TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc

Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-18 00:23:16
mail facebook google pos stwis
284 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…

 

Giò thủ bó mo cau. Nguồn internet

 

Một trong số các món ăn ngon mỗi dịp Tết của gia đình tôi cũng như hết thảy các gia đình ở thôn quê ngày ấy, ngoài thịt gà, bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành, chả nướng, canh măng, canh miến…, thì có một món luôn không thể thiếu vắng trong mâm cỗ Tết của gia đình tôi để dâng cúng ông bà tổ tiên, đó là món giò thủ bó mo cau! Đúng vậy, món giò thủ dường như luôn được xem là món “chủ đạo” trong mâm cỗ ngày Tết không chỉ của gia đình tôi, mà gia đình nhà ai vì một lý do nào đó mà không thể có món này thì coi như mâm cỗ Tết chưa thật đủ đầy. Để làm được món ăn này, trong gia đình tôi ngoài bố mẹ và bà nội ra thì ông nội tôi vẫn luôn được xem là người có kinh nghiệm nhất trong việc bó giò thủ không những nhanh mà còn thơm ngon chuẩn vị. Chẳng vậy mà năm nào hễ cứ cách Tết chừng dăm ba ngày là ông nội tôi lại tất bật chế biến món này để cả gia đình tôi ăn Tết. Nhiều năm, do nhà nuôi được lợn mổ bán, nguyên liệu nhiều nên ông nội tôi còn làm thêm nhiều cây giò thủ để phân phát cho các bác, cô, chú (các con của ông bà tôi) cùng ăn Tết.

Còn nhớ, cứ thành thông lệ khi nhà tôi gói và nấu bánh chưng để ăn Tết thì cũng là lúc mà ông nội bắt tay vào chế biến món giò thủ. Nguyên liệu chính của món giò thủ bao gồm: tai, mũi, má, thịt trên phần đầu của con lợn, cùng phần lưỡi cũng luôn không thể thiếu được, bởi theo như lời của ông, món giò có thêm lưỡi lợn sẽ ngon hơn, ngược lại nếu thiếu lưỡi lợn thì vị ngon sẽ giảm đi nhiều. Ngoài ra, các loại gia vị đi kèm của món này bao gồm phải có, đó là: mộc nhĩ, hạt tiêu xay đập dập, tỏi, hành khô, gừng, đường, nước mắm, mì chính, là chuối, và đặc biệt là tàu mo cau.

Nếu như sau này việc làm giò thủ được định hình đơn giản bằng các mẫu khuôn kim loại chế biến sẵn, thì ngày ấy người ở thôn quê vẫn chỉ có cách thông thường, đó là dùng tàu mo cau để gói, bó giò. Mỗi lần chuẩn bị làm giò, ông nội tôi thường chọn những cái mo cau to nhất rụng xuống từ cây cau trồng trước sân nhà. Ông phân việc cho mấy anh chị em chúng tôi cọ rửa mo cau sao cho thật sạch đến trắng tinh cả phần phía trong lẫn phía ngoài của tàu mo. Cẩn thận hơn, khi các cháu đã cọ rửa mo cau rồi, ông còn dùng muối sát khuẩn để tàu mo cau sạch sẽ, đảm bảo an toàn vệ sinh nhất có thể. Phần sơ chế nguyên liệu ông luôn đảm nhận hết, bởi phải tự tay ông làm thì món giò mới không bị hôi, mới thơm ngon chuẩn vị. Bao giờ cũng vậy, nguyên liệu tai, mũi, má, lưỡi.., ông luôn chần qua bằng nước sôi có bỏ gừng, sả, muối ở trong đó để khử hết mùi hôi và các chất bẩn. Sau khi nguyên liệu sạch sẽ, ông thái con chì gần bằng ngón tay, tiếp sau ông tẩm ướp nguyên liệu cho thấm vị. Công đoạn ông bắc chảo để xào giò luôn khiến tôi thích thú nhất, bởi ngồi bên bếp lửa xem ông xào giò tôi có thể nghe thấy tiếng mỡ trong chảo nguyên liệu reo lên như vui mừng, và sau đó là thứ mùi thơm béo bùi của thịt xém cạnh quện trong mùi mằn mặn của mắm ngào ngạt bốc lên trên cái chảo, thì không chỉ tôi mà bất cứ ai gần đó, thậm chí là những người hàng xóm, ngửi thấy mùi thơm hấp dẫn lan toả cũng sẽ nao lòng thèm muốn và cảm thấy… đói bụng!

Khi chảo nguyên liệu xào chín đủ độ, nước cạn sền sệt, ông bắc chảo xuống và bắt đầu công đoạn bó giò. Tay ông thoăn thoắt dùng muôi múc phần nguyên liệu giò còn nóng hổi rải đều ở phần giữa theo chiều dọc của chiếc mo cau, cuốn tròn lại rồi dùng lạt gò chiếc mo cho kín rồi thắt lại, siết dần, siết dần đến khi cái giò tròn đều chắc nịch hằn lên những khúc bóng nhẫy. Mỗi năm ông nội tôi thường chỉ bó 2 cây giò mo cau như thế cho gia đình ăn Tết; nếu năm nào ông có ý định làm cho các bác, cô, chú của tôi, thì ông sẽ làm tới cả 5-7 chiếc, thậm chí cả chục chiếc. Mỗi chiếc giò thủ mo cau thường nặng khoảng từ 2-4 kg, và cả gia đình có thể ăn đủ 3 ngày Tết mà vẫn còn để ăn lai rai những ngày đầu tháng Giêng. Khi bó giò xong, bao giờ ông tôi cũng chuẩn bị một ấm nước thật nóng để giội rửa sạch phần nước mỡ còn bám lại trên mặt ngoài chiếc giò, sau đó ông sẽ dùng dây lạt treo nó lên thanh ngang của chái bếp, đợi đến chiều Ba mươi mới cắt giò ra từng khoanh để sắp mâm cơm cúng Tết.

Nôn nao ngóng đợi rồi bữa cơm tất niên ngày cuối năm cũng tới, khi ông nội tôi dùng con dao sắc nhất, cắt lấy vài khoanh giò tròn xoe, xắt thành từng miếng dài vừa ăn. Miếng giò mo phẳng lì và vô cùng bắt mắt. Nó có màu vàng cánh gián của thịt xém cạnh, màu trắng của thịt mỡ nổi màu dưới trời rét và màu đen thơm lừng của hạt tiêu giã dập. Miếng giò thơm mùi mắm ngon và hạt tiêu, béo bùi cái thơm ngọt của thịt lợn được xào kĩ, vẫn còn quện trong miếng mỡ mùi mo cau rất lạ khiến cho món ăn khoái khẩu vô cùng. Chấm miếng giò ấy vào bát mắm đậm đà cùng vị cay nồng của ớt, kèm thêm chút dưa cải muối chua, ăn với cơm trắng thôi cũng tuyệt ngon, thưởng thức một lần là nhớ mãi không thể nào quên được.

Thời gian trôi đi, cuộc sống ngày càng hiện đại, kinh tế của hết thảy các gia đình, kể cả các gia đình ở thôn quê cũng đã đủ đầy và được xem là “giàu có” hơn rất nhiều so với cách nay vài ba thập kỷ trở về trước; và dẫu trong mâm cao cỗ đầy ngày Tết hàng năm của gia đình tôi luôn có sự xuất hiện của rất nhiều các món ăn ngon, nhưng mỗi khi mường tượng nhớ lại một thời ấu thơ nhiều thiếu thốn, tôi vẫn luôn nao lòng thèm muốn và nhớ tới món giò thủ bó mo cau tuyệt ngon do ông nội tự tay chế biến. Nội tôi đã trở về với thiên cổ từ lâu, và trong mâm cơm cúng tổ tiên, cúng ông nội ngày Tết, bố tôi thường không bao giờ quên sửa soạn món giò thủ, dẫu nó không còn được chế biến theo cách bó trong những chiếc mo cau mộc mạc, đơn sơ giống như những ngày xưa nữa…

T.B.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm