TIN TỨC

Ngôi nhà chung của dân tộc Việt

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-07-15 19:57:20
mail facebook google pos stwis
1792 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

“Chuyện trên biển cần giờ” - Truyện ngắn của Nguyễn Trường in ở Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số 2+3+4 (2023) Tết Quý Mão 2023.

Truyện khai thác tư liệu lịch sử dưới nhiều góc nhìn của tư duy phản biện.

Để có mạch logic, tạo nên sức hấp dẫn, tác giả đã xây dựng hình tượng đại diện văn hóa - Ông Chế Lan (để độc giả dễ liên tưởng đến vua Chế Mân). Tác giả cho ông nói về sự thật thế và lực hai bên lúc bấy giờ buộc phải hòa hoãn: “Người Chăm ta coi quốc vương Chế Mân lấy Huyền Trân làm vợ là cuộc hôn nhân chính trị. Lúc đầu  hai bên đều cho rằng nhờ cuộc hôn nhân này mà  hai nước sẽ tránh được việc binh đao.

Nhà văn đưa vào truyện sự thật lịch sử dưới góc nhìn của ông Chế Lan: “Nước Chiêm ta cũng có thời hùng mạnh, đã từng 12 lần bắc phạt Đại Việt nhằm chiếm lại châu Ô, châu Lý. Thời vua Chế Bồng Nga đã mang quân ra Bắc, đánh vào Cửa Đại An, tiến thẳng vào kinh thành Thăng Long làm vua tôi nhà Trần phải run sợ”.

Huyền Trân không phải là vương hậu chính thức, nên không được lên dàn hỏa thiêu cùng chồng.

Nó cho thấy góc nhìn thứ nhất của ông Chế Lan: người Chăm không đồng ý với việc giao đất và việc tiếp nhận Công chúa Huyền Trân như là đại sứ văn hóa của người Việt.

Nhưng để nói về sự thật lịch sử như sử ghi thì đọc sử sẽ tốt hơn.

Sáng tạo của nhà văn

Nguyễn Trường đưa đọc giả đi theo mạch hư cấu, vẫn bảo đảm tính logic, khi nói về hoàn cảnh Huyền Trân: “… ngoài người chồng, nàng không biết ai. Nàng bị nhiều thế lực thù ghét và hãm hại, nhất là tể tướng nước Chiêm móc nối với thế lực ngoại bang để cô lập, nhằm tiêu diệt nàng”.

Trong hoàn cảnh đó, tác giả xây dựng hình ảnh Huyền Trân “…đứng bên gốc cây thần hát dân ca nước Việt cho Chế Mân nghe” bài dân ca Cò Lả: “Con cò cò bay l l bay la, bay từ từ chợ phủ, bay ra ra cánh đồng...”. Quốc vương Chế Mân dù không biết tiếng Việt, nhưng vẫn tỏ ra thích thú làn dân ca có tiết tấu như vó ngựa ngài cưỡi khi ra trận lại từ miệng người vợ xinh đẹp yêu quý.

Đó là sức lan tỏa của văn hóa do có điểm chung dựng nước và giữ nước của cả hai dân tộc đã bắt đầu được giao thoa bởi tấm lòng người Việt mang từ kinh đô Thăng Long vào kinh thành Trà Kiệu.

Lịch sử không thể bao quát thời đại nên mới cần đến nhà văn viết dã sử

Ở góc nhìn thứ hai là của Trung và Mỹ Hương. Trong góc nhìn này có sự thật: Một số tàu có mã lực mạnh muốn áp sát con tàu Nghinh Ông, nhưng bị các tàu cảnh sát có tốc độ cao vượt lên dùng cờ lệnh chặn li, tất cả phải tuân theo quy ước, không con tàu nào được chạy vượt mặt tàu Nghinh Ông”. Nó là biểu tượng Nhà nước Việt Nam qua bao đời nay: luôn bảo vệ người Chăm và văn hóa Chăm Pa.

Định kiến mà Mỹ Hương tiếp thu từ người cha đã bị thay đổi do tác động của lịch sử và hiện tại để thành: “Tiếng trống trận, tiếng tù và rúc, tiếng súng thần công nổ vang trời bổng lịm tắt; trước mắt nàng cảnh thành Đồ Bàn đẫm máu, xác người Chăm, người Việt nằm ngổn ngang,...”. Nó là góc nhìn phản biện của lớp trẻ người Chăm trước kiến thức lịch sử của mình hòa quyện các hình ảnh giữ nước khi người Chăm tự nguyện sống chung và bảo vệ ngôi nhà Việt sau này.

Chuyện cho thấy nét nhân hậu của người Chăm qua thông điệp gửi con của ông Chế Lan: “Huyền Trân không có vinh quang được lên đàn hỏa thiêu để theo người hùng Chế Mân; việc trả Huyền Trân về Thăng Long là ý nguyện của Chăm Pa”.

Nó là sự nhân hậu, rành mạch của dân tộc Chăm và người Kinh, một bên muốn trả và một bên muốn đón lại người con đất Việt về lại quê hương, không phải sống lưu vong và có quá nhiều kẻ thù hảm hại.

Nó góp phần lý giải tại sao sau khi gia nhập đại gia đình văn hóa gồm hơn 54 dân tộc được gọi tên chung dân tộc Việt Nam; nhờ sự nhân hậu của các dân tộc; nguồn cội để trở thành ruột thịt, sống chết có nhau trong việc bảo vệ bờ cõi chung, đã thành công trong chống xâm lăng: Tàu, đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ và đạo quân nhỏ của Trung Hoa buộc phải tuân lệnh Đặng Tiểu Bình xâm lược biên giới phía Bắc năm 1979.

Và khi Mỹ Hương, trong không hoàn thành nhiệm vụ thì đã có cô gái người Việt sống ở miền tây Nguyễn Hồng Loan làm tiếp. Họ là ruột thịt nên vỡ diễn là chung và nhờ đó, “Chế” Mỹ Hương cũng hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Truyện ngắn kết lại với hình ảnh ông Chế Lan thống lĩnh “đoàn quân của ông có cả người Kinh, người Khme… hòa lẫn với người Chăm thành đội hình vững như đồng” - biểu tượng của sự đoàn kết và bình đẳng của tất cả các dân tộc sống trên đất Việt: ai có tài cao, biết rộng, không phân chia theo tiêu chí dân tộc, mà phân chia theo tiêu chí tài đức; nếu có sức dẫn dắt con dân Việt Nam vì Tổ quốc giang san thì đều được tôn vinh.

Về góc nhìn nhân loại: Truyện ngắn lý giải cuộc chiến Nga – Ucraina hiện nay bắt nguồn từ xữ lý vấn đề dân tộc không đúng, đã dẫn đến chiến tranh giữa hai quốc gia, dân tộc vốn là láng giềng, đã từng sát cánh chống họa phát xít, coi nhau như ruột thịt…

Truyện ngắn cho ta sự hấp dẫn và kiến thức nhờ vào nhiều góc nhìn gọi là phản biện cộng với sự sáng tạo của nhà văn.

Hơi thở cuộc sống từ xưa đến nay thấm đẩm vào truyện ngắn của Nguyễn Trường lại được nhà văn sắp xếp, gọt giũa, sáng tạo thêm nhằm tăng tính logic trong văn học, tạo nên sự hấp dẫn./.

Mời đọc:

“Chuyện trên biển cần giờ”

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm