TIN TỨC

Mẹ tôi đi về phía mặt trời lên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-05 22:49:28
mail facebook google pos stwis
3311 lượt xem

 

Nguyễn Văn Ngọc

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Mẹ tôi sinh ra trên vùng đất bên cạnh dòng sông Lam. Con sông hiền hòa, bao dung, nối đôi bờ Hà Tĩnh và Nghệ An. Con sông dài dằng dặc trong ký ức mỗi con người ở vùng quê này. Con sông một thời trầm tư lặng lẽ trôi, con sông ám ảnh, thu về bao cảnh đời cơ cực của miền quê dưới thời thực dân Pháp nô lệ.

Thời kỳ 1930-1931 và 1936- 1939, vùng quê Nghi Xuân, Nghi Lộc là một trong những điểm nóng của lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp ở  địa bàn tỉnh Nghệ An. Ngày 1/5/1930, ngày quốc tế lao động, mẹ hòa vào dòng người biểu tình ngược lên thành phố Vinh, lúc đó mẹ tôi bước sang tuổi 24. Thời kỳ 1936-1939, mẹ tiếp tục tham gia phong trào đấu tranh cách mạng. Từ cái nôi, cội nguồn lịch sử đó, mẹ kết duyên thành vợ chồng với ông Lý Dung trong làng mẹ. Ông Lý Dung có tham gia gây dựng phong trào đấu tranh ở vùng quê này. Mẹ tôi lấy tài liệu giấu trong nhà mẹ do các chiến sĩ gửi lại đó, rồi đem đi ấn loát ở địa điểm bí mật. Lúc thực dân Pháp truy quét gắt gao những người cách mạng, mẹ lại đi đò sang bên kia sông, mẹ sống trong sự đùm bọc của người dân Hà Tĩnh. Khi thấy lặng yên bên bờ sông quê mẹ. Mẹ lại sang đò về quê. Con đò đi qua về lại trong không gian trầm mặc, buồn thảm của thời kỳ lịch sử, những năm tháng mà cuộc sống của người dân lầm than dưới ách thống trị của Pháp. Mỗi khi xuôi đò sang sông, mẹ lặng đi trong những câu hò, câu hát chở nỗi buồn man mác, chở những số phận kiếp người nô lệ đi về phía dòng sông, để tan vào nước sông Lam. Mẹ đi chợ sáng, chợ chiều, rồi cải trang bằng nhiều trang phục bên ngoài dáng hình của mẹ, mẹ đi hun hút vào đêm, băng qua những cánh đồng quen thuộc trong không gian mùa đông tê lạnh. Đầu năm 1931, người dân vùng quê này giết tên tri huyện: Tôn Thất Hoàn, là một tri huyện gian ác nhất trong xứ. Những trận đàn áp bắt bớ diễn ra liên tiếp sau sự kiện đó. Những người bị tình nghi tham gia cuộc vây bắt đó bị gom về cây đa Chính Vị thuộc xã nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An, nơi có đền Chính vị (sau này là di tịch Lịch sử  văn hóa Quốc gia). Thực dân Pháp hành quyết tại nơi ấy 22 chiến sĩ cách mạng, trong đó có đồng chí Nguyễn Phong Sắc, bí thư xứ ủy Trung kỳ, giặc Pháp còn thiêu hủy 320 ngôi nhà ở Song Lộc – Tân Hợp. Mẹ tôi lúc ấy nhanh chân chạy vào một nhà dân bên dòng sông Lam. Một tốp lính ào tới, may mà trong khoảng khắc ngắn ngủi đó, phía sau nhà, con rắn độc bất ngờ lao ra, mấy thằng lính không chú ý việc bắt bớ, cứ lao vào đập rắn. Mẹ tôi chớp lấy thời cơ, nhanh chân lách nhẹ cửa sau lao ra và chạy miết về bên kia làng khác, trong ánh đêm bắt đầu đổ xuống. Mẹ lại gồng gánh đi về phía đó. Mẹ  đi về phía mặt trời lên. Nơi đó có ánh sáng cách mạng, có anh em đồng chí đang âm thầm gieo những hạt giống cách mạng. Mẹ có thời gian ở tù. Mẹ ra tù và lại trở về bên dòng Lam, xuôi dòng sang bên kia, sống tạm những tháng ngày bên đó. Ông Lý Dung hướng dẫn mẹ cách tiệp cận với những con người tham gia hoạt động đấu tranh; cách chuyển giao tài liệu bí mật. Sau một thời gian, phong trào lắng xuống để chuẩn bị cho một phong trào khác. Một mùa thu, chồng mẹ tôi đột ngột qua đời vì bệnh đau tim. Lòng mẹ nặng trĩu đau buồn. Chiều chiều, mẹ lại trở ra sông Lam. Sông Lam thở dài trong buổi chiều đổ xuống như lòng mẹ đau đáu thận phận một con người. Ký ức về người chồng lại hiện trên dòng sông. Bóng dáng con đò, dòng sông vắt qua cuộc đời mẹ tôi…

Mẹ thường qua bên Hà Tĩnh để ấn náu, vì bên ấy có mấy người phụ nữ trong làng lấy chồng về  Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Lúc thực dân Pháp dò xuống vùng đó, mẹ lại trở về bên này. Mỗi lần đi qua cánh đồng, tôi đến thắp hương trên hai ngôi mộ, những ngôi mộ của cố ông, cố bà tôi, những người đã từng tham gia hoạt động cách mạng. Người mẹ sinh ra mẹ tôi là chị ruột ông Võ Văn Đồng. Ông Võ Văn Đồng từng làm bí thư huyện ủy Nghi Lộc, Giám đốc bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh. Ngôi mộ vợ ông Đồng cũng nằm bên cạnh chồng. Ông Đồng là người nâng đỡ dìu dắt mẹ tôi trong thời gian mẹ  tham gia đấu tranh cách mạng thời kỳ 1936-1939 ở vùng quê này. Vợ ông Đồng là người Thanh Chương,  nơi miền quê được gọi là lò lửa cách mạng. Hồi ấy, ông Đồng thường lui tới cha mẹ vợ ông Đồng để họp chi bộ, bàn kế hoạch đấu tranh. Và nơi đây trở thành địa điểm quan trọng của một tổ chức cách mạng trên đất Thanh Chương. Sau một thời gian, duyên của ông Đồng bén với cô gái trong gia đình. Rồi người con gái đó theo chồng về miền đất Cửa Hội. Mẹ tôi cô đơn dằng dặc. Mẹ gánh nỗi cô đơn trên đôi vai đi đến với dòng sông, đến với con đường quen thuộc ra phía chợ. Bờ vai của chồng, bờ vai để mẹ tựa vào đó mà ngược xuôi đi về không gian có mặt trời lên, có ánh bình minh của cách mạng. Mẹ thui thủi một mình trong đêm vắng, thân cò trên đồng bãi gieo hạt lúa để có hạt gạo; mùa về, mẹ gom từng hạt gạo để dành, thỉnh thoảng làm bữa cơm chập choạng tối cho anh em trong tổ chức ăn tạm, để họ kịp lao vào bóng tối tiếp tục hoạt động. Mẹ tôi là một Đảng viên, thường lui tới những cơ sở bí mật của cách mạng được gây dựng tại huyện Nghi Lộc trong thời kỳ đó.

Ở làng bên kia, có một người phụ nữ rất đẹp, người Hà Tĩnh bén duyên thành vợ chồng với một người trong làng. Bà Hương xe duyên mối lái thành công cho mẹ tôi về với ông Nghè Mai, làm vợ một tiến sĩ danh giá của thời kỳ cuối của chế độ phong kiến. Mùa thu ấy, mẹ qua đò cuộc đời lần 2. Mẹ đã một đời chồng rồi mà chưa có con. Sắc đẹp mẹ  luôn gìn giữ. Mùa đông giá lạnh, vậy mà nước da mẹ tôi vẫn hồng hào. Có lẽ trời phú cho màu da thuộc giống nòi. Ông Nghè Mai mê lắm. Được bước vào làm dâu trong một gia đình của tri thức phong kiến, mẹ mừng lắm. Trong một lần qua sông với mẹ, tôi được nghe mẹ kể một mảnh đời bên kia sông. Có lần khi trở về thăm nhà, mẹ mang cả bài thơ: “Giang Đình hữu cảm” của ông Nghè Mai, sau này được lưu giữ tại Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia Đại thi hào Nguyễn Du, Danh nhân văn hóa thế giới. Tiến sĩ Nguyễn Mai( 1876-1956), người xã Tiên Điền, tổng Phân Xá, huyện Nghi Xuân, Phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Nguyễn Mai là cháu họ bốn đời của Đại thi hào Nguyễn Du, đỗ cử nhân năm Canh Tý (1900), rồi đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904) năm Thành Thái thứ 16. Nhà ông Nghè Mai lúc nào cũng đông khách, chủ yếu là bạn thơ phú của chồng. Buổi sáng, dậy sớm để chuẩn bị tiệc trà cho chồng tiếp khách. Thời gian qua mau mà mẹ vẫn chưa có con. Mẹ tôi tự hào vì khi ra tù, chưa có nơi nương tựa cuộc đời, mẹ lại được sang bên kia sông kết duyên với một tri thức có tiếng tăm. Mẹ làm dâu ở xứ này, người ta đều khen mẹ nhiều. Nhưng rồi, mẹ không ở lại lâu dài bên kia dòng sông. Sau này, mẹ cũng không kể rõ lý do mẹ chia tay ông Nghè Mai. Nhắc lại mẹ chỉ thở dài và hướng khuôn mặt buồn về phía dòng sông.


Minh họa (Ảnh: Internet).

Đi về trên con đò dòng sông Lam, mẹ man mác nỗi buồn. Nhìn dòng nước trôi chầm chậm, mẹ  quặn đau nỗi lòng. Mẹ tên thật là Lưu Thị Cầu, thường gọi là bà Cư, sinh ra ở làng Xuân Giang, xã Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ An. Làng Xuân Giang bây giờ nằm gần con đường mới, người ta đặt tên là con đường sinh thái. Phía trước mặt con đường là dòng sông Lam, sông có tự ngàn đời chảy qua vùng quê mẹ, dòng sông như dải lụa màu xanh ngọc bích, ôm lấy những con thuyền ngược xuôi qua cầu. Không gian ở nơi này thơ mộng lắm, các làng kế tiếp nhau, mặt hướng về dòng sông, làng vẫn lưu giữ được tên gọi như ngày xưa. Vẫn còn những vòm cây xanh như thuở ấy, mùa nắng những hàng cây vươn mình ra đón những làn gió biển, vòm cây rung rinh trong nắng hạ trong mỗi buổi sáng bình minh lên từ phía dòng sông.

Vòm cây bao bọc quanh làng, bao bọc lấy ngôi đền Chính Vị, ngôi đền của lịch sử oai hùng. Mùa đông, cây xanh bọc lấy làng, che gió lạnh, giữ ấm cho con người ở làng quê. Từ làng Xuân Giang thuở ấy, mẹ lại bước ra dòng sông đến với con đò quen thuộc để ngược xuôi về bên kia. Con sông lấp loáng ánh nắng như trải một lớp bạc trắng nhấp nhảy trên mặt nước, bên cạnh dòng sông là con đường sinh thái, chạy dài lên thành phố Vinh, chạy ra vùng bãi Lữ (Nghi Yên, Nghi Lộc) vươn dài về Diễn Châu. Tôi đi đâu xa về cũng muốn trở lại làng Xuân Giang của mẹ. Bạn bè từng sinh ra ở làng quê này, nay trưởng thành đi xa bao miền quê, luôn có nỗi nhớ làng, cứ nao nao hướng về nơi này, nhất là khi mùa hạ về chao nghiêng trên dòng Lam. Bao nhiêu kỷ niệm bạn bè một thuở cứ ùa về trong ký ức. Miền quê này, dung nạp nhiều yếu tố văn hóa, có phải chăng chịu ảnh hưởng của văn hóa một dòng sông tự ngàn xưa. Con người ở đây như dung nạp, neo về trong mình vẻ đẹp của văn hóa truyền thống. Con người vừa trữ tình vừa có cái gì đó quyết đoán; vừa nhẹ nhàng trữ tình như dòng sông nhưng lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Biết vượt lên những sóng gió cuộc đời, biết xử lý những tình huống éo le trong cuộc sống để giành lấy hạnh phúc.

Cha mẹ đặt tên cho mẹ tôi có phải vì duyên đời đã lặn vào tên mẹ. Mẹ lưu mãi trong đời như cánh cò bay qua bay lại trên cánh đồng làng quê. Mẹ lưu giữ trong đời hình ảnh những chiến sĩ cách mạng, những người đã hy sinh, những người còn sống sót sau cuộc biểu tình Xô Viết Nghệ Tĩnh. Mẹ đi về trong chênh vênh nghiêng ngả của dĩ vãng buồn đau với tình duyên. Trên đôi gánh mẹ, mẹ gánh đơn côi từ hai phía. Phía bên này cầu là quê hương thứ nhất, phía bên kia cầu là quê hương thứ 2. Hai phía đi về trong lòng mẹ. Mẹ lưu lại dòng sông trong đời mình, lưu lại cái niềm cầu mong có cây cầu bắc qua sông để nối hai miền quê thân yêu, ước cây cầu bắc qua sông  để con người của hai miền quê đi về trong không gian rộng dài, tuôn chảy của dòng sông từ ngàn đời.

Trở lại một ngày mùa hạ bên cây cầu mới Cửa Hội. Con đứng lặng trên cây cầu mới này mà ngổn ngang bao nỗi niềm. Nước chảy qua cầu trong xanh. Bóng mẹ trên con đò xưa lại ùa về trong ký ức qua cuộc đời huyền thoại của mẹ. Bóng dáng mẹ với đôi quang gánh ngược xuôi về chợ bên dòng sông, bóng mẹ đi về hướng mặt trời lên. Hồn mẹ neo đậu trên dòng sông này, sông ơi hãy đưa hồn mẹ về nơi chiếc cầu mới bắc qua sông để mẹ được đi về hai phía quê hương. Ở nơi đây, bây giờ đổi thay nhiều lắm, trước đây những ngày sống trong hòa bình, thỉnh thoảng mẹ ngồi hóng mát trên con đường sinh thái, để đón những con thuyền đánh cá trở về. Có lẽ thời gian sống với người chồng là tiến sĩ (thường gọi là ông Nghè Mai), mẹ tôi được tiếp nhận những nét đẹp về văn hóa con người Việt Nam qua thơ văn. Mẹ thuộc rất nhiều những bài dân ca xứ Nghệ, những câu hò, điệu ví neo đậu trên dòng sông. Nét sinh hoạt văn hóa ấy vắt hai bên dòng sông và đi vào đời sống tinh thần của con người ở nơi đây. Mẹ lớn lên trên cái nôi văn hóa ấy.

Cuộc sống dần trôi… đời người, số phận nhiều khi có sự giao thoa giữa thăng và trầm. Tưởng như đã bình yên, khi bước sang đò đời lần hai ở miền quê Hà Tĩnh, nào ngờ mẹ lại đơn côi trong ngôi nhà cũ của mình. Hai lần sang đò đời mà mẹ vẫn chưa có con. Dường như số phận người phụ nữ lận đận neo vào đời mẹ từ lâu rồi. Mẹ đơn chiếc làm bạn với đôi gánh, làm bạn với con đò bên sông. Nhưng mẹ không đơn côi vì mẹ lấy lại niềm vui công việc trong hoạt động xã hội. Đời mẹ đã bước ra từ những ngày gian khổ nhất, thời gian ở tù, trong những tình huống gay cấn nhất, tưởng như không thoát khỏi bàn tay của kẻ thù. Mẹ bước ra từ trong ánh bình minh ánh sáng cách mạng nên vững vàng hơn trong giông tố cuộc đời.

Mẹ qua đò đời lần thứ 3. Năm ấy, mẹ  kết duyên với một người trong làng, người đàn ông ấy là y sĩ Tây y. Người đàn ông ấy chính là cha tôi. Cha tôi rất chiều chuộng và yêu thương hai mẹ con. Ba lần đò, ba đời chồng mới có được một đứa con. Đôi gánh của mẹ mòn vẹt trên vai qua những chặng đường đời…

Thế nhưng ai biết được trước cuộc đời. Bất ngờ, cha tôi qua đời. Đời mẹ sao mà man mác buồn. Nước mắt mẹ qua hai lần đò đời trước chưa kịp ráo thì đến lượt những dòng nước mắt lại tuôn ra từ đôi mắt mẹ. Những giọt nước mắt nối nhau dài trong đời mẹ. Cõng trên lưng mẹ ba đời chồng, mẹ lại gánh cô đơn đi trong không gian bàng bạc của bóng đêm. Bây giờ có đứa con gái, người con duy nhất của mẹ. Tình yêu con của mẹ sâu thẳm, mênh mông biết nhường nào. Đứa con gái cứ chạy lon ton phía trước mặt mẹ  mỗi lần mẹ đi chợ về khi bóng trưa đổ dài xuống sân nhà.

Mẹ không còn bờ vai của người đàn ông, bờ vai thứ ba của đời mẹ. Nhưng mẹ lại có bờ vai của đứa con gái mẹ. Lòng mẹ tựa vào lòng con, con ở trong sâu thẳm của tâm hồn mẹ. Con lớn dần lên trên đôi vai gánh gồng của mẹ về phía chợ. Cuộc đời mẹ, ba lần qua đò đời. Bây giờ mẹ đã về bến đỗ bình yên của mẹ sau bao nhiêu bão tố của cuộc đời mẹ. Hôm mẹ được nhận huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, mẹ mừng lắm. Mẹ nhớ lại thật nhiều những câu chuyện về những người bạn trên đất quê này đã cùng mẹ tham gia hoạt động cách mạng trong những năm gian khó. Hình ảnh bà Xân, bà Thiu luôn lưu giữ mãi trong tâm trí mẹ tôi.

Một mùa đông sắp hết. Mẹ qua được mùa rét cóng ở miền quê này. Rét cắt da thịt. Rét làm da mẹ nhăn nheo, dịp đó về quê mẹ, cứ muốn ngồi bên bếp lửa đỏ giữa nhà. Mẹ đưa đôi bàn tay gầy guộc lên trên ngọn lửa. Bếp lửa hội tụ tình cảm sum vầy của gia đình, người quê hương. Bữa cơm giản dị với nồi khoai luộc và bát cà quê, bát canh rau ngót mẹ trồng quanh nhà. Tất cả vẫn còn nguyên sơ trong nhà mẹ. Mẹ lại kể về quãng đời cuộc đời mẹ. Mẹ kể trong tiếng khóc thầm mà lòng tôi đau nhói. Tôi nhớ về dòng sông, nơi có những con đò chở mẹ tôi qua sông. Mẹ gánh hai đầu miền quê có bóng dáng ba người chồng…

N.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm