TIN TỨC

Huyền sử mẹ | Trầm Hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-12-27 17:06:39
mail facebook google pos stwis
2368 lượt xem

Kỷ niệm 40 năm thành lập Hội Nhà văn TP.HCM, website Văn chương TP.HCM xin giới thiệu chùm bài viết được đăng trên Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số 05 (ngày 23-12-2021). Mời quý vị và các bạn đón đọc.

TRẦM HƯƠNG


Mẹ Nguyễn Thị Điểm - thứ hai, từ phải, chụp ảnh cùng các chiến sĩ trong chiến dịch truy quét tàn quân sau chiến tranh

KỲ TÍCH BIỆT ĐỘNG

Không thể tin được, người phụ nữ bé nhỏ ngồi trước mặt tôi lại ẩn chứa một năng lực hoạt động biệt động, tình báo tuyệt vời; nếu không muốn nói dì có tài xuất quỷ nhập thần, thật thần kỳ. Dì Mười Tùng - Mẹ Thanh Tùng Nguyễn Thị Điểm còn được gọi Thanh Tùng, Mười Tùng - Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân - Bà mẹ Việt Nam Anh hùng  là một báu vật nhân văn sống về những kỳ tích biệt động. Nghe dì kể chuyện, tôi hiểu thêm bao câu chuyện lịch sử lý thú. Dì Mười Tùng trở thành người chiến sĩ đầu tiên trong tổ vũ trang đô thị - tiền thân của Đội biệt động Sài Gòn - Gia Định. Đội biệt động ấy đã chiến đấu trong lòng địch trong điều kiện rất khác nghiệt, đã 5 lần bị mất phiên hiệu vì các chiến sĩ hy sinh gần hết. Dì Mười có đến 11 cái tên, 11 giấy khai sanh để độc lập chiến đấu ngay trong hang ổ kẻ thù. Chúng tôi không ngăn được tò mò, hỏi: “Làm cách nào để dì tồn tại chiến đấu ngay trước mắt kẻ thù?”. Dì Mười trầm ngâm nói: “Đặc điểm của lực lượng biệt động, tình báo là một người chiến đấu, có hàng trăm người phục vụ. Nhờ dân đùm bọc, che chở  mà tồn tại”. Và mẹ kể về lòng dân, sự đùm bọc, che chở  của nhân dân…

Người mẹ nhỏ nhắn ấy lớn dần lên với những kỳ tích biệt động Sài Gòn. Để có một thế hợp pháp hoạt động trong lòng nội đô, mẹ đã từng phải đi ở, từng bị đánh ghen khi hòa vào quần chúng hoạt động cách mạng. Trong vỏ bọc của một đại úy hải quân, mẹ đã tham gia đội biệt động đánh nhiều trận trong nội thành Sài Gòn, diệt nhiều ác ôn, gây hoang mang cho địch ngay trong hang ổ của chúng. Đó là người phụ nữ trong chiến dịch Mậu Thân 1968 cướp xe địch, lấy vỏ bọc của nhân viên công tác xã hội, mẹ tự lái xe, đem hàng chục chiến thương quân giải phóng đánh vào Đài phát thanh thành phố bị kẹt lại về tuyến sau chữa trị… Thêm một lần nữa, mẹ Nguyễn Thị Điểm (Thanh Tùng) không ngăn được xúc động khi nói về lòng dân. Đợt 2 Mậu Thân 1968, mẹ bị thương. Mẹ được đồng bào đưa về nhà giấu. Một tuần sau, bà con tìm mọi cách đưa mẹ về chiến khu ở Củ Chi điều trị…

Chị Nguyễn Thị Trâm, giao liên cho đội vũ trang Thành đoàn, người nữ chiến sĩ kiên trung trong Mậu Thân 1968 đã kiên trì  tìm 17 thương binh đưa về giấu ém trong nhà của vợ liệt sĩ Hoàng Lê Kha (Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh - người đầu tiên bị chính quyền Diệm xử bằng máy chém). Chị vận động quần chúng cơ sở mang lương thực, thuốc men nuôi giấu thương binh, giấu ém vũ khí. Chị bị bắt vào tù cùng đứa con nhỏ. Ra tù, bằng nghề gói bánh ú gánh đi bán, chị tiếp tục hoạt động cho cho cách mạng. Chị cũng chính là một cơ sở của mẹ Thanh Tùng trong lòng nội đô. Sau ngày hòa bình, chị tha thiết mời mẹ về nhà chị để cùng sống những ngày cuối đời. Chị Trâm kể: “Với nguyên tắc hoạt động ngăn cách, người chiến sĩ biệt động phải độc lập tác chiến, rất hiểm nguy, nghiệt ngã nhưng dì Mười Tùng rất kiên trì, chịu khó, xây dựng hàng chục cơ sở, hàng chục nút giao liên, hầm nuôi cán bộ, thuyết phục hàng chục thanh niên bổ sung cho lực lượng biệt động Thật không dễ dàng làm được những chuyện động trời ấy ngay trong lòng nội đô Sài Gòn!”.
 

HUYỀN SỬ

Anh hùng Lực lượng vũ trang - Bà mẹ VNAH Nguyễn Thị Điểm

Mẹ Thanh Tùng khiến chúng tôi thêm kinh ngạc và khâm phục người nữ chiến sĩ biệt động dũng cảm. Tháng 11.1960,  người người nữ chiến sĩ biệt động Thanh Tùng đã chỉ huy một tổ 3 người vừa kết hợp đánh địch, vừa gọi loa tuyên truyền, vận động được 27 tên địch ở bốt Trần Văn Châu ra hàng, thu 25 súng. Mẹ Thanh Tùng bình thản nói: “Mình làm được việc ấy rất đơn giản vì biết được lòng dân lòng người. Bản thân mẹ có nỗ lực, mưu trí, sáng tạo, linh hoạt để thoát hiểm nhưng tất cả là nhờ bà con đùm bọc, che chở!”. Phải, trong chiến đấu, mẹ hai lần bị thương, nhiều mảnh đạn vẫn còn trong người, nhiều lần mẹ Thanh Tùng đối mặt với những tình huống thắt tim, sống chết trong gang tấc nhưng thật tài tình, thật kỳ diệu, chưa lần nào mẹ bị bắt…

Rất nhiều năm, khi viết về những nhân vật phụ nữ Nam bộ, tôi đã  có nhiều năm đi tìm một nhân vật phụ nữ, mà tính cách anh hùng in đậm trong những trang sử của thành phố: “Biết Tiểu đoàn Quyết Thắng Củ Chi gặp khó khăn, cấp trên bổ sung cho đơn vị một tổ chiến đấu mới gồm 5 chiến sĩ trai và một cô gái. Đồng chí Chín chỉ huy đơn vị nói với cấp trên: “Sao lại bổ sung nữ cho chúng tôi. Tôi xin nhận 5 anh, còn xin trả lại cô gái. Đơn vị tôi chưa cần cứu thương”. Và đồng chí ngạc nhiên vui sướng biết bao, khi cán bộ cấp trên nói rõ: “Đồng chí có biết 30 khẩu súng trang bị đầu tiên cho đơn vị đồng chí, ai lấy về không? Người cướp bót Hưng Long, đoạt bót Trần Văn Châu, hạ bót Cầu Xáng, lấy được bao nhiêu súng đó là nữ tướng này đây…”. “Phong trào phụ nữ TP.HCM” 1954-1985. Người “nữ tướng” mà tôi mãi miết đi tìm bao năm, kỳ diệu thay, chính là dì Mười Tùng. Mẹ kể lúc ấy chỉ huy đơn vị nhìn mẹ rất ngần ngại. Họ không tin một phụ nữ nhỏ nhắn có thể phối hợp cùng các chiến sĩ lấy bót An Nhơn. Nhận nhiệm vụ, Thanh Tùng lặng lẽ cùng một tổ đi trinh sát. Sau 3 đêm dưới làn đạn bắn như mưa và pháo sáng, Thanh Tùng đã mưu trí cùng đồng đội lọt vào được bót. Sau khi nắm được mưu kế nghi binh của địch, Thanh Tùng lên phương án chiến đấu.  Đêm đánh đồn trời tối đen như mực. Khi tên chỉ huy và đại bộ phận đã đi ra khỏi đồn, chỉ còn một tên lính giữ trại. Tên lính đi về phía lô cốt chuẩn bị vãi đạn. Chỉ còn cách một bước chân, người nữ chiến sĩ biệt động bật dậy như chiếc lò xo. Bằng một thế võ diêu luyện, Thanh Tùng hạ gục được tên lính. Ở lô cốt phía Tây, đồng đội vỗ tay ám hiệu đã xử lý tên lính phía đó. Tổ trinh sát của Mười Tùng vào trại, bắn 3 phát pháo hiệu xanh cho đại đội của ta phục kích bên ngoài. Tên chỉ huy thấy pháo hiệu lạ từ phía bót bắn lên, thúc lính quay về thì… đã quá muộn. Đơn vị phục kích xả đạn trúng đội hình của chúng và tiêu diệt gọn…

Không chỉ là một nữ chiến sĩ dũng cảm mà mẹ Thanh Tùng còn là một đồng đội nghĩa tình, trung hậu. Trong trận tấn  công bót An Nhơn Tây, Thanh Tùng lãnh một mũi trinh sát vô đồn. Suốt hai đêm tiếp cận đồn, hai chiến sĩ bị thương vong vì mìn địch. Không đành lòng để lại một phần thân thể của đồng chí Nguyễn Văn Đắc (Tư Đắc) hy sinh trong bót địch, đêm thứ 3, Thanh Tùng cương quyết đi đầu, lần qua hàng rào, ôm nửa thân mình còn lại của Tư Đắc đưa ra ngoài. Đứng trước đơn vị, Thanh Tùng tuyên bố: “Đêm nay, chúng ta đi trả thù cho đồng đội”. Cả đơn vị lặng lẽ đi theo Thanh Tùng. Với quyết tâm sắt đá, cháy bỏng ấy, đúng 2 giờ sáng ngày 20/7/1964, đồn An Nhơn Tây bốc cháy, lửa sáng rực một vùng trời. Toàn bộ quân giặc trong đồn bị tiêu diệt…
 

NGƯỜI MẸ NUỐT ĐAU THƯƠNG

Gang thép, dũng cảm trước kẻ thù là vậy nhưng mẹ vô cùng yếu mềm, rất dễ rơi nước mắt khi nhắc đến chồng, con. Mẹ nói những người thân yêu nhất của mẹ đều đã hy sinh nhưng mẹ không cô độc bởi có chồng, con mẹ trong hình hài Tổ quốc. Mẹ kể mẹ lấy chồng ban đầu là để có bình phong, dễ bề hoạt động trong lòng địch. Mẹ xem “người ấy” như một đồng đội, đồng chí. Nhưng tình yêu  dần phát sinh, nảy nở trong chiến đấu. Hai người rất hiểu nhau, chia sẻ cùng nhau những hiểm nguy, gian khổ của cuộc đời người chiến sĩ biệt động, hoạt động trong lòng địch. Chồng mẹ là chiến sĩ biệt động Phạm Văn Tám, được sinh ra trong một gia đình cách mạng trung kiên, có 11 anh em thì hy sinh hết 6 người. Tập kết ra Bắc, ông vượt Trường Sơn, vào Nam chiến đấu. Vào lúc nhận lời làm vợ ông, Mười Tùng cũng không thể ngờ mấy mươi năm sau mình trở thành một Bà mẹ VNAH, là con dâu một Bà mẹ VNAH khác. Mẹ ngậm ngùi kể vợ chồng mẹ cùng hoạt động trong nội thành nhưng chẳng mấy khi được gần nhau. Kết quả những lần gặp ngắn ngủi ấy là hai con trai Phạm Quốc Nam (sinh năm 1956) và Phạm Quốc Trung (sinh năm 1958) ra đời trong địa đạo Phú Thọ Hòa. Khi các con vừa thôi nôi, mẹ đau đớn gởi con cho cơ sở để tiếp tục công tác…

Cuối năm 1967, chuẩn bị cho Mậu Thân, mẹ Thanh Tùng vô cùng hạnh phúc khi bất ngờ được gặp lại chồng. Hai người quá ít thời gian bên nhau, nói với nhau về những đứa con đang lớn lên từng ngày. Hai vợ chồng khao khát đến cháy bỏng có được ngày hòa bình, cả gia đình sẽ được đoàn tụ. Nhưng đó là lần cuối cùng mẹ gặp chồng. Tháng 10/1968, ông Phạm Văn Tám hy sinh trong một trận đánh ác liệt ở nội thành Sài Gòn. Lao vào công tác, mẹ Thanh Tùng cũng không còn được gặp lại hai con. Mẹ chỉ biết hai con trai đang gia nhập lực lượng Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 316 Đặc Công để “trả thù cho cha”, cho đất nước sớm có ngày hòa bình, gia đình sum họp. Mẹ đâu ngờ vào 27 - 28/4/1975, trong trận đánh ác liệt ở cầu Rạch Chiếc, do Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 316 Đặc Công phối hợp, hai người con trai của mẹ đã ngã xuống anh dũng. Đó cũng là hai chiến sĩ trẻ tuổi nhất ở trận cầu Rạch Chiếc. Trận đánh ấy có 51/52 người con của Tổ quốc đã quyết tử, mở đường cho quân giải phóng  tiến vào thành phố. Hai con mẹ không tìm được xác, cũng không lưu lại một bức ảnh!

Mẹ Thanh tùng nghẹn ngào nói: Nhiều trận đánh đã diễn ra quyết liệt ở cầu Rạch Chiếc. Trận đó cả hai tiểu đoàn bị xóa sổ, chỉ có một anh bị xốc bỏ chạy vô định, lên rừng sống với người dân tộc, mãi 30 năm sau, ta mới tìm được, đưa về quê anh ở Quảng Trị!”. Tôi hỏi: “Còn mẹ thì sao?!”. Mẹ nuốt nước mắt nói: “Mấy anh giấu hung tin, không cho tôi biết. Nhưng bằng linh cảm người mẹ, rồi tôi cũng biết. “Hai con tôi hy sinh, tôi đứt hai núm ruột, các đồng chí mất hai chiến sĩ kiên trung. Chúng ta phải tiếp tục chiến đấu cho đến ngày cuối cùng. Nói tới đó rồi tôi ngất xỉu, không còn biết gì nữa”. Mấy tiếng sau, mẹ mới tỉnh lại. Tiếng súng từ Long Thành, Biên Hòa vang lên dồn dập, như nhắc nhở mẹ nhiệm vụ còn đó. Trận đánh mẹ cùng đồng đội đã chuẩn bị bao công sức mới bắt đầu. Vậy là mẹ lau nước mắt, đứng lên. Ngày 30/4/1975, hòa cùng khí thế ngất trời của đoàn xe tăng ở 5 cánh tiến vào giải phóng thành phố, tại nội đô Sài Gòn, với vai trò Quận đội trưởng Quận 9, mẹ đã chỉ huy các lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đánh chiếm trụ sở quận, chiếm toàn bộ lô cốt, kho tàng, cùng 27 tàu hải quân ngụy đóng ở cảng Thủ Thiêm, trước khi Dương Văn Minh - vị tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng…
 

“SỐNG ĐỂ CHĂM SÓC MẸ GIÀ, DÌU DẮT TRẺ THƠ”

Những ngày hòa bình, vượt lên nỗi đau mất người thân, mẹ đã dành tâm huyết của người chiến sĩ cách mạng, đến với số phận không may mắn của đồng đội, đồng chí. Mẹ giản dị hòa vào đời thường của  đồng bào, lắng nghe những lời bức xúc của người dân, cùng chính quyền địa phương có những cách giải quyết thấu tình, đạt lý. Mẹ nói để có ngày chiến thắng hôm nay, những người hoạt động trong lòng địch như mẹ mang ơn sâu sắc sự che chở, đùm bọc của nhân dân. Mẹ mang món lợ quá lớn trước những lời cuối cùng của đồng đội, đồng chí đã chọn cái chết cho mẹ được sống. Đó là những người lính tiểu đoàn Đồng Nai trên đường tấn công vào mục tiêu Tổng Nha bị địch bao vây. Phút chót, các anh nói: “Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Chị ráng sống trả thù cho anh em. Sống để chăm sóc mẹ già, dìu dắt trẻ thơ…”. Mẹ đã hứa với những người lính trong giây phút cuối cùng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ…

Chiến tranh kết thúc, với vai trò Phó Bí thư Đảng ủy Cầu Kho, mẹ lao vào công tác cứu đói, giải quyết ở Sài Gòn những năm sau chiến tranh, cũng chắt chiu từng hạt gạo, bán từng giọt dấm để giữ vững phẩm cách của người chiến sĩ cách mạng trước những cám dỗ của những viên đạn bọc đường. Với những ngổn ngang những ngày hậu chiến. Người cựu chiến sĩ biệt động Mười Tùng như bao bà mẹ khác mẹ, lời hứa với những người đã chết rất thiêng liêng. Nên giờ đây, ở tuổi 80, còn nhiều vết đạn trong người, với trái tim đau, mẹ vẫn dũng cảm chiến đấu với bệnh tật, vẫn mong tận hiến cho đời đến giọt máu, hơi thở cuối cùng. Mẹ vẫn đau đáu từng ngày trước những trang thời sự nóng bỏng của đất  nước, vẫn kịp thời có mặt trong các kỳ chính quyền địa phương tuyển quân, đưa thanh niên nhập ngũ, vẫn thao thức nhiều đêm không ngủ khi nhiều chiếc tàu ngư dân bị đe dọa ra khơi trên biển đảo quê hương. Và mới đây, mẹ bày tỏ niềm mong ước bên cầu Rạch Chiếc nếu có được tượng đài đặc công hy sinh mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh, mẹ rất ấm lòng!”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm