TIN TỨC

Huyền sử mẹ | Trầm Hương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-12-27 17:06:39
mail facebook google pos stwis
2628 lượt xem

Kỷ niệm 40 năm thành lập Hội Nhà văn TP.HCM, website Văn chương TP.HCM xin giới thiệu chùm bài viết được đăng trên Tạp chí Văn nghệ TP.HCM số 05 (ngày 23-12-2021). Mời quý vị và các bạn đón đọc.

TRẦM HƯƠNG


Mẹ Nguyễn Thị Điểm - thứ hai, từ phải, chụp ảnh cùng các chiến sĩ trong chiến dịch truy quét tàn quân sau chiến tranh

KỲ TÍCH BIỆT ĐỘNG

Không thể tin được, người phụ nữ bé nhỏ ngồi trước mặt tôi lại ẩn chứa một năng lực hoạt động biệt động, tình báo tuyệt vời; nếu không muốn nói dì có tài xuất quỷ nhập thần, thật thần kỳ. Dì Mười Tùng - Mẹ Thanh Tùng Nguyễn Thị Điểm còn được gọi Thanh Tùng, Mười Tùng - Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân - Bà mẹ Việt Nam Anh hùng  là một báu vật nhân văn sống về những kỳ tích biệt động. Nghe dì kể chuyện, tôi hiểu thêm bao câu chuyện lịch sử lý thú. Dì Mười Tùng trở thành người chiến sĩ đầu tiên trong tổ vũ trang đô thị - tiền thân của Đội biệt động Sài Gòn - Gia Định. Đội biệt động ấy đã chiến đấu trong lòng địch trong điều kiện rất khác nghiệt, đã 5 lần bị mất phiên hiệu vì các chiến sĩ hy sinh gần hết. Dì Mười có đến 11 cái tên, 11 giấy khai sanh để độc lập chiến đấu ngay trong hang ổ kẻ thù. Chúng tôi không ngăn được tò mò, hỏi: “Làm cách nào để dì tồn tại chiến đấu ngay trước mắt kẻ thù?”. Dì Mười trầm ngâm nói: “Đặc điểm của lực lượng biệt động, tình báo là một người chiến đấu, có hàng trăm người phục vụ. Nhờ dân đùm bọc, che chở  mà tồn tại”. Và mẹ kể về lòng dân, sự đùm bọc, che chở  của nhân dân…

Người mẹ nhỏ nhắn ấy lớn dần lên với những kỳ tích biệt động Sài Gòn. Để có một thế hợp pháp hoạt động trong lòng nội đô, mẹ đã từng phải đi ở, từng bị đánh ghen khi hòa vào quần chúng hoạt động cách mạng. Trong vỏ bọc của một đại úy hải quân, mẹ đã tham gia đội biệt động đánh nhiều trận trong nội thành Sài Gòn, diệt nhiều ác ôn, gây hoang mang cho địch ngay trong hang ổ của chúng. Đó là người phụ nữ trong chiến dịch Mậu Thân 1968 cướp xe địch, lấy vỏ bọc của nhân viên công tác xã hội, mẹ tự lái xe, đem hàng chục chiến thương quân giải phóng đánh vào Đài phát thanh thành phố bị kẹt lại về tuyến sau chữa trị… Thêm một lần nữa, mẹ Nguyễn Thị Điểm (Thanh Tùng) không ngăn được xúc động khi nói về lòng dân. Đợt 2 Mậu Thân 1968, mẹ bị thương. Mẹ được đồng bào đưa về nhà giấu. Một tuần sau, bà con tìm mọi cách đưa mẹ về chiến khu ở Củ Chi điều trị…

Chị Nguyễn Thị Trâm, giao liên cho đội vũ trang Thành đoàn, người nữ chiến sĩ kiên trung trong Mậu Thân 1968 đã kiên trì  tìm 17 thương binh đưa về giấu ém trong nhà của vợ liệt sĩ Hoàng Lê Kha (Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh - người đầu tiên bị chính quyền Diệm xử bằng máy chém). Chị vận động quần chúng cơ sở mang lương thực, thuốc men nuôi giấu thương binh, giấu ém vũ khí. Chị bị bắt vào tù cùng đứa con nhỏ. Ra tù, bằng nghề gói bánh ú gánh đi bán, chị tiếp tục hoạt động cho cho cách mạng. Chị cũng chính là một cơ sở của mẹ Thanh Tùng trong lòng nội đô. Sau ngày hòa bình, chị tha thiết mời mẹ về nhà chị để cùng sống những ngày cuối đời. Chị Trâm kể: “Với nguyên tắc hoạt động ngăn cách, người chiến sĩ biệt động phải độc lập tác chiến, rất hiểm nguy, nghiệt ngã nhưng dì Mười Tùng rất kiên trì, chịu khó, xây dựng hàng chục cơ sở, hàng chục nút giao liên, hầm nuôi cán bộ, thuyết phục hàng chục thanh niên bổ sung cho lực lượng biệt động Thật không dễ dàng làm được những chuyện động trời ấy ngay trong lòng nội đô Sài Gòn!”.
 

HUYỀN SỬ

Anh hùng Lực lượng vũ trang - Bà mẹ VNAH Nguyễn Thị Điểm

Mẹ Thanh Tùng khiến chúng tôi thêm kinh ngạc và khâm phục người nữ chiến sĩ biệt động dũng cảm. Tháng 11.1960,  người người nữ chiến sĩ biệt động Thanh Tùng đã chỉ huy một tổ 3 người vừa kết hợp đánh địch, vừa gọi loa tuyên truyền, vận động được 27 tên địch ở bốt Trần Văn Châu ra hàng, thu 25 súng. Mẹ Thanh Tùng bình thản nói: “Mình làm được việc ấy rất đơn giản vì biết được lòng dân lòng người. Bản thân mẹ có nỗ lực, mưu trí, sáng tạo, linh hoạt để thoát hiểm nhưng tất cả là nhờ bà con đùm bọc, che chở!”. Phải, trong chiến đấu, mẹ hai lần bị thương, nhiều mảnh đạn vẫn còn trong người, nhiều lần mẹ Thanh Tùng đối mặt với những tình huống thắt tim, sống chết trong gang tấc nhưng thật tài tình, thật kỳ diệu, chưa lần nào mẹ bị bắt…

Rất nhiều năm, khi viết về những nhân vật phụ nữ Nam bộ, tôi đã  có nhiều năm đi tìm một nhân vật phụ nữ, mà tính cách anh hùng in đậm trong những trang sử của thành phố: “Biết Tiểu đoàn Quyết Thắng Củ Chi gặp khó khăn, cấp trên bổ sung cho đơn vị một tổ chiến đấu mới gồm 5 chiến sĩ trai và một cô gái. Đồng chí Chín chỉ huy đơn vị nói với cấp trên: “Sao lại bổ sung nữ cho chúng tôi. Tôi xin nhận 5 anh, còn xin trả lại cô gái. Đơn vị tôi chưa cần cứu thương”. Và đồng chí ngạc nhiên vui sướng biết bao, khi cán bộ cấp trên nói rõ: “Đồng chí có biết 30 khẩu súng trang bị đầu tiên cho đơn vị đồng chí, ai lấy về không? Người cướp bót Hưng Long, đoạt bót Trần Văn Châu, hạ bót Cầu Xáng, lấy được bao nhiêu súng đó là nữ tướng này đây…”. “Phong trào phụ nữ TP.HCM” 1954-1985. Người “nữ tướng” mà tôi mãi miết đi tìm bao năm, kỳ diệu thay, chính là dì Mười Tùng. Mẹ kể lúc ấy chỉ huy đơn vị nhìn mẹ rất ngần ngại. Họ không tin một phụ nữ nhỏ nhắn có thể phối hợp cùng các chiến sĩ lấy bót An Nhơn. Nhận nhiệm vụ, Thanh Tùng lặng lẽ cùng một tổ đi trinh sát. Sau 3 đêm dưới làn đạn bắn như mưa và pháo sáng, Thanh Tùng đã mưu trí cùng đồng đội lọt vào được bót. Sau khi nắm được mưu kế nghi binh của địch, Thanh Tùng lên phương án chiến đấu.  Đêm đánh đồn trời tối đen như mực. Khi tên chỉ huy và đại bộ phận đã đi ra khỏi đồn, chỉ còn một tên lính giữ trại. Tên lính đi về phía lô cốt chuẩn bị vãi đạn. Chỉ còn cách một bước chân, người nữ chiến sĩ biệt động bật dậy như chiếc lò xo. Bằng một thế võ diêu luyện, Thanh Tùng hạ gục được tên lính. Ở lô cốt phía Tây, đồng đội vỗ tay ám hiệu đã xử lý tên lính phía đó. Tổ trinh sát của Mười Tùng vào trại, bắn 3 phát pháo hiệu xanh cho đại đội của ta phục kích bên ngoài. Tên chỉ huy thấy pháo hiệu lạ từ phía bót bắn lên, thúc lính quay về thì… đã quá muộn. Đơn vị phục kích xả đạn trúng đội hình của chúng và tiêu diệt gọn…

Không chỉ là một nữ chiến sĩ dũng cảm mà mẹ Thanh Tùng còn là một đồng đội nghĩa tình, trung hậu. Trong trận tấn  công bót An Nhơn Tây, Thanh Tùng lãnh một mũi trinh sát vô đồn. Suốt hai đêm tiếp cận đồn, hai chiến sĩ bị thương vong vì mìn địch. Không đành lòng để lại một phần thân thể của đồng chí Nguyễn Văn Đắc (Tư Đắc) hy sinh trong bót địch, đêm thứ 3, Thanh Tùng cương quyết đi đầu, lần qua hàng rào, ôm nửa thân mình còn lại của Tư Đắc đưa ra ngoài. Đứng trước đơn vị, Thanh Tùng tuyên bố: “Đêm nay, chúng ta đi trả thù cho đồng đội”. Cả đơn vị lặng lẽ đi theo Thanh Tùng. Với quyết tâm sắt đá, cháy bỏng ấy, đúng 2 giờ sáng ngày 20/7/1964, đồn An Nhơn Tây bốc cháy, lửa sáng rực một vùng trời. Toàn bộ quân giặc trong đồn bị tiêu diệt…
 

NGƯỜI MẸ NUỐT ĐAU THƯƠNG

Gang thép, dũng cảm trước kẻ thù là vậy nhưng mẹ vô cùng yếu mềm, rất dễ rơi nước mắt khi nhắc đến chồng, con. Mẹ nói những người thân yêu nhất của mẹ đều đã hy sinh nhưng mẹ không cô độc bởi có chồng, con mẹ trong hình hài Tổ quốc. Mẹ kể mẹ lấy chồng ban đầu là để có bình phong, dễ bề hoạt động trong lòng địch. Mẹ xem “người ấy” như một đồng đội, đồng chí. Nhưng tình yêu  dần phát sinh, nảy nở trong chiến đấu. Hai người rất hiểu nhau, chia sẻ cùng nhau những hiểm nguy, gian khổ của cuộc đời người chiến sĩ biệt động, hoạt động trong lòng địch. Chồng mẹ là chiến sĩ biệt động Phạm Văn Tám, được sinh ra trong một gia đình cách mạng trung kiên, có 11 anh em thì hy sinh hết 6 người. Tập kết ra Bắc, ông vượt Trường Sơn, vào Nam chiến đấu. Vào lúc nhận lời làm vợ ông, Mười Tùng cũng không thể ngờ mấy mươi năm sau mình trở thành một Bà mẹ VNAH, là con dâu một Bà mẹ VNAH khác. Mẹ ngậm ngùi kể vợ chồng mẹ cùng hoạt động trong nội thành nhưng chẳng mấy khi được gần nhau. Kết quả những lần gặp ngắn ngủi ấy là hai con trai Phạm Quốc Nam (sinh năm 1956) và Phạm Quốc Trung (sinh năm 1958) ra đời trong địa đạo Phú Thọ Hòa. Khi các con vừa thôi nôi, mẹ đau đớn gởi con cho cơ sở để tiếp tục công tác…

Cuối năm 1967, chuẩn bị cho Mậu Thân, mẹ Thanh Tùng vô cùng hạnh phúc khi bất ngờ được gặp lại chồng. Hai người quá ít thời gian bên nhau, nói với nhau về những đứa con đang lớn lên từng ngày. Hai vợ chồng khao khát đến cháy bỏng có được ngày hòa bình, cả gia đình sẽ được đoàn tụ. Nhưng đó là lần cuối cùng mẹ gặp chồng. Tháng 10/1968, ông Phạm Văn Tám hy sinh trong một trận đánh ác liệt ở nội thành Sài Gòn. Lao vào công tác, mẹ Thanh Tùng cũng không còn được gặp lại hai con. Mẹ chỉ biết hai con trai đang gia nhập lực lượng Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 316 Đặc Công để “trả thù cho cha”, cho đất nước sớm có ngày hòa bình, gia đình sum họp. Mẹ đâu ngờ vào 27 - 28/4/1975, trong trận đánh ác liệt ở cầu Rạch Chiếc, do Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 316 Đặc Công phối hợp, hai người con trai của mẹ đã ngã xuống anh dũng. Đó cũng là hai chiến sĩ trẻ tuổi nhất ở trận cầu Rạch Chiếc. Trận đánh ấy có 51/52 người con của Tổ quốc đã quyết tử, mở đường cho quân giải phóng  tiến vào thành phố. Hai con mẹ không tìm được xác, cũng không lưu lại một bức ảnh!

Mẹ Thanh tùng nghẹn ngào nói: Nhiều trận đánh đã diễn ra quyết liệt ở cầu Rạch Chiếc. Trận đó cả hai tiểu đoàn bị xóa sổ, chỉ có một anh bị xốc bỏ chạy vô định, lên rừng sống với người dân tộc, mãi 30 năm sau, ta mới tìm được, đưa về quê anh ở Quảng Trị!”. Tôi hỏi: “Còn mẹ thì sao?!”. Mẹ nuốt nước mắt nói: “Mấy anh giấu hung tin, không cho tôi biết. Nhưng bằng linh cảm người mẹ, rồi tôi cũng biết. “Hai con tôi hy sinh, tôi đứt hai núm ruột, các đồng chí mất hai chiến sĩ kiên trung. Chúng ta phải tiếp tục chiến đấu cho đến ngày cuối cùng. Nói tới đó rồi tôi ngất xỉu, không còn biết gì nữa”. Mấy tiếng sau, mẹ mới tỉnh lại. Tiếng súng từ Long Thành, Biên Hòa vang lên dồn dập, như nhắc nhở mẹ nhiệm vụ còn đó. Trận đánh mẹ cùng đồng đội đã chuẩn bị bao công sức mới bắt đầu. Vậy là mẹ lau nước mắt, đứng lên. Ngày 30/4/1975, hòa cùng khí thế ngất trời của đoàn xe tăng ở 5 cánh tiến vào giải phóng thành phố, tại nội đô Sài Gòn, với vai trò Quận đội trưởng Quận 9, mẹ đã chỉ huy các lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đánh chiếm trụ sở quận, chiếm toàn bộ lô cốt, kho tàng, cùng 27 tàu hải quân ngụy đóng ở cảng Thủ Thiêm, trước khi Dương Văn Minh - vị tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng…
 

“SỐNG ĐỂ CHĂM SÓC MẸ GIÀ, DÌU DẮT TRẺ THƠ”

Những ngày hòa bình, vượt lên nỗi đau mất người thân, mẹ đã dành tâm huyết của người chiến sĩ cách mạng, đến với số phận không may mắn của đồng đội, đồng chí. Mẹ giản dị hòa vào đời thường của  đồng bào, lắng nghe những lời bức xúc của người dân, cùng chính quyền địa phương có những cách giải quyết thấu tình, đạt lý. Mẹ nói để có ngày chiến thắng hôm nay, những người hoạt động trong lòng địch như mẹ mang ơn sâu sắc sự che chở, đùm bọc của nhân dân. Mẹ mang món lợ quá lớn trước những lời cuối cùng của đồng đội, đồng chí đã chọn cái chết cho mẹ được sống. Đó là những người lính tiểu đoàn Đồng Nai trên đường tấn công vào mục tiêu Tổng Nha bị địch bao vây. Phút chót, các anh nói: “Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Chị ráng sống trả thù cho anh em. Sống để chăm sóc mẹ già, dìu dắt trẻ thơ…”. Mẹ đã hứa với những người lính trong giây phút cuối cùng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ…

Chiến tranh kết thúc, với vai trò Phó Bí thư Đảng ủy Cầu Kho, mẹ lao vào công tác cứu đói, giải quyết ở Sài Gòn những năm sau chiến tranh, cũng chắt chiu từng hạt gạo, bán từng giọt dấm để giữ vững phẩm cách của người chiến sĩ cách mạng trước những cám dỗ của những viên đạn bọc đường. Với những ngổn ngang những ngày hậu chiến. Người cựu chiến sĩ biệt động Mười Tùng như bao bà mẹ khác mẹ, lời hứa với những người đã chết rất thiêng liêng. Nên giờ đây, ở tuổi 80, còn nhiều vết đạn trong người, với trái tim đau, mẹ vẫn dũng cảm chiến đấu với bệnh tật, vẫn mong tận hiến cho đời đến giọt máu, hơi thở cuối cùng. Mẹ vẫn đau đáu từng ngày trước những trang thời sự nóng bỏng của đất  nước, vẫn kịp thời có mặt trong các kỳ chính quyền địa phương tuyển quân, đưa thanh niên nhập ngũ, vẫn thao thức nhiều đêm không ngủ khi nhiều chiếc tàu ngư dân bị đe dọa ra khơi trên biển đảo quê hương. Và mới đây, mẹ bày tỏ niềm mong ước bên cầu Rạch Chiếc nếu có được tượng đài đặc công hy sinh mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh, mẹ rất ấm lòng!”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm