TIN TỨC
  • Truyện
  • Đèo hun hút gió | Y Nguyên

Đèo hun hút gió | Y Nguyên

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-13 07:45:21
mail facebook google pos stwis
2127 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

Y NGUYÊN

1.
Đèo vắt ngoằn ngoèo non 2 cây số, hết dốc lên lại dốc xuống. Những con dốc ngắn nhưng mà tức ngược. Xe lên – nhất là xe tải, xe khách chở nặng – chỉ có thể gài số 1 mà bò. Lên đèo, anh lơ nào biết ý cũng ôm khúc cây canh nhao ra đứng lăm lăm gần cửa. Thấy xe ì ạch là lập tức phóng đụi xuống đất, chạy bộ lúp xúp theo sau. Làm vậy để phòng xa lỡ máy, phanh gặp sự cố, tài xế hét “canh!” là lập tức lao người lấy cây canh chèn bánh kịp thời, không cho xe tụt dốc!

Đèo có cái tên kì lạ: đèo Bình Thảo! Chẳng hiểu danh xưng mỹ miều kia từ đâu ra, chỉ biết nó không ăn nhập chi với cái địa hình hiểm trở nói trên. “Bình” đương nhiên là không (dốc lên dốc xuống chập chùng, bình làm sao?), còn “thảo” cũng không nốt. Hai bên đường cây thấp cây cao lừng lững, rợp bóng mát rượi vệ đường. Dưới gốc cây là đệm lá khô, bước rất êm chân; có điều đốt đuốc cũng không tìm đâu ra bóng cỏ! Đi xe máy ngang đèo, dừng chân nghỉ dưới bóng cây, đốt điếu thuốc ngửa người ngắm cảnh rừng núi hoang sơ rất thú. Nhưng đó là ban ngày. Ban đêm, trong bóng tối mịt mùng, con đường đèo xuyên sơn hóa âm u, thập phần nguy hiểm! Địa hình khúc khuỷu dễ gây tai nạn là một chuyện, nhưng còn cả mối nguy từ những kẻ bất lương. Đã có nhiều vụ chặn xe qua đèo xin đểu, thậm chí cướp giật. Công an nhận tin, tăng cường truy quét kiểm soát tuần tra đỡ được vài tháng, nhưng hễ vắng bóng công an đâu lại hoàn đấy. Cũng phải, nguyên đoạn đường đèo dài dặc toàn rừng núi hoang vu; xe qua đèo lại chạy chậm nên bị đón đầu không mấy khó khăn. “Ngon ăn” vậy đám thảo khấu không lợi dụng thời cơ kiếm chác mới lạ!

Một thời, Bình Thảo khét tiếng với cái hỗn danh “đèo Lương Sơn Bạc”. Cánh lái xe qua đèo ban đêm – hoặc cả lúc chạng vạng, bình minh – đều phải dừng xe chờ nhập đoàn đông đúc mới dám vượt đèo. Đi lẻ là bị đòi tiền “mãi lộ” ngay. Lái xe nào chống đối sẽ bị chúng đập xe, còn cho ăn nhừ đòn. Cảnh cáo để lần sau biết luật. Đừng nghĩ chuyện báo công an nghe, tụi tao… lấy mạng luôn đó! Lấy mạng chúng chưa dám, nhưng ăn đòn nặng hơn có rồi. Tiền cơm thuốc, tiền sửa chữa xe cộ hư hao thôi đem nộp trước chúng cho xong. Coi như mua lấy đường làm ăn. Thời buổi kinh tế cạnh tranh, dừng xe cả buổi mà chờ để hàng bị trễ chuyến có khi còn thiệt hại gấp mấy. Người này truyền miệng người kia riết rồi đội ngũ tài xế xuyên sơn đều theo nhau “làm luật”. Nhiều ít tùy theo tải trọng, giá trị hàng hóa lưu thông. Cái trạm thu thuế không biên lai ngang “đèo Lương Sơn Bạc” cứ âm thầm, ngang nhiên tồn tại ngay trước mũi nhà chức trách hết sức trêu ngươi. Kể cũng khó, quan thì xa “thảo khấu” thì gần, làm căng chúng thù hằn, quấy nhiễu suốt sống sao yên. Còn nhà chức trách không thấy dân kêu nữa cứ tưởng đã yên. Vùng sâu dân thưa thớt, địa hình hoang vu không dễ mà quản lí, huống chi con đường đèo dài dặc hai bên suốt từ đầu đến cuối chỉ có rừng núi, rẫy nương, tịnh không một bóng nhà…

Vậy nhưng, mọi sự đã đổi thay kể từ lúc lưng đèo mọc lên cái quán nước.

2.
Quán được đặt tên Quán Ông Sáu. Kêu vậy bởi chủ nhân của quán là ông Sáu Gầm, thương binh. Nhẹ thôi, nhưng vẫn là thương binh. Tuổi cao, chân hơi khập khiễng nhưng được cái vóc vạc rắn rỏi, to con nên trông ông Sáu còn đầy phong độ. Nghe bảo dân dưới xuôi. Chẳng hiểu buồn tình chuyện gì lại bỏ quê kiểng, cửa nhà lên đây dựng quán. Buồn gì đâu, ông Sáu cãi, là tui thích sống… tự do thiên nhiên, yêu núi rừng! Nghe vậy biết vậy, cũng không ai tọc mạch gì thêm. Quán dựng dưới gốc cây cầy (kơ nia) cao to lừng lững bên đường chủ yếu bán các loại nước: nước chè, nước suối, nước ngọt đóng chai…; thêm dăm bì bánh kẹo, thuốc lá, bật lửa và vân vân. Quán cũng bán cả mì tôm cho dân làm rẫy ngại dỡ cơm trưa có thứ mà ăn qua bữa đợi làm chiều…

Coi đơn sơ vậy mà bán đắt.

Đường đèo quanh co vất vả, lái xe nào lên tới đỉnh cũng muốn dừng xe vào quán thư giãn, làm li nước mát, chuyện dăm câu ba sợi cùng chủ quán trước khi tiếp tục lộ trình. Ấy là khách vãng lai. Còn “bạn hàng” thường xuyên với ông Sáu là dân làm rẫy hai bên đường đèo: vào quán nghỉ trưa, ăn uống trước buổi làm chiều. Ông Sáu mua trăm mét ống nhựa, hì hục đặt, kéo từ con suối nhỏ trên núi xuống sau lưng quán thành cái vòi nước tự nhiên hầu “chư thượng đế” có nhu cầu rửa mặt mũi chân tay. Nước suối trong vắt, mát lạnh khiến người đi đường, người làm rẫy giữa trưa hè nắng lửa nghĩ tới không ai không thèm. Vậy nhưng, cái quyến rũ khách nhất vẫn là… chủ nhân. Vui tính xởi lởi, hàng bán giá cả phải chăng, sẵn sàng cho nợ với những khách hàng đã được “kiểm tra tư cách”. Và còn những câu chuyện của thời quân ngũ. Ông Sáu có biệt tài kể chuyện: ngay những khách hàng xuất thân mười mươi lính tráng nghe ông kể chuyện lính vẫn cứ mê như thường!

Ấy là nói ban ngày; chứ ban đêm, khi ai về nhà nấy, khi những chuyến xe qua đèo thưa thớt dần rồi vắng bặt lúc về khuya sẽ chỉ còn mình ông Sáu trong cái quán nước cô đơn giữa lưng đèo hun hút gió…


Nhật nguyệt – tranh sơn mài – Nguyễn Hoài Hương (Trích trong Sáng tác mới 2020 của Hội Mỹ thuật TP.HCM).

3.
- Chú Sáu…

- Gì mậy?

- Tụi nó bắn tin hăm chú…

- Tụi nào? Mà hăm cái gì?

- Thì tụi… thằng Lâm “mãi lộ”… Mà thôi, cháu không tiện nói nhiều. Tụi nó kêu cái quán chú trấn trên lưng đèo cản trở chuyện làm ăn. Kêu chú dỡ quán rời đi. Nếu không sẽ…

- “Sẽ” cái gì, mầy nói luôn đi. Gì ấp úng miết?

- Dạ, sẽ… sẽ… đốt!

Thằng Tí “chuột”, dân làm rẫy, khó khăn lắm mới bật ra từ cuối. Nó nhìn lom lom, hình dung ông Sáu chắc phải xúc động dữ lắm khi nhận được “hung tin” kia. Chẳng ngờ ông Sáu tỉnh bơ:

- Vậy hả? Hung dữ dằn bây! Thôi, nó có đốt thì mình… cất lại thôi. Tao già, đi đâu được nữa mà đi?

Tí “chuột” thấy bất an trong ruột. Nó cố gắng thuyết phục ông Sáu:

- Chú Sáu, chú phải cẩn thận. Tụi nó côn đồ lắm, nói là làm. Dân quanh đây ai cũng sợ…

Ông Sáu bật cười:

- Thôi được rồi, chú Sáu cám ơn con. Để chú coi rồi liệu…

Thằng Tí về rồi, ông Sáu vẫn một mình ngồi yên, nhăn trán nghĩ ngợi. Vẻ cười cợt biến mất, thay vào đó bằng những nét lo âu. Cộng cả nỗi buồn…

4.
Tôi quyết định rời bỏ phố thị, lánh xa những náo hoạt ồn ào, đoạt lợi tranh danh để tìm một chốn bình yên. Chốn ấy có rừng hoang sơ, có mây ngàn gió núi, có những người bạn mưu sinh bằng công việc rẫy rừng lam lũ nhưng chân chất hiền hòa. Chốn ấy tôi có thể sẻ chia – hào hứng sẻ chia – cùng những người bạn mới quen mảng màu kí ức một thời lửa binh. Gian khổ thật, nhưng cũng đầy nhạc, đầy thơ, đầy hùng khí lãng mạn dệt nên bởi một thời trai trẻ. Chúng tôi, những chàng lính tuổi 20 bước chân vào cuộc chiến. Ra trận, cầm súng bắn vào kẻ thù như một lẽ đương nhiên không có nhiều tính toán, nghĩ suy. Làm trai phụng sự Tổ quốc là lẽ đương nhiên. Binh sĩ phục tùng mệnh lệnh chỉ huy là lẽ đương nhiên. Còn sống thì còn niềm vinh quang phụng sự. Chết đi sẽ được phong liệt sĩ, được Tổ quốc và nhân dân đời đời tưởng nhớ, ghi ơn. Giản đơn vô cùng. Chiến tranh giúp giản đơn hóa đến toàn triệt mọi vấn đề rắc rối của đời sống. Sức mạnh quân đội nằm ở tính giản đơn trong suy nghĩ mỗi người lính. Tư tưởng không nhất quán, lập trường không kiên định với lính (chiến) đồng nghĩa cùng tự sát…

Tôi từng là một người lính như vậy. Lính đúng nghĩa. Tôi tự hào về điều đó.

Chiến tranh chấm dứt. Tôi, người lính may mắn còn sống sót (cho dù đầy mình thương tật) được xuất ngũ về với gia đình. Vinh quang, nhưng cũng có cái gì đó hơi hụt hẫng. Thú thật, tôi yêu gia đình nhưng tôi không muốn rời quân đội. Tay tôi quen cầm súng hơn cầm cày. Trời sinh tôi ra để làm lính. Chỉ trong môi trường lính tráng tôi mới có thể phát huy hết các tố chất ưu việt của mình. Vậy nhưng, hội đồng giám định y khoa đã khám, kết luận, tôi không đủ sức khỏe để phục vụ dài lâu trong quân ngũ. Thương tật ư? Cũng có, nhưng trước đây (cũng cái hội đồng ấy) không ai bới móc gì chuyện tôi thương tật. Dễ hiểu: trong chiến tranh người ta cần, rất cần lính, còn đây là thời bình…

Thì về. Đương nhiên tôi cũng được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi, chế độ khi xuất ngũ, kể cả trợ cấp thương tật như ai. Nhưng cởi áo lính về làng, tôi cứ như con cá bị hất văng lên cạn. Công bình, địa phương cũng ưu tiên, sắp xếp cho tôi vào làm việc trong bộ máy chính quyền xã. Chuyển sắp lượt qua các phòng ban, ngồi đâu cũng gây, cũng đụng. Cuộc sống dân sự với những mặt trái đầy ngoắt ngoéo của nó khiến tôi không tương thích nổi. Đã bảo: lính quen minh bạch rõ ràng, ngang ngay sổ thẳng. Bí bách tù túng dẫn tới stress, bỏ việc. Làng quê không đủ đất cấy cày, lại phải bươn lên phố kiếm ăn. Bao năm như kẻ ở đậu ăn nhờ. Khói bụi, xe cộ, nhà tầng và những náo nhiệt chốn phồn hoa chưa bao giờ có trong danh mục chọn lựa cho cuộc đời tôi. Cứ nhắm mắt tôi lại mơ về tuổi thanh xuân. Tôi thấy nhớ núi rừng, nhớ cái màu xanh bạt ngàn từng nuôi nấng, vỗ về những giấc mộng thanh xuân. Màu xanh áo lính…

5.
Tiếng la hét. Tiếng đấm đá. Tiếng chạy huỳnh huỵch trước xa sau gần, hướng về phía quán. Tiếp đó tiếng dộng cửa bồm bộp. Chú Sáu, chú Sáu…. Ông Sáu Gầm bật dậy. Sắp nửa đêm rồi, chuyện gì đây?

Quờ tay chụp cây rựa bén dựng sẵn cạnh giường, ông Sáu thận trọng tiến ra, mở cửa. Thằng Thanh, tài xế xe tải đường dài cùng chú lơ xe ập vào như cơn lốc. Chú Sáu cứu con. Tụi… tụi nó… Bình tĩnh nói nghe coi, tụi nó làm gì mày? Dạ, tụi nó… dạ, tiền “mãi lộ” tháng này con đóng rồi mà tụi nó còn đòi thêm, con không chịu nên… nên… Hiểu rồi. Vụ này ông Sáu có nghe nhưng bữa nay mới lần đầu chứng kiến. Được, tụi mày trốn vô trong đi, để tao…

Ông Sáu giấu rựa sau cửa, vặn nhỏ ngọn đèn trên khám xong tay không bước ra ngoài. Trăng 16 vằng vặc, soi rõ đám “anh Hai” lố nhố trước quán. Con mắt nghề nghiệp của ông Sáu liếc nhanh, ước lượng. Một, hai, ba… Năm thằng cả thảy. Mã tấu loáng ánh thép.

- Chuyện gì vậy mấy chú?

- Nè, ông già, đừng có giả bộ. Hai cái thằng vừa chạy vào nhà ông đâu, giao ra đây!

- Thằng nào, mấy chú nhầm chăng, làm gì có ai?

Thằng “đại ca” nhất đám hất mặt, cười nhạt:

- Ông tưởng qua mắt được tụi này sao? Nè, cái quán của ông lù lù lâu nay ngứa mắt tụi này lắm rồi, bảo xéo đi không xéo giờ còn muốn phá bĩnh! Ông có tin tụi này… đốt quán ông ngay bây giờ không?

Ông Sáu vẫn một mực mềm mỏng:

- Tội nghiệp tui mà mấy chú. Tui cũng là cùng đường lên đây kiếm miếng cơm…

Thằng “đại ca” sốt ruột hất mạnh tay:

- Không nói lôi thôi, tụi bay đâu, lục soát nhà lão…

Hai thằng cảnh giới bên ngoài, hai thằng còn lại vác “mã” theo đại ca xồng xộc vào quán. Ông Sáu cũng theo sau, bén gót.

Bên trong quán mờ tối. Ba anh “thảo khấu” còn đang nhướng mắt, cố nhận dạng địa hình đã nghe cửa quán sau lưng đóng sập. Thằng đi sau chưa kịp quay lại đã bị cánh tay lực lưỡng của ông Sáu kẹp cổ. Một cú vặn nghiêng khiến xương cổ kêu đánh “rắc”. Ngón đòn ruột của lính đặc công, ông Sáu chỉ dùng nửa phần sức – đủ để vô hiệu hóa đối phương mà không đến mức lấy mạng! Bất ngờ với cảnh tượng ấy, hai “chiến hữu” đờ người ra mất mấy giây, sau đó nhất tề xông vào cứu nguy. Hự, cú đá gót xoay người trúng mặt giúp ông Sáu loại thêm thằng đàn em thứ hai. Phần gã “đại ca” được ông quăng trọn tấm thân tên đàn em bị kẹp cổ – giờ đã rũ ra, mềm nhũn – vào người. “Đại ca” chửi thề, xô đống thịt mềm oặt sang bên, xoay người toan chạy. Chạy đâu? Cửa trước cửa sau đều đóng. Hắn luống cuống xô phải bàn thờ khiến ngọn đèn dầu đổ nghiêng, tắt ngấm. Giao tranh trong bóng tối đương nhiên ai thông thuộc địa hình người ấy thắng. Chỉ nghe thanh âm bàn ghế đổ, thanh âm bình bịch hừ hự, rồi tiếng “đại ca” nấc nghẹn:

- Tụi mày đâu, cứu tao…

Hai tên đồng bọn bên ngoài chắc đã nghe. Mở cửa, mở cửa… tiếng hét hò hăm dọa kèm theo tiếng dộng cửa rầm rầm, gấp gáp. Ông Sáu buông tên “đại ca” vừa bị đánh ngất, lạng lại gần cửa, bất thần giật chốt. Cửa bật mở. Thằng co chân đạp suýt chút nhào luôn vô trong, may gượng lại được. Giọng ông Sáu bình tĩnh, lạnh băng:

- Ba thằng trong này tao cho đi… chầu ông vải hết rồi. Tụi mày có muốn theo thì vào đây luôn, tao tiễn…

Hai ông “thảo khấu” khựng người như xe thắng gấp, nhìn nhau. Không ai bảo ai, 4 cái chân đồng loạt thụt lùi, thụt lùi, rồi nhất tề… quay lưng chạy! Liệu chừng chạy đã hơi xa chúng quay lại, buông một câu vớt vát: Ông đợi đấy, tụi này không cho qua đâu…. Chờ chúng khuất bóng ông Sáu mới quay người tập tễnh bước vào trong, mò mẫm châm lại ngọn đèn. Ánh sáng bùng lên soi rõ cảnh đổ bể ngổn ngang cùng một bên chân ông máu chảy loang từ vết chém bằng mã tấu. Nhăn nhó vì đau, ông ngồi thụp xuống, xé áo tự băng vết thương cho cầm máu. Xong đâu đó mới quay người gọi:

- Thằng Thanh đâu? Ra giúp tao trói mấy thằng ôn đây lại rồi đi báo công an. Mau lên, kẻo để lâu lỡ chúng nó chết thì phiền…

6.
Tòa xử tên Lâm “mãi lộ” cùng đám đàn em các tội danh: cướp đường có tổ chức, xâm nhập gia cư bất hợp pháp còn mang theo hung khí, cố ý gây thương tích và v.v… Nhân chứng vật chứng đầy đủ. Ông Sáu đã vận động được đám lái xe từng bị Lâm thu “mãi lộ” đồng ra tòa làm nhân chứng. Án chồng án. Kết cục cả đám chia nhau gần 30 năm tù ở, riêng “đại ca” Lâm lãnh phần 15 năm. Đám đàn em trốn thoát bị phát lệnh truy nã, chờ bắt được xử sau. Nghe bảo sau song sắt nhà tù, “đại ca” vẫn mạnh miệng hăm: chờ ra tù sẽ tìm ông Sáu “đòi nợ”! Ông Sáu Gầm nghe tin bật cười: Thằng lo xa dữ, nó ra được tù chắc gì… tao còn sống mà đòi?

Ai cũng nghĩ vậy. Nhưng mọi người đã lầm, kể cả ông Sáu.

*
Một buổi chiều tháng 5, gió Nam Cồ thổi qua đèo từng đợt khô rông rốc. Ông Sáu đóng cửa đi lấy hàng, về tới chân đã thấy lưng đèo khói cuộn tro bay mù mịt. Gì vậy? Ông Sáu lật bật vào số 2 chiếc xe máy cà tàng ép ga bươn nhanh lên dốc. Qua khúc cua ngoặt cuối cùng, trước mắt ông lù lù bày ra cảnh tượng không thể nào tin nổi: chỗ trước kia là cái quán bây giờ trống trơ, ngổn ngang một đống tro tàn. Đó đây vẫn còn những thanh rui dầm, cột kèo còn ngun ngún cháy. Đám bạn làm rẫy xung quanh – có cả thằng Tí “chuột” đang xúm đen xúm đỏ loay hoay, mặt mày ai cũng đen nhẻm vì chữa lửa. Ông Sáu đứng lặng.

Bất động hồi lâu, ông quay lại, gượng cười với những “người anh em” cũng đang lặng lẽ nhìn ông với vẻ cảm thông. Thôi, chúng đốt thì mình… chịu khó cất lại thôi. Biết sao bây giờ…

Đêm. Cột võng nằm giữa lưng đèo bên đống tro than từng là nhà vẫn còn âm ỉ cháy, ông Sáu căng đầu tính toán những chuyện ngày mai ngày mốt sẽ phải làm. Trước tiên nhờ người phụ dọn đống đổ nát, sau đó lên rừng đốn gỗ, cắt tranh… Lại bắt đầu mọi thứ từ con số 0. Không sao, lính mà, nhọc nhằn chút rồi cũng qua thôi! Ông Sáu yên tâm nhắm mắt thiếp đi trong tiếng lá rừng xao xác, khi trên đầu từng đợt gió Nam khuya đang lũ lượt tràn về…

Nguốn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 19

Bài viết liên quan

Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng
Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm