TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc

“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-22 08:54:37
mail facebook google pos stwis
1429 lượt xem

LÊ THI

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.

 

Nhà văn Trầm Hương

 

Ở bình diện thể loại, tác phẩm được xem như một trường ca mang tính biểu tượng, trong đó hệ thống hơn 36 loài hoa vận hành như những mã ký hiệu văn hóa. Những hình ảnh tưởng như bình dị lại mở ra chiều sâu nhân sinh: “những con người bình dị như những bông hoa thủy sinh… thủy chung cùng phèn mặn, kiên gan bom đạn thuốc khai hoang”. Ở đây, thiên nhiên không chỉ được miêu tả mà còn được nhân hóa và biểu tượng hóa, trở thành phương tiện để diễn giải lịch sử và thân phận con người. Tác giả đã cất công sưu tầm hình ảnh trên 20 liệt sĩ và những con người đã trở về sau cuộc chiến. Góp phần làm cho tác phẩm thêm chân thực và xúc động.

Trong chương một – Hoa thủy sinh, tác giả triển khai một thi pháp sinh thái đặc sắc. Những loài như bèo, lục bình không chỉ mang đặc tính sinh học mà còn gợi mở những tầng nghĩa xã hội: “khi viết về bèo… là những phận bèo trôi dạt, mà khát khao sinh sôi”, hay với lục bình: “tự do và vô ưu, trôi trôi và trôi, nở nở và nở”. Cách lặp cấu trúc cú pháp này tạo nên một nhịp điệu ám ảnh, đồng thời khắc họa tính chất vừa mong manh vừa bền bỉ, rất gần với cuộc sống đời thường.

Sang chương hai – Hoa tôi gặp trên đường thiên lý, trường ca chuyển từ không gian sinh thái sang không gian lịch sử – xã hội, nơi mỗi loài hoa gắn với một số phận cụ thể. Những câu thơ như: “trao may mắn duyên tình cho kẻ khác, tuổi thanh xuân nào muốn đi tu…” hay “hòa bình chồng con hy sinh hết, giờ mẹ mới thật tu đây” đã khắc họa sâu sắc bi kịch và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Ở đây, tác giả xây dựng một diễn ngôn về chủ nghĩa anh hùng mang tính nhân bản, không tách rời đau thương khỏi vinh quang.

 

Trường ca "Hoa của nước" được in song ngữ.

 

Đặc biệt, hình ảnh dừa được triển khai như một biểu tượng ký ức gia đình – dân tộc, với những câu thơ giàu tính tự sự:

“ông cố tôi giữ tài liệu cách mạng…

ông ngoại tôi treo cờ Tổ Quốc trước tầm súng giặc…

cháu tôi bị trói dưới gốc dừa chết còn rất trẻ…”

Chuỗi hình ảnh này tạo nên một trường liên tưởng lịch sử, nơi ký ức cá nhân hòa vào ký ức tập thể, làm nổi bật chiều sâu của mất mát và sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Không dừng lại ở quá khứ chiến tranh, chương ba – Hoa thời hậu chiến – mở ra một góc nhìn khác của hiện thực. Những câu thơ như: “Tôi lớn lên thời bao cấp… đồng ruộng mênh mông mà dân chịu đói” hay “những đứa trẻ thời hậu chiến, chiều cao không quá một mét năm mươi” đã phản ánh một cách chân thực những nghịch lý của đời sống. Ở đây, trường ca mang màu sắc tự sự đời thường, khi tác giả nhìn lại quá khứ không chỉ để ca ngợi mà còn để chiêm nghiệm. Tác giả dẫn người đọc ngược dòng chảy để cảm nhận những được mất sau ngày giải phóng. Những câu thơ như tiếng nấc nghẹn của tác giả: … “Hoa đậu biếc mà không biếc, hoa thường xuân không xuân, hoa giành giành không giành nổi chút danh phận cho mình…”

Trường ca đã làm rung động trái tim giới nhạc sĩ: Bùi Khánh Nguyên đã cho ra đời hai bài hát dựa trên ý thơ của chị. Bài-Xuyến Chi và Hoa của nước. Nhạc sĩ Trần Quốc Dũng đã phổ bản nhạc: Hai lần làm mẹ. Những bản nhạc này đã được công chúng đón nhận.

Một điểm đáng chú ý là chất liệu khoa học được tích hợp tự nhiên vào tác phẩm. Việc tác giả “am hiểu tường tận từng loài hoa, ngọn cỏ” và cung cấp đặc điểm của hơn 36 loài đã tạo nên một diễn ngôn lai ghép giữa văn chương và sinh học, góp phần làm giàu thêm giá trị nhận thức của trường ca. “của nước là tre”

“Trăm năm hoa mới nở ..” “của nước là mắm là đước là vẹt là gừa..hoa ẩn mình li ti không dễ gì nhìn thấy mà biến ảo thần kỳ. Phận bèo trôi dạt mà khao khát sinh sôi, giấu uẩn khúc trong những bào thai mắt thường…”

Về tổng thể, “Hoa của nước” có thể được xem như một bản đồ ký ức bằng thơ, nơi mỗi loài hoa là một điểm neo của lịch sử, mỗi câu thơ là một lớp trầm tích của thời gian. Những câu như “đường độc đạo tiến về thành phố đầy xương trắng” hay hình ảnh “hoa Dã Quỳ… giặc cột tóc chị vào gốc cây… đốt cháy chị tan vào đất mẹ” không chỉ gây ấn tượng thị giác mà còn khơi dậy một trải nghiệm cảm xúc mạnh mẽ, buộc người đọc phải đối diện với những thăng trầm của lịch sử dân tộc.

Việc trình bày song ngữ Việt – Anh cũng mở rộng khả năng tiếp nhận, đưa tác phẩm vào một không gian đối thoại liên văn hóa, nơi những giá trị bản địa có thể được chuyển tải ra ngoài biên giới ngôn ngữ. Trong giai đoạn hiện nay rất cần những tác phẩm thi ca được chuyển tải sang nhiều ngôn ngữ để có sức lan tỏa nhịp cầu văn hóa thế giới .

Dẫu không phải là một nhà phê bình chuyên nghiệp, người viết bài này tiếp cận tác phẩm với tư cách một bạn đọc, nhưng chính trải nghiệm đọc đã cho thấy “Hoa của nước” là một công trình nghiêm túc, giàu giá trị nghệ thuật và nhân văn. Đây không chỉ là một trường ca về hoa, mà là một trường ca về con người Việt Nam – kiên cường, hy sinh và luôn hướng tới  chân, thiện, mĩ . Trân trọng sự làm việc cần mẫn của chị và hai cộng sự đắc lực (con gái và con trai nhà văn) đã dịch thuật chuyển tải hết ý tưởng của tác giả qua ngôn ngữ Anh. Xin chân thành cảm ơn món quà của chị. Tôi trích bốn câu thơ, có lẽ rất tâm đắc chị đã trân trọng viết lên đầu tác phẩm .

Trên đường thiên lý tôi đi

Nước cuốn theo bao câu chuyện thần kỳ

Cảm ơn những bông hoa thủy sinh

Cho tôi hiểu máu trộn bùn có màu gì 

(Trầm Hương)

Ohio tháng 4-2026

L.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm