TIN TỨC

Mẹ tôi đi về phía mặt trời lên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-05 22:49:28
mail facebook google pos stwis
2994 lượt xem

 

Nguyễn Văn Ngọc

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Mẹ tôi sinh ra trên vùng đất bên cạnh dòng sông Lam. Con sông hiền hòa, bao dung, nối đôi bờ Hà Tĩnh và Nghệ An. Con sông dài dằng dặc trong ký ức mỗi con người ở vùng quê này. Con sông một thời trầm tư lặng lẽ trôi, con sông ám ảnh, thu về bao cảnh đời cơ cực của miền quê dưới thời thực dân Pháp nô lệ.

Thời kỳ 1930-1931 và 1936- 1939, vùng quê Nghi Xuân, Nghi Lộc là một trong những điểm nóng của lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp ở  địa bàn tỉnh Nghệ An. Ngày 1/5/1930, ngày quốc tế lao động, mẹ hòa vào dòng người biểu tình ngược lên thành phố Vinh, lúc đó mẹ tôi bước sang tuổi 24. Thời kỳ 1936-1939, mẹ tiếp tục tham gia phong trào đấu tranh cách mạng. Từ cái nôi, cội nguồn lịch sử đó, mẹ kết duyên thành vợ chồng với ông Lý Dung trong làng mẹ. Ông Lý Dung có tham gia gây dựng phong trào đấu tranh ở vùng quê này. Mẹ tôi lấy tài liệu giấu trong nhà mẹ do các chiến sĩ gửi lại đó, rồi đem đi ấn loát ở địa điểm bí mật. Lúc thực dân Pháp truy quét gắt gao những người cách mạng, mẹ lại đi đò sang bên kia sông, mẹ sống trong sự đùm bọc của người dân Hà Tĩnh. Khi thấy lặng yên bên bờ sông quê mẹ. Mẹ lại sang đò về quê. Con đò đi qua về lại trong không gian trầm mặc, buồn thảm của thời kỳ lịch sử, những năm tháng mà cuộc sống của người dân lầm than dưới ách thống trị của Pháp. Mỗi khi xuôi đò sang sông, mẹ lặng đi trong những câu hò, câu hát chở nỗi buồn man mác, chở những số phận kiếp người nô lệ đi về phía dòng sông, để tan vào nước sông Lam. Mẹ đi chợ sáng, chợ chiều, rồi cải trang bằng nhiều trang phục bên ngoài dáng hình của mẹ, mẹ đi hun hút vào đêm, băng qua những cánh đồng quen thuộc trong không gian mùa đông tê lạnh. Đầu năm 1931, người dân vùng quê này giết tên tri huyện: Tôn Thất Hoàn, là một tri huyện gian ác nhất trong xứ. Những trận đàn áp bắt bớ diễn ra liên tiếp sau sự kiện đó. Những người bị tình nghi tham gia cuộc vây bắt đó bị gom về cây đa Chính Vị thuộc xã nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An, nơi có đền Chính vị (sau này là di tịch Lịch sử  văn hóa Quốc gia). Thực dân Pháp hành quyết tại nơi ấy 22 chiến sĩ cách mạng, trong đó có đồng chí Nguyễn Phong Sắc, bí thư xứ ủy Trung kỳ, giặc Pháp còn thiêu hủy 320 ngôi nhà ở Song Lộc – Tân Hợp. Mẹ tôi lúc ấy nhanh chân chạy vào một nhà dân bên dòng sông Lam. Một tốp lính ào tới, may mà trong khoảng khắc ngắn ngủi đó, phía sau nhà, con rắn độc bất ngờ lao ra, mấy thằng lính không chú ý việc bắt bớ, cứ lao vào đập rắn. Mẹ tôi chớp lấy thời cơ, nhanh chân lách nhẹ cửa sau lao ra và chạy miết về bên kia làng khác, trong ánh đêm bắt đầu đổ xuống. Mẹ lại gồng gánh đi về phía đó. Mẹ  đi về phía mặt trời lên. Nơi đó có ánh sáng cách mạng, có anh em đồng chí đang âm thầm gieo những hạt giống cách mạng. Mẹ có thời gian ở tù. Mẹ ra tù và lại trở về bên dòng Lam, xuôi dòng sang bên kia, sống tạm những tháng ngày bên đó. Ông Lý Dung hướng dẫn mẹ cách tiệp cận với những con người tham gia hoạt động đấu tranh; cách chuyển giao tài liệu bí mật. Sau một thời gian, phong trào lắng xuống để chuẩn bị cho một phong trào khác. Một mùa thu, chồng mẹ tôi đột ngột qua đời vì bệnh đau tim. Lòng mẹ nặng trĩu đau buồn. Chiều chiều, mẹ lại trở ra sông Lam. Sông Lam thở dài trong buổi chiều đổ xuống như lòng mẹ đau đáu thận phận một con người. Ký ức về người chồng lại hiện trên dòng sông. Bóng dáng con đò, dòng sông vắt qua cuộc đời mẹ tôi…

Mẹ thường qua bên Hà Tĩnh để ấn náu, vì bên ấy có mấy người phụ nữ trong làng lấy chồng về  Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Lúc thực dân Pháp dò xuống vùng đó, mẹ lại trở về bên này. Mỗi lần đi qua cánh đồng, tôi đến thắp hương trên hai ngôi mộ, những ngôi mộ của cố ông, cố bà tôi, những người đã từng tham gia hoạt động cách mạng. Người mẹ sinh ra mẹ tôi là chị ruột ông Võ Văn Đồng. Ông Võ Văn Đồng từng làm bí thư huyện ủy Nghi Lộc, Giám đốc bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh. Ngôi mộ vợ ông Đồng cũng nằm bên cạnh chồng. Ông Đồng là người nâng đỡ dìu dắt mẹ tôi trong thời gian mẹ  tham gia đấu tranh cách mạng thời kỳ 1936-1939 ở vùng quê này. Vợ ông Đồng là người Thanh Chương,  nơi miền quê được gọi là lò lửa cách mạng. Hồi ấy, ông Đồng thường lui tới cha mẹ vợ ông Đồng để họp chi bộ, bàn kế hoạch đấu tranh. Và nơi đây trở thành địa điểm quan trọng của một tổ chức cách mạng trên đất Thanh Chương. Sau một thời gian, duyên của ông Đồng bén với cô gái trong gia đình. Rồi người con gái đó theo chồng về miền đất Cửa Hội. Mẹ tôi cô đơn dằng dặc. Mẹ gánh nỗi cô đơn trên đôi vai đi đến với dòng sông, đến với con đường quen thuộc ra phía chợ. Bờ vai của chồng, bờ vai để mẹ tựa vào đó mà ngược xuôi đi về không gian có mặt trời lên, có ánh bình minh của cách mạng. Mẹ thui thủi một mình trong đêm vắng, thân cò trên đồng bãi gieo hạt lúa để có hạt gạo; mùa về, mẹ gom từng hạt gạo để dành, thỉnh thoảng làm bữa cơm chập choạng tối cho anh em trong tổ chức ăn tạm, để họ kịp lao vào bóng tối tiếp tục hoạt động. Mẹ tôi là một Đảng viên, thường lui tới những cơ sở bí mật của cách mạng được gây dựng tại huyện Nghi Lộc trong thời kỳ đó.

Ở làng bên kia, có một người phụ nữ rất đẹp, người Hà Tĩnh bén duyên thành vợ chồng với một người trong làng. Bà Hương xe duyên mối lái thành công cho mẹ tôi về với ông Nghè Mai, làm vợ một tiến sĩ danh giá của thời kỳ cuối của chế độ phong kiến. Mùa thu ấy, mẹ qua đò cuộc đời lần 2. Mẹ đã một đời chồng rồi mà chưa có con. Sắc đẹp mẹ  luôn gìn giữ. Mùa đông giá lạnh, vậy mà nước da mẹ tôi vẫn hồng hào. Có lẽ trời phú cho màu da thuộc giống nòi. Ông Nghè Mai mê lắm. Được bước vào làm dâu trong một gia đình của tri thức phong kiến, mẹ mừng lắm. Trong một lần qua sông với mẹ, tôi được nghe mẹ kể một mảnh đời bên kia sông. Có lần khi trở về thăm nhà, mẹ mang cả bài thơ: “Giang Đình hữu cảm” của ông Nghè Mai, sau này được lưu giữ tại Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia Đại thi hào Nguyễn Du, Danh nhân văn hóa thế giới. Tiến sĩ Nguyễn Mai( 1876-1956), người xã Tiên Điền, tổng Phân Xá, huyện Nghi Xuân, Phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Nguyễn Mai là cháu họ bốn đời của Đại thi hào Nguyễn Du, đỗ cử nhân năm Canh Tý (1900), rồi đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904) năm Thành Thái thứ 16. Nhà ông Nghè Mai lúc nào cũng đông khách, chủ yếu là bạn thơ phú của chồng. Buổi sáng, dậy sớm để chuẩn bị tiệc trà cho chồng tiếp khách. Thời gian qua mau mà mẹ vẫn chưa có con. Mẹ tôi tự hào vì khi ra tù, chưa có nơi nương tựa cuộc đời, mẹ lại được sang bên kia sông kết duyên với một tri thức có tiếng tăm. Mẹ làm dâu ở xứ này, người ta đều khen mẹ nhiều. Nhưng rồi, mẹ không ở lại lâu dài bên kia dòng sông. Sau này, mẹ cũng không kể rõ lý do mẹ chia tay ông Nghè Mai. Nhắc lại mẹ chỉ thở dài và hướng khuôn mặt buồn về phía dòng sông.


Minh họa (Ảnh: Internet).

Đi về trên con đò dòng sông Lam, mẹ man mác nỗi buồn. Nhìn dòng nước trôi chầm chậm, mẹ  quặn đau nỗi lòng. Mẹ tên thật là Lưu Thị Cầu, thường gọi là bà Cư, sinh ra ở làng Xuân Giang, xã Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An. Làng Xuân Giang bây giờ nằm gần con đường mới, người ta đặt tên là con đường sinh thái. Phía trước mặt con đường là dòng sông Lam, sông có tự ngàn đời chảy qua vùng quê mẹ, dòng sông như dải lụa màu xanh ngọc bích, ôm lấy những con thuyền ngược xuôi qua cầu. Không gian ở nơi này thơ mộng lắm, các làng kế tiếp nhau, mặt hướng về dòng sông, làng vẫn lưu giữ được tên gọi như ngày xưa. Vẫn còn những vòm cây xanh như thuở ấy, mùa nắng những hàng cây vươn mình ra đón những làn gió biển, vòm cây rung rinh trong nắng hạ trong mỗi buổi sáng bình minh lên từ phía dòng sông.

Vòm cây bao bọc quanh làng, bao bọc lấy ngôi đền Chính Vị, ngôi đền của lịch sử oai hùng. Mùa đông, cây xanh bọc lấy làng, che gió lạnh, giữ ấm cho con người ở làng quê. Từ làng Xuân Giang thuở ấy, mẹ lại bước ra dòng sông đến với con đò quen thuộc để ngược xuôi về bên kia. Con sông lấp loáng ánh nắng như trải một lớp bạc trắng nhấp nhảy trên mặt nước, bên cạnh dòng sông là con đường sinh thái, chạy dài lên thành phố Vinh, chạy ra vùng bãi Lữ (Nghi Yên, Nghi Lộc) vươn dài về Diễn Châu. Tôi đi đâu xa về cũng muốn trở lại làng Xuân Giang của mẹ. Bạn bè từng sinh ra ở làng quê này, nay trưởng thành đi xa bao miền quê, luôn có nỗi nhớ làng, cứ nao nao hướng về nơi này, nhất là khi mùa hạ về chao nghiêng trên dòng Lam. Bao nhiêu kỷ niệm bạn bè một thuở cứ ùa về trong ký ức. Miền quê này, dung nạp nhiều yếu tố văn hóa, có phải chăng chịu ảnh hưởng của văn hóa một dòng sông tự ngàn xưa. Con người ở đây như dung nạp, neo về trong mình vẻ đẹp của văn hóa truyền thống. Con người vừa trữ tình vừa có cái gì đó quyết đoán; vừa nhẹ nhàng trữ tình như dòng sông nhưng lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Biết vượt lên những sóng gió cuộc đời, biết xử lý những tình huống éo le trong cuộc sống để giành lấy hạnh phúc.

Cha mẹ đặt tên cho mẹ tôi có phải vì duyên đời đã lặn vào tên mẹ. Mẹ lưu mãi trong đời như cánh cò bay qua bay lại trên cánh đồng làng quê. Mẹ lưu giữ trong đời hình ảnh những chiến sĩ cách mạng, những người đã hy sinh, những người còn sống sót sau cuộc biểu tình Xô Viết Nghệ Tĩnh. Mẹ đi về trong chênh vênh nghiêng ngả của dĩ vãng buồn đau với tình duyên. Trên đôi gánh mẹ, mẹ gánh đơn côi từ hai phía. Phía bên này cầu là quê hương thứ nhất, phía bên kia cầu là quê hương thứ 2. Hai phía đi về trong lòng mẹ. Mẹ lưu lại dòng sông trong đời mình, lưu lại cái niềm cầu mong có cây cầu bắc qua sông để nối hai miền quê thân yêu, ước cây cầu bắc qua sông  để con người của hai miền quê đi về trong không gian rộng dài, tuôn chảy của dòng sông từ ngàn đời.

Trở lại một ngày mùa hạ bên cây cầu mới Cửa Hội. Con đứng lặng trên cây cầu mới này mà ngổn ngang bao nỗi niềm. Nước chảy qua cầu trong xanh. Bóng mẹ trên con đò xưa lại ùa về trong ký ức qua cuộc đời huyền thoại của mẹ. Bóng dáng mẹ với đôi quang gánh ngược xuôi về chợ bên dòng sông, bóng mẹ đi về hướng mặt trời lên. Hồn mẹ neo đậu trên dòng sông này, sông ơi hãy đưa hồn mẹ về nơi chiếc cầu mới bắc qua sông để mẹ được đi về hai phía quê hương. Ở nơi đây, bây giờ đổi thay nhiều lắm, trước đây những ngày sống trong hòa bình, thỉnh thoảng mẹ ngồi hóng mát trên con đường sinh thái, để đón những con thuyền đánh cá trở về. Có lẽ thời gian sống với người chồng là tiến sĩ (thường gọi là ông Nghè Mai), mẹ tôi được tiếp nhận những nét đẹp về văn hóa con người Việt Nam qua thơ văn. Mẹ thuộc rất nhiều những bài dân ca xứ Nghệ, những câu hò, điệu ví neo đậu trên dòng sông. Nét sinh hoạt văn hóa ấy vắt hai bên dòng sông và đi vào đời sống tinh thần của con người ở nơi đây. Mẹ lớn lên trên cái nôi văn hóa ấy.

Cuộc sống dần trôi… đời người, số phận nhiều khi có sự giao thoa giữa thăng và trầm. Tưởng như đã bình yên, khi bước sang đò đời lần hai ở miền quê Hà Tĩnh, nào ngờ mẹ lại đơn côi trong ngôi nhà cũ của mình. Hai lần sang đò đời mà mẹ vẫn chưa có con. Dường như số phận người phụ nữ lận đận neo vào đời mẹ từ lâu rồi. Mẹ đơn chiếc làm bạn với đôi gánh, làm bạn với con đò bên sông. Nhưng mẹ không đơn côi vì mẹ lấy lại niềm vui công việc trong hoạt động xã hội. Đời mẹ đã bước ra từ những ngày gian khổ nhất, thời gian ở tù, trong những tình huống gay cấn nhất, tưởng như không thoát khỏi bàn tay của kẻ thù. Mẹ bước ra từ trong ánh bình minh ánh sáng cách mạng nên vững vàng hơn trong giông tố cuộc đời.

Mẹ qua đò đời lần thứ 3. Năm ấy, mẹ  kết duyên với một người trong làng, người đàn ông ấy là y sĩ Tây y. Người đàn ông ấy chính là cha tôi. Cha tôi rất chiều chuộng và yêu thương hai mẹ con. Ba lần đò, ba đời chồng mới có được một đứa con. Đôi gánh của mẹ mòn vẹt trên vai qua những chặng đường đời…

Thế nhưng ai biết được trước cuộc đời. Bất ngờ, cha tôi qua đời. Đời mẹ sao mà man mác buồn. Nước mắt mẹ qua hai lần đò đời trước chưa kịp ráo thì đến lượt những dòng nước mắt lại tuôn ra từ đôi mắt mẹ. Những giọt nước mắt nối nhau dài trong đời mẹ. Cõng trên lưng mẹ ba đời chồng, mẹ lại gánh cô đơn đi trong không gian bàng bạc của bóng đêm. Bây giờ có đứa con gái, người con duy nhất của mẹ. Tình yêu con của mẹ sâu thẳm, mênh mông biết nhường nào. Đứa con gái cứ chạy lon ton phía trước mặt mẹ  mỗi lần mẹ đi chợ về khi bóng trưa đổ dài xuống sân nhà.

Mẹ không còn bờ vai của người đàn ông, bờ vai thứ ba của đời mẹ. Nhưng mẹ lại có bờ vai của đứa con gái mẹ. Lòng mẹ tựa vào lòng con, con ở trong sâu thẳm của tâm hồn mẹ. Con lớn dần lên trên đôi vai gánh gồng của mẹ về phía chợ. Cuộc đời mẹ, ba lần qua đò đời. Bây giờ mẹ đã về bến đỗ bình yên của mẹ sau bao nhiêu bão tố của cuộc đời mẹ. Hôm mẹ được nhận huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, mẹ mừng lắm. Mẹ nhớ lại thật nhiều những câu chuyện về những người bạn trên đất quê này đã cùng mẹ tham gia hoạt động cách mạng trong những năm gian khó. Hình ảnh bà Xân, bà Thiu luôn lưu giữ mãi trong tâm trí mẹ tôi.

Một mùa đông sắp hết. Mẹ qua được mùa rét cóng ở miền quê này. Rét cắt da thịt. Rét làm da mẹ nhăn nheo, dịp đó về quê mẹ, cứ muốn ngồi bên bếp lửa đỏ giữa nhà. Mẹ đưa đôi bàn tay gầy guộc lên trên ngọn lửa. Bếp lửa hội tụ tình cảm sum vầy của gia đình, người quê hương. Bữa cơm giản dị với nồi khoai luộc và bát cà quê, bát canh rau ngót mẹ trồng quanh nhà. Tất cả vẫn còn nguyên sơ trong nhà mẹ. Mẹ lại kể về quãng đời cuộc đời mẹ. Mẹ kể trong tiếng khóc thầm mà lòng tôi đau nhói. Tôi nhớ về dòng sông, nơi có những con đò chở mẹ tôi qua sông. Mẹ gánh hai đầu miền quê có bóng dáng ba người chồng…

N.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm