TIN TỨC

Dù đi bất cứ nơi nào, tôi vẫn lang thang trên đường Cầu Đất

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-12 07:37:48
mail facebook google pos stwis
2838 lượt xem

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

"Tôi không được học hành nhiều, không có điều kiện thành nhà thơ. Dù tôi biết mình ba vạ bát nháo, nhưng tôi có bản gốc thi sĩ".

Đang định lén ngắm rồi “bắt quả tang” Thanh Tùng đang làm... người giữ xe cho một tiệm (của con anh) trong cái ngõ đường Phạm Ngọc Thạch - Sài Gòn thì anh phát hiện tôi trước, kêu ầm lên: “Bà khôn quá. Đất nước này bao nhiêu chỗ ngon bà chiếm lĩnh, mấy ông hay bà viết sạch.

Bọn loi choi đại học báo chí với tiến sĩ bây giờ viết gì? Mười năm nữa thôi là nó biết gì đám văn nghệ sĩ này nữa mà viết...”.

Vừa loay hoay chỉ chỗ để xe cho khách anh vừa nói oang oang, chả ý tứ gì. Xong việc ngoài cửa, anh mời tôi vào bàn tiếp khách, thật ra là cái bàn sát cửa để anh còn ngó ra trông xe, rồi chép miệng: “Mà thôi. Thời thế nào, tôi thấy bà vẫn chăm chỉ làm việc của bà là được”.

(Phải nói tí “lịch sử” để hiểu vì sao chúng tôi ăn nói với nhau kiểu bè bạn này: Dù ít gặp nhưng biết nhau từ khi còn trẻ, thời bắt đầu say văn thơ viết lách ở Hải Phòng trong sáng và bom đạn. Hơn nữa, thời kỳ ở Hải Phòng, cả nhà tôi thấy anh đến là... hết vía.

Vì Thanh Tùng chơi thân, trong nhóm “đàn đúm” với người anh cả của tôi. Anh tôi là câu chuyện điển hình về một người thông minh, hiền hậu nhưng đã bị rượu hủy hoại cả cuộc sống).

  • Ông lang thang đi như ngựa, giờ trông xe một chỗ có buồn không?

Con thuê. Nó là giám đốc công ty. Từ chỗ khố rách áo ôm mà nó vào đây làm ăn giỏi, mua được nhà 12 tỉ đồng. Nói cho bà biết, tôi ăn tàn phá hại. Bà uống nước đi. Tôi không nước chỉ rượu. Bỏ uống sao làm được việc.

Bà hỏi về thời Hải Phòng à? Chả biết bà quê đâu, tôi Nam Định ra Hải Phòng năm 1954-1955. Hải Phòng với tôi đặc biệt lắm, nơi đẻ ra thơ. Tức là cấy vào đất tâm hồn anh, mọc lên hoa lá là thơ. Tôi cũng như bà, yêu Hải Phòng là đúng. Con người cùng quẫn lao động cực nhọc. Dạo vào đây kiếm sống không nhớ Nam Định. Nhớ Hải Phòng. Tôi đã bón đất Hải Phòng bằng mồ hôi tôi.

Tôi từng đào hồ quanh Quần Ngựa từ lớp 10 đi lao động, bốc vác cảng, thợ sắt đóng tàu không số, đẩy xe goòng than cho nhà máy điện, bốc vác ximăng. Tôi làm qua hầu như tất cả nhà máy Hải Phòng, thủy tinh, cơ khí kiến thiết... Bà yên trí uống nước đi, đừng đá đổ chai rượu của tôi để dưới chân ghế bà.

Gắn bó lao động, hằng ngày nhớ thương là đúng. Nhớ Hải Phòng sau trận bom, tôi đi bới cứu người bị vùi dưới nhà đổ, xe chở kìn kìn suốt đêm máu chảy. Dù mai đây đi bất cứ nơi nào, tôi vẫn như đang lang thang trên phố Cầu Đất.

  • Ông nói ông bón mồ hôi rồi nở ra cái gì?

Hồi đó có Văn học công nhân do Hội Nhà văn mở. Tôi không đảng viên, ông già tôi “phu lít” giàu có Nam Định, ai cho vào. Đại học cũng không được. Cái thời 1958-1959 nó thi lý lịch chứ không học. Đi làm công nhân kiếm sống và từ thực tế đó sáng tác.

Hai lần giải nhất của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn. Hồi đó cỡ Xuân Diệu chấm chứ không như bây giờ. Chế Lan Viên, Tô Hoài, Kim Lân thì chấm văn. Vừa lao động vừa viết nó vất vả thế nào. Chiến tranh đầu mình bom đạn, lên ụ súng nóc nhà bắn máy bay. Lúc ấy 30 tuổi là cùng, sao không tham gia? Giấy không có, báo động đêm không dám bật đèn, nhiều bài thơ viết trong bóng tối. Đi làm xé giấy bao ximăng cho túi mẩu bút chì, có khi gạch viết lên miếng tôn. Chở gạch xây nhà, mẩu gạch viết lên tấm gỗ hậu xe bò.

Bà hỏi không sợ vứt thơ vung vãi khắp nơi sao? Thì mất nhiều chứ. Nhưng nhớ được. Có lúc vừa đi vừa lẩm bẩm, chứ tôi không ngồi kỳ công. Ngay bây giờ cũng vừa làm thơ vừa... để ý trông xe.

  • Thì xuất thần vậy mới là thơ hay. Khổ thế ông không thấy nản à mà còn say sưa?

“Chả biết là gì nhưng vất vả lắm. Trong người tôi nó có một nhà thơ rồi. Bị làm. Nếu tôi có là người Mỹ hay Pháp, chắc vẫn làm, đó là số mệnh. Dám chiến đấu vượt khó khăn như thế chứ, khổ thế vẫn mơ mộng được. Có mơ mộng mới gọi là thơ. Từ sự thật cất lên nhưng phải mơ mộng.

Tôi đầm mình trong sự thật của công nghiệp, có chiến tranh, vừa máu xương vừa mồ hôi. Anh ở đất nước này. Hải Phòng trung dũng kiên cường, thơ phải thế nào. Mỗi ngày có lúc 1, 2 trận bom, từ hạm đội 7 của chúng nó vào, lúc về còn thừa chưa hết bom nó cũng thả.

Thơ, văn chương lúc đó khó khăn, có giá trị. Đêm đêm khuya vắng, đài có “Tiếng thơ” bà Tuyết ngâm (NSND Trần Thị Tuyết), có đêm đói lả, nghe mà lấy lại tinh thần. Ít ra phải đánh giá người làm văn học chiến tranh chứ đừng kiểu không cần biết chúng mày là ai.

Tôi khó khăn, mẹ mất, thằng em điên, phải về “lấy tiền một lần” rồi cứ như người chưa từng tham gia gì, không có lương bổng. “Một cục” đợt đầu được ít lắm, đó là năm 1990, lúc tôi 55 tuổi rồi. Sống bằng gì hả? Hai con. Ra vỉa hè thu mua băng cassette. Công an tịch thu vì Luật bản quyền gì đó. Sang băng nhạc vàng.

Trường ca Hải Phòng đã có 200 câu rồi, Vào Sài Gòn, tôi vẫn ủ mưu viết một cái Trường ca Phương Nam. Đã được mấy trăm câu, để đấy vì chưa đi hết được nơi muốn đi.

  • Nghe ông nói từ lâu mà chưa xong cơ à?

Cứ muốn thêm, mà chưa đi được. Vào cái việc này, con kinh doanh, tôi quản lý, nhân viên hỏi kho, dụng cụ spa, nguyên liệu, kem... không có người lo không được. Tôi phụ với cậu bảo vệ trông xe khi nó phải chạy việc. Thèm đi lắm, nhưng bây giờ có cho đi cũng chịu. Không có quản lý không được.

Ối giời, bà hỏi tổng cộng tác phẩm ấy à, tôi ứng tác nữa sao nhớ hết? Mà nhớ làm gì, mình làm cho mình. Thì đồng ý với bà, tôi nói về Thời hoa đỏ vậy. Nó là một tác phẩm lãng mạn hoàn toàn, không nói chiến tranh yêu nước, chỉ là tình yêu trai gái. Ngày ấy nó thế, những chuyện chiến đấu sản xuất đưa vào thơ thiên hạ cũng thích, hợp với cuộc sống lúc đó (“Tôi ôm em và ôm cả cây súng của em” - Nguyễn Đình Thi). Tình yêu đơn thuần hầu như không có.

Thời hoa đỏ được người ta thích vì đó là tình yêu lãng mạn bị dồn nén vắng bóng lâu ngày, bay bổng vượt trên đời sống. Khi yêu bất kể khó khăn, tình yêu là hiến dâng, không được thua gì cả, chỉ là yêu nhau. Tôi viết nó những năm bom đạn nhất, tự “biên tập” vì thấy chắc không ai in, bỏ ngăn kéo. Hằng ngày vẫn đi quai búa.

  • Được rồi, giờ ông nghe tôi đọc nhé: “Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao - Anh nắm tay em dọc con đường vắng... Mỗi mùa hoa đỏ về - Hoa như mưa rơi rơi - cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi - như máu ứa một thời tuổi trẻ... Anh đâu buồn mà chỉ tiếc - Em không đi hết những ngày đắm say...”. Ông Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc nhỉ?

Bà nên nhớ tôi là lãng mạn ảnh hưởng Pháp, học tiếng Pháp từ bé. Thơ Pháp nhất thế giới, thời lãng mạn nó hay lắm. Siêu thực, hậu hiện đại nọ kia là thời nó ghét thơ rồi. Thời lãng mạn nó ghê lắm.

Ông Phạm Ngọc Cảnh “giữ gôn” trang thơ Văn Nghệ Quân Đội thời đó. Về nhà tôi chơi, đọc bài tôi bỏ ngăn kéo. Là thi sĩ nên ông nhiệt huyết, lên tàu đi Hà Nội còn bỏ xuống để chép bài thơ đem in. Như một tiếng nổ. Không ai làm gì tôi cả. Ông Cảnh bị ra khỏi ban Thơ. Ông là bộ đội, lại về với kịch chèo, sau xuất bản in bài thơ đó trong tập 99 bài thơ tình. Ông Đình Bảng theo dòng chèo, sang Nga học, ông ấy phổ nhạc.

Mà bà hỏi nếu cho chọn thơ mình thì tôi chọn bài nào hả? Hoàng Cầm nhiều lắm nhưng tôi chọn Về Kinh Bắc. Đấy mới là thơ. Nhiều câu hay ngang Kiều. Ông ấy làm thơ hay vào loại nhất nước mình. Còn thơ tôi, tôi không chọn cái gì, dù bạn bè nhiều lắm, có lần nghe giới thiệu đây nhà thơ “Thời hoa đỏ”, người xung quanh như... bị điện giật. Không phải khiêm tốn đâu. Đời tôi tạm vẽ ra là vào Hội Nhà văn vì là công nhân làm thơ.

Tôi không được học hành nhiều, không có điều kiện thành nhà thơ. Dù tôi biết mình ba vạ bát nháo, nhưng tôi có bản gốc thi sĩ. Một lần gặp Xuân Diệu, tôi đọc ông nghe câu thơ tả cô thợ sơn: “Ngực đầy như tương lai / Quét nắng lên thân tàu”, ông khen “cậu có dáng dấp thi sĩ”. Thời ấy được cỡ Xuân Diệu khen câu thế là ghê lắm, những năm 1970. Dạo tôi quản lý quán rượu Văn ở Hải Phòng, chỉ trí thức đến uống vì vào đấy mới hợp chuyện. Tôi chơi với ông anh bà ở đấy.

  • Những gì tôi biết về ông: kẻ lang thang, đàn đúm, rượu chè phát sợ. Có nhất thiết phải vô kỷ luật thế mới ra thơ không, sao nhiều ông làm ra lập dị phát gớm? Ông nói coi!

Tôi làm gì mà bà bảo tôi vô kỷ luật? Cẩn thận và nghiêm túc, chưa bao giờ bị ai chê nhá. Làm một bài thơ trọn vẹn phải tính kỷ luật cao. Phải hay. Mà hay thì khổ lắm, tính toán chữ nghĩa cẩn thận.

Bà biết niêm luật của thơ Đường chứ gì? Ghê thế mà cũng chỉ còn vài trăm bài sống còn lại. Mà đâu như... kiểm toán được. Chúng ta có Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan... - những người có thiên bẩm thi sĩ, chứ ai ngồi tính mà ra được những câu “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”... Vốn ngôn ngữ phải siêu, vì chữ trong thơ còn hơn cả sự chính xác. Thơ không có chữ nữa là thôi.

  • Ông yêu Sài Gòn thế nào?

Úi giời. Sài Gòn sao không thích? Nó chỉ thiếu một cái lạnh thôi. Tôi thích Sài Gòn tự do. Trong trường ca, tôi viết “Gió tự do thổi rộng mặt đường / Nắng vắt ra từ trái xoài thơm”. Con người không soi mói, khó chịu, hồn nhiên dễ tin. Đáng yêu lắm.

  • Giờ đến lúc hỏi riêng tư đây này: cuộc sống ông thế nào? Ông cưới mấy lần, nay còn ở với bà nào không?

Ba bà vợ, giờ không còn ở với bà nào. Một thi sĩ lãng mạn, bám vào con. Bà cũng biết thời đại này dù con có hiếu, người ta cũng không thể nuôi được nhau. Nuôi đây không phải là cơm. Nuôi phần hồn mới nặng.

Nhu cầu con người ghê gớm miên man, siêu thị triệu mặt hàng cũng không đủ. Nhà của con 5 tầng, đàng hoàng tử tế, mà tôi lại muốn mình vạ vật nằm đường như Cao Minh Trai để sinh ra thơ (Cao Minh Trai là bạn thơ Hải Phòng của chúng tôi, say thơ say rượu không thiết gì tiền bạc, sống vạ vật đến lúc mất).

Thôi bà đừng đòi đi về vội. Nghe tôi đọc một bài về Hải Phòng cho bà nghe. Bài Hải Phòng lúc ra đi.

Mai tôi đi rồi

tôi có khóc đâu mà gió ướt

Mà nắng rát lên tôi mặn chát

Mai tôi đi rồi

Để lại đây tiếng búa

Khắc vào hồn phố...”.

Người ta sẽ hát Thời hoa đỏ được bao lâu nữa? Anh có là nhân vật gì ghê gớm để nổi tiếng trong xã hội không có trí nhớ này? Tôi không quan tâm. Bởi biết đó không chỉ là chuyện thơ văn, bao nhiêu người vĩ đại rồi cũng chịu quên lãng.

Cũng không phải chuyện giới showbiz đầy nhố nhăng nổi đó chìm đó. Anh là dấu ấn Hải Phòng lam lũ, can đảm và tài hoa say đắm một thời, dù bây giờ cũng là một thành phố chẳng thiếu chi mọi chuyện, nhiều hoa khôi hoa hậu, dù có thời báo chí nước ngoài gọi nó là “thành phố bị... bỏ quên trong Mở cửa”.

Anh là tính cách người độc đáo, là câu chuyện vật lộn sống đủ khổ mà không mất say mê cao đẹp... máu ứa một thời tuổi trẻ, như màu phượng đỏ. Thế chẳng đủ để ta yêu và tiếc mãi sao?

Thanh Tùng mất ở tuổi 83 (tháng 9-2017), tôi không đến kịp tiễn đưa anh. Nhưng trong âm thầm nhớ bạn bè, tôi luôn nghĩ Thanh Tùng chẳng thể đi đâu. Anh đã đạt được ước mơ như Cao Minh Trai. Và đám thi nhân điên dại ấy cùng ông anh tôi vẫn mãi bên nhau lang thang trên phố Cầu Đất

Nguồn: https://tuoitre.vn/
____________

Mời nghe ca khúc THỜI HOA ĐỎ
 

Thơ:  Thanh Tùng

Nhạc: Nguyễn Đình Bảng

Thể hiện: Nguyễn Lê Trung

Clip: Nguyên Hùng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm