail facebook google pos stwis
2191 lượt xem

HƯỞNG ỨNG  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"                      

TIỂU LINH

“Máu của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói…” - Hơn 5 năm đồng hành với các Đội Quy tập liệt sĩ, các cựu chiến binh (CCB), các nhân chứng và cả các thân nhân liệt sĩ trên mọi miền Tổ quốc, câu nói của Bác Hồ luôn vang lên trong tôi như một lời nhắc nhớ về những người con đất Việt đã ngã xuống cho sự bình yên hôm nay. Chẳng có nỗi đau nào lớn hơn khi đường tới hòa bình chỉ còn những bước rất ngắn nhưng các bác đã không có cơ hội được nhìn thấy cờ hoa rức rỡ đường phố Sài Gòn. Đó là câu chuyện của các liệt sĩ thuộc Tiểu đoàn Vận tải 701, Bộ Tham mưu, Quân đoàn 1.

ĐI QUA CHIẾN TRANH MỚI THẤU TÌNH ĐỒNG ĐỘI

Tháng 4/1975, Tiểu đoàn vận tải 701 (d701) Bộ Tham mưu, Quân đoàn 1 (QĐ1) tham gia chở khí tài chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Ngày 22/4, khi tới địa bàn xã Đăng Nghĩa, huyện Bù Đăng, tỉnh Phước Long (nay là xã Nghĩa Trung, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước), chiếc xe bị ném bom, bốn đồng chí hy sinh. Do sự khẩn cấp của công việc, các anh chỉ kịp an táng đồng đội của mình ngay bên đường rồi tiếp tục hành quân về Sài Gòn.

Sơ đồ mộ chi an táng các liệt sĩ.

Bốn liệt sĩ được an táng theo thứ tự: Phần mộ thứ nhất của liệt sĩ Vũ Ngọc Hùng, mộ thứ hai của liệt sĩ Vũ Hữu Thi, mộ thứ ba mang tên liệt sĩ Phạm Văn Khâm và phần mộ liệt sĩ Trần Văn Châu ở vị trí cuối cùng. Các anh đều cùng quê Thanh Hóa.

Ngày 28/5/1975, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các đồng chí của d701 quay ra Bắc. Khi đến nơi an táng 4 đồng đội, các anh đã vẽ lại sơ đồ mộ chí và bàn giao cho chính quyền địa phương, người tiếp nhận và ký biên bản là ông Nguyễn Hường - Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) xã Đăng Nghĩa. Chiến tranh kết thúc, dù phải bắt tay xây dựng đất nước, song công tác quy tập liệt sĩ vẫn được Đảng, Nhà nước và Quân đội đặc biệt quan tâm. Trên khắp cả nước, các phần mộ liệt sĩ lần lượt được tổ chức quy tập và đưa về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ (NTLS), liệt sĩ hy sinh ở đâu sẽ quy tập về NTLS của địa phương đó. Vì vậy, phần mộ của 4 liệt sĩ d701 của QĐ1 cũng được cất bốc và đem về an táng tại NTLS Phước Long. Tuy nhiên, do sơ suất của cán bộ quy tập nên trong phần đơn vị của các liệt sĩ được ghi chú là QK1. Chính vì sự nhầm lẫn này mà đội ngũ cán bộ Chính sách của QĐ1 đã nhiều lần vào Bình Phước tìm kiếm nhưng không có kết quả, dù trong tay họ có đầy đủ hồ sơ liệt sĩ và sơ đồ mộ chí. Cuối năm 2014, Ban Chính sách -  QĐ1 đã gửi toàn bộ hồ sơ của 4 liệt sĩ cho Hội Cựu chiến binh (CCB) tình nguyện tỉnh Bình Phước, đề nghị hỗ trợ tìm kiếm.

CCB Vũ Đình Luật cùng các CCB Đoàn CCB tỉnh Bình Phước trong một hành trình tìm kiếm liệt sĩ.

Là một trong những người đầu tiên tiếp nhận hồ sơ của 4 liệt sĩ d701QĐ1, CCB Vũ Đình Luật đã quay lại những mốc địa giới cũ để xác minh chính xác vị trí xã Đăng Nghĩa. Sau đó, ông được biết xã Đăng Nghĩa nay đã đổi tên thành xã Nghĩa Trung. Tiếp tục hành trình tìm kiếm các nhân chứng, ông nhận thông tin sau khi quy tập đưa về nghĩa trang thì không ai nắm được chuyển về đâu. Và thật bất ngờ, các liệt sĩ đều được đưa về an táng tại NTLS thị xã Phước Long, vị trí bốn phần mộ vẫn không thay đổi. Khi đứng trước các liệt sĩ, ông đã thốt lên thành tiếng: “Các anh đang ở đây mà sao thử thách chúng tôi nhiều thế. Tôi đi tìm mãi…”. Dù biết những người lính dưới bao tấc đất kia chẳng thể nghe nhưng ông vẫn muốn được chia sẻ với họ những cảm xúc của mình lúc ấy.

Hơn 2 năm rong ruổi khắp các NTLS của thị xã Phước Long, để rồi khi đứng trước những phần mộ ấy, ông lại thấy sự thử thách 2 năm của mình thật xứng đáng. Mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc ấy, CCB Vũ Đình Luật đều rơi nước mắt vì xúc động: “Chỉ ai đã từng bước qua chiến tranh, mới thấu hiểu tình đồng đội”.

NHỮNG CUỘC TRÙNG PHÙNG CẢM ĐỘNG

Tôi nhớ, hôm ấy là một ngày đầu đông năm 2016, ngày Hà Nội đón đợt lạnh tái tê. CCB Vũ Đình Luật gọi điện cho tôi từ Bình Phước và nói trong niềm xúc động: “Cháu ơi, cuối cùng chú đã tìm được các liệt sĩ của Tiểu đoàn vận tải 701 rồi, ngay trong NTLS huyện Phước Long. Các anh ấy ở ngay trước mắt mà bao năm nay đồng đội vẫn mải miết đi tìm. Người ta nhầm QĐ1 thành QK1 cháu ạ, chỉ sai một tí ấy thôi mà cuộc tìm kiếm phải kéo dài gần 40 năm”. Vậy là sau 2 năm vất vả ngược xuôi, người lính già ấy đã có thể mãn nguyện khi tìm được phần mộ của các liệt sĩ.

CCB Vũ Đình Luật gặp gỡ các nhân chứng để tìm kiếm thông tin cho các liệt sĩ.

Mấy ngày sau, tôi nhận được hồ sơ của các liệt sĩ d701 kèm bức thư tay của CCB Vũ Đình Luật. Trong thư, ông có nguyện vọng nhờ tôi cùng đồng hành để tìm kiếm thân nhân cho 4 liệt sĩ. Trong mọi cuộc tìm kiếm thì hành trình tìm người thân liệt sĩ lúc nào cũng đơn giản nhất bởi chỉ cần có địa chỉ, dù ở đâu trên mảnh đất này chúng tôi cũng cố gắng tìm được. Và chuyến đi tìm thân nhân cho các liệt sĩ d701 thuộc QĐ1 cũng không ngoại lệ. Khi chúng tôi về đến Thanh Hóa, Phòng Người có Công, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã cung cấp cho tôi hồ sơ đầy đủ của 4 liệt sĩ và người đang thờ cúng các liệt sĩ. Không mất nhiều thời gian, chúng tôi đã liên hệ được cả 4 thân nhân. Tuy nhiên, chỉ có thân nhân liệt sĩ Vũ Ngọc Hùng và thân nhân liệt sĩ Trần Văn Châu muốn đưa các bác về quê hương, gia đình liệt sĩ Vũ Hữu Thi và liệt sĩ Phạm Văn Khâm muốn các ông ở lại cùng đồng đội ở NTLS thị xã Phước Long.

Thân nhân liệt sĩ Trần Văn Châu đón chúng tôi trong căn nhà nhỏ ở xã Đông Khê, huyện Đông Sơn. Trên ban thờ, bên cạnh di ảnh bố mẹ được chụp cẩn thận thì di ảnh liệt sĩ chỉ được vẽ lại theo mô tả của các anh chị em trong gia đình. Nghe tin tìm được phần mộ của em trai, bà Trần Thị Bang thắp nén nhang trước di ảnh liệt sĩ, mắt ngấn nước. “Thương em nhiều lắm. Mấy chục năm giờ mới biết tin em. Vừa cưới vợ chưa kịp có con thì ra trận. Dẫu chiến tranh ác liệt nhưng vẫn lạc quan động viên mọi người. Thế rồi tin em hy sinh bay về, mẹ già khóc thương tiễn con, nhìn sang con dâu vừa qua tuổi đôi mươi, chẳng nhẽ vờ võ vậy cả đời?” - Bà Bang nói với tôi mà như nói với chính mình.

Khi nghe tin đã tìm được phần mộ của chồng cũ, bà Lê Thị Thú rất xúc động. Gần 40 năm trước khi nghe tin chồng hy sinh, bà vô cùng đau khổ. Chính mẹ chồng là người động viên bà đi bước nữa chứ không muốn con dâu góa bụa và cô đơn một đời. Các anh chị em nhà chồng động viên, cuối cùng bà đồng ý. Dù có chồng mới nhưng bà vẫn chưa bao giờ quên trách nhiệm của mình với gia đình liệt sĩ Trần Văn Châu. Gia đình chồng mới cũng trân trọng những ký ức đẹp đẽ của bà với gia đình liệt sĩ và cùng bà giữ gìn tình cảm ấy.

Đón nhận tin về phần mộ của anh trai ở NTLS thị xã Phước Long, ông Vũ Văn Cường hết sức ngỡ ngàng. Thực tế, ông đã có rất nhiều chuyến đi tìm liệt sĩ Vũ Ngọc Hùng ở rất nhiều nghĩa trang nhưng càng đi càng vô vọng. Cho đến khi ngỡ như phải bỏ cuộc thì lại có thông tin. “Giấy báo tử chỉ ghi là hy sinh mặt trận phía Nam nên bao năm qua tôi cứ đi tìm theo cảm tính. Tôi còn không biết anh hy sinh ở Phước Long” - Ông Cường nói xong, úp tấm sơ đồ vào mặt mình, người rung lên.

TRỞ VỀ…

Khi mọi thông tin đã khớp nối với nhau, tôi lên đường vào Bình Phước để cùng Đoàn CCB Tình nguyện tỉnh Bình Phước tổ chức đưa các liệt sĩ trở về quê nhà. Rới NTLS huyện Phước Long để thắp hương cho các liệt sĩ, CCB Vũ Đình Luật đã chờ tôi ở đó, ông chỉ vào hai lá cờ Tổ quốc và rất nhiều hoa cúc mà Đoàn CCB tỉnh Bình Phước chuẩn bị cho 2 liệt sĩ mà mỉm cười và khẽ nói: “Đây là giây phút hạnh phúc nhất của những người lính già”.

CCB Vũ Đình Luật và các CCB tỉnh Bình Phước tiễn đưa các liệt sĩ D701.

Trước khi rời Phước Long, tôi cùng CCB Vũ Đình Luật đi dọc những hàng mộ ở NTLS Thị xã Phước Long, nơi an nghỉ của hàng ngàn liệt sĩ khắp cả nước. Nhiều phần mộ chưa biết tên, một số khác thiếu thông tin nên chưa kết nối được với người thân. Những ngôi mộ có đủ thông tin thì gia đình lựa chọn để các liệt sĩ ở đây cùng đồng đội... Dù đã tìm được người thân cho các liệt sĩ hay chưa thì với người dân thị xã Phước Long, các liệt sĩ đều là những người con của quê hương họ, là một phần của mảnh đất này.

Sau gần 40 năm ngày những người lính anh dũng quả cảm nằm lại nơi đây, mảnh đất Phước Long giờ đã thay da đổi thịt, cuộc sống mới đã và đang hiện rõ hình hài qua từng con đường tôi đi qua, trên từng gương mặt mà tôi đã gặp.

Trên chuyến xe từ Nam ra Bắc, mỗi khi đoàn chúng tôi dừng lại nghỉ chân, người dân hai bên đường chẳng ai bảo ai, đều bước tới thắp nhang cho các liệt sĩ. Tôi nhớ mãi hình ảnh một người lính già, vừa đặt hai bông hoa lên hai chiếc tiểu sành phủ cờ Tổ quốc vừa thủ thỉ: “Các anh hy sinh cho tôi được sống, chúng tôi sẽ luôn nhớ về các anh, nhớ về quá khứ để nhắc mình sống thật ý nghĩa”.

Khi bước đến thắp hương cho các liệt sĩ, nhìn lá cờ đỏ sao vàng phủ trên những chiếc tiểu nhỏ, tôi nhớ về bác mình - Liệt sĩ Nguyễn Văn Cừ, hy sinh ở Kon Tum nhưng đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Tôi đã đi khắp chiến trường Tây Nguyên để tìm bác nhưng không có kết quả. Thời gian quá lâu, địa hình thay đổi, ngay cả khi cầm trên tay tọa độ nơi bác hy sinh nhưng tôi cũng không thể xác định được phần mộ bác ở đâu. Hơn 50 năm, ngoại tôi đã không thể chờ được con trai về.

Mỗi người lính nằm xuống hay có những người bỏ lại một phần lại một phần thân thể nơi chiến trường đều là một ánh hào quang soi tỏ hơn con đường chúng ta đi hôm nay, nhắc nhở chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước, để xứng đáng với sự hy sinh của cha ông mình.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm