TIN TỨC

Trần Duy Phương - Người con gái kiên cường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-25 09:44:18
mail facebook google pos stwis
2252 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

QUẾ HÀ

Nhà văn Trung Trung Đỉnh nhận xét về cuốn tự truyện “Tôi nghe tôi hát”: “Toàn bộ tuổi trẻ của Trần Duy Phương - Trần Thị Mai là chiến đấu và chiến thắng. Chị đã và đang chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, cũng như chiến đấu và chiến thắng thương tật, bệnh tật. Sức sống kỳ lạ của một con người kỳ lạ. Đó là sự bất tử của tinh thần kiêu hãnh và kiên trung mà chỉ có tuổi trẻ và lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam mới có được”. 

QUÊ HƯƠNG VÀ GIA ĐÌNH

Ký ức đong đầy về làng quê nghèo khổ và anh dũng “Xã Sơn Bình là xã có truyền thống cách mạng mạnh mẽ nhất lúc đó”, bởi những chiến sĩ cách mạng như ông Kiều, ông Cao Đình Trung, ông Đặng Xuân Sinh bị bọn địch bắt bớ, giam cầm, đày đọa và bị giết chết với những kiểu man rợ chỉ có thời trung cổ như “chôn sống”, “cắt đầu cắm cọc”...   


Trần Duy Phương (áo trắng) - người con gái kiên cường

Sinh năm 1950, Trần Duy Phương xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở Quảng Nam. Cha chị là ông Trần Duy Tường. Ông tham gia Mặt trận Việt Minh, là Chủ tịch Mặt trận Việt Minh đầu tiên của Tổng Đa Hòa (Điện Bàn). Vài năm sau ngày giành chính quyền, ông được tổ chức điều động lên tỉnh. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, Hiệp định Genève được ký kết, ông được nhân dân tín nhiệm bầu Chủ tịch kháng chiến hành chính huyện Phước Sơn (Quảng Nam), gồm 7 xã. Đến năm 1955, ông bị bắt, chúng giam ông ở nhà lao quận Hiệp Đức, dù mẹ chị hết lời van xin để gặp chồng, nhưng chỉ có mình cô bé Trần Duy Phương được gặp, lúc ấy chị mới 5 tuổi. Mẹ chị mua 1 tô mì Quảng và 1 nải chuổi để vào gặp ba, nhưng tên lính gác quát to quá, cô bé sợ hãi làm đánh đổ hết tô mì Quảng. Qua cái ô trống nhỏ, cô bé nhìn thấy cha, chỉ qua một đêm thôi, khuôn mặt của cha “sưng vù, tím ngắt, hai con mắt đỏ ngầu đến độ không phân biệt được tròng đen và tròng trắng”.

Sau đó, chúng đưa xuống nhà lao Hội An, rồi ra Đà Nẵng, 2 năm sau, ông bị đày đi Côn Đảo. Bị giam trong hầm đá vì đã chống ly khai, chống xé cờ Đảng trong chiến dịch “khủng bố trắng” của Mai Hữu Xuân - Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát ngụy thời bấy giờ. Và người chiến sĩ Cộng sản kiên cường đã hy sinh ở nhà tù Côn Đảo bởi những đòn tra tấn dã man của kẻ thù, bỏ lại mẹ già, vợ trẻ và 3 đứa con thơ.

Cuộc đời của mẹ chị - bà Phạm Thị Hiền thường gọi bà Tường kêu theo tên chồng, cũng đầy bi tráng, chồng hy sinh khi mới 30 tuổi, một thân một mình nuôi 2 bà mẹ và 3 đứa con. Khi đứa con gái bị thương nặng, địch bắt giam, bà vẫn một lòng trung kiên với cách mạng, năm 1969, bà và người con trai út bị địch bắt giam ở quận Hiệp Đức. Chúng dùng chiêu bài, lôi kéo người con trai đang tham gia du kích để đầu hàng, chúng sẽ thả 2 mẹ con ra, nhưng bà đành chấp nhận chốn lao tù, chúng chuyển bà đến giam cầm ở nhà lao Quảng Tín (Tam Kỳ).

Năm 1957, chị xa gia đình đến trọ học ở Hội An. Tuổi thơ của Duy Phương là những tháng ngày thiếu tình cảm gia đình, nhưng lại thừa đòn roi và những lời mắng nhiếc, cùng những công việc quá nặng nhọc so với những bạn học cùng trang lứa nhưng cô vẫn học giỏi, hát hay rồi trở thành nữ sinh trường Trần Quý Cáp - Hội An.

Ở tuổi trăng tròn, phải từ bỏ những ngày tháng tươi đẹp của tuổi học trò, từ bỏ được ra miền Bắc để được học tập, để đi làm cách mạng. Chị biết con đường mình đang đi là con đường gian khổ, bởi chị đã chứng kiến quê hương, gia đình và mẹ chị một đời lam lũ. Vì chồng, bà đã bỏ quê quán, bồng bế lên non, nơi rừng thiêng nước độc, đảm đang gánh vác việc gia đình, để chồng tận tâm, tận lực với cách mạng. Chị đã chứng kiến tất cả, cha chị bị giam cầm, bị đánh đập, bị đày đi Côn Đảo, hy sinh và mất tích ra sao. Không hiểu lý tưởng cách mạng là gì, chị chỉ biết rằng đi theo con đường cha chị đã chọn. Xem cha là thần tượng, nghĩ những người tù yêu nước, hình ảnh bất khuất của người cha, mối căm thù giặc bắt đầu nhen nhóm đã chỉ dẫn đường chị đi theo cách mạng.

Vất vả, gian lao là thế nhưng chị vẫn giàu nghị lực, luôn vì công việc và mọi người, hăng hái, nhiệt huyết với những công việc như Dạy học, Kinh tài, Tuyên huấn. Nhà văn, liệt sĩ, anh hùng Lực lượng vũ trang Chu Cẩm Phong đã gặp và viết những dòng nhật ký về chị trong những ngày chị làm công tác Tuyên huấn: “… đó là cô gái hay cười, hay hát và nhiệt huyết…”. Với truyền thống gia đình và quê hương đã tạo nên tính cách sau này của một Trần Duy Phương kiên trung bất khuất, không khi nào chịu khuất phục trước kẻ thù, ngay cả khi cả cuộc đời của chị gắn liền với chiếc băng ca, xe lăn mà không thể đứng lên và đi lại được.

TRẦN THỊ MAI 

Tháng 10/1968, khi đang là cán bộ Ban Tuyên huấn Huyện ủy Quế Sơn (Quảng Nam), tổ công tác của chị bị giặc tập kích bất ngờ tại xã Sơn Long (nay là xã Quế Long, Quế Sơn). Chị bị trúng đạn, một viên trúng đùi trái, một viên xuyên ngang cột sống, qua ruột và xuyên ra phía trước bụng. Vết thương quá nặng, làm chị bất tỉnh. Bọn chúng đưa chị lên máy bay, đưa về Đà Nẵng. Một tuần sau, chúng đưa chị đến khoa giam giữ điều trị tù binh Cộng sản ở bệnh viện Duy Tân (Đà Nẵng). Hơn một năm bị giam lỏng ở đây trong điều kiện thiếu thốn, mất vệ sinh, chị cùng hơn 10 nữ tù phải ở trong một căn phòng nhỏ, không đủ chỗ để đặt lưng, mỗi ngày chỉ có một lon nước để dùng, chị bị suy kiệt và bị bệnh thận rất nặng…

Đến tháng 3/1970, từ trại giam tù binh Non Nước (Đà Nẵng) bọn chúng chuyển chị vào giam ở Phú Tài (Quy Nhơn) - nhà tù nữ lớn nhất miền Nam, khi chị tròn 20 tuổi. Thế hệ trẻ hôm nay và chính những người trong cuộc, khi đọc những dòng tự sự của chị sẽ không khỏi giật mình về những chi tiết trung thực về đòn tra tấn của kẻ thù đối với tù binh. “Hắn giơ hai bàn tay hộ pháp lên rồi giáng mạnh xuống cái bụng quấn đầy băng vẫn còn đang rỉ máu của tôi. Tôi kêu lên một tiếng thật to, mày mặt tối sầm lại, sau đó không còn biết gì nữa… Hắn đưa hai bàn tay lên như chực vồ lấy tôi rồi bất ngờ hắn quặp vào cổ tôi bóp chặt khiến tôi nghẹt thở”. “Chúng vừa đánh vừa đá, đạp vào chỗ hiểm, có tên còn nói: “Đánh cho tụi mầy tuyệt đường con cái, tuyệt nòi Cộng sản…”. “Chúng đổ nước vào lỗ tai rồi nhét cả sỏi vào, sau đó chúng dùng kiềm bẽ gãy 3 cái răng cửa cùng lúc. Chị được chị em săn sóc ngày đêm, nhưng cả tuần lễ sau vẫn còn lên cơn co giật”. Và một căn bệnh không có trong từ điển y học “Hơn một nửa chị em bị “lên cơn” tra tấn... Mỗi lần lên cơn các chị rơi vào trạng thái “ảo” và sống lại cảm giác như bị tra tấn”.

Ở tù, chị lấy tên là Trần Thị Mai - một nữ tù đặc biệt - nằm liệt trên băng-ca nhờ chị em tù nhân khiêng cáng. Dù chỉ nặng có 36 kg nhưng ở đâu chị cũng là người tạo nên một phần sức mạnh của tập thể. “Không. Tôi không được phép gục ngã. Hãy cố gắng lên tôi ơi! Đã sống thì phải sống cho ra sống, phải có cách sống của riêng mình…”.  Luôn hòa mình với nhóm tù binh bất khuất, chị và mọi người đã động viên nhau, đùm bọc lẫn nhau để tiếp tục sống và chiến đấu. Chị đấu tranh bằng cách tuyệt thực để được vào buồng giam với những người cộng sản kiên trung. Chị và đồng đội luôn kiên cường vượt qua tất cả những trò chiêu hồi, những màn tra tấn, cái chết luôn rình rập… mà giữ vững niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng Cộng sản cho dù địch chuyển từ trại giam này đến nhà tù khác. Sống trong cảnh tù đày, bị hành hạ tra tấn, nhưng chị luôn giữ được niềm lạc quan cách mạng, tin tưởng vào chiến thắng của dân tộc.

Vào tù đem theo “một bụng” bài ca cách mạng, “Trong tù, chúng tôi luôn ca hát, diễn kịch và dạy học để cùng nhau đi qua những khó khăn của những tháng ngày lao tù và đấu tranh. Hát để quên đi đau đớn, hát để lấy lại tinh thần, động viên mình và động viên đồng đội”. Người phụ nữ ấy vẫn hát vang trước sự tra tấn dã man trong ngục tù của bọn Mỹ - Ngụy và hôm nay, trong từng ngày từng giờ lại phải đấu tranh với những vết thương mà chiến tranh để lại trên cơ thể, thế mà chị vẫn hát, hát cho mọi người nghe, hát chính về mình và nghe chính mình hát.

Hiệp định Paris được kí kết, ngày 15/2/1973, chị được trao trả cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở sân bay Lộc Ninh cùng nhiều nữ tù chính trị.

Chị có kỷ vật quý hiếm khi ở tù - bức tranh thêu “Đàn gà” - năm 1971, chị Trần Duy Phương đang bị giam ở nhà tù Phú Tài. Mẹ chị đến thăm, dù gặp nhau trong cảnh tù tội, đứa con gái duy nhất bị tật nguyền, nhưng bà không hề run sợ, động viên con - hãy giữ vững khí tiết của người cách mạng. Gặp được mẹ, chị tràn trề hy vọng có một ngày gia đình sẽ đoàn tụ, đất nước sẽ hòa bình. Và tự tay vẽ mẫu và thêu bức tranh “Đàn gà”. Kiểu thêu này tương đối khó, chị lại mới học thêu, lại nằm trên băng cáng, 10 đầu ngón tay tê cứng, vừa phải tìm cách lẩn tránh tai mắt bọn cai tù, nên chị thêu không đẹp lắm. Bức tranh thêu “Đàn gà” đã nói lên cuộc sống gian khổ, nhưng đầy lạc quan của người tù. Trong bức thêu, có 1 gà mái và 3 chú gà con đi về 3 hướng. Gà mẹ tượng trưng cho mẹ chị. Con gà lông đen tượng trưng cho chị - đang sống xa mẹ nhất vì giam cầm trong nhà tù Mỹ - Ngụy, bị thương 2 chân không đi lại được. Hai gà con còn lại là 2 người em của chị. Bức thêu không có gà cha vì lúc đó cha chị đã hy sinh. Bức tranh thêu ra đời cách đây đúng 50 năm, được chị giữ gìn như là báu vật và hiện nay được trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, được nhiều người xem trân quý.

TÔI NGHE TÔI HÁT

Trong suy nghĩ của rất nhiều bạn bè, với tình trạng chấn thương như thế chỉ có thể sống thêm vài ba năm sau khi ra tù. Thế nhưng, trải qua thêm nhiều đợt chữa trị cả trong và ngoài nước, người thương binh này đã có thể tự phục vụ cho bản thân để không phiền đến mọi người. Nhưng tháng 6/2011, vết thương cũ tái phát, chị phải phẫu thuật, vết mổ làm thủng ruột non, chị đã chết lâm sàng suốt mấy ngày đêm. Nhiều vòng hoa trắng của bạn bè đã được gửi tới. Nhưng một lần nữa chị lại vượt qua cái chết trong sự kinh ngạc của các bác sĩ. “Người chị bây giờ chẳng còn chỗ nào lành lặn, vết mổ chồng lên vết mổ, hình như đến hơn 10 lần chị phải trải qua phẫu thuật”.

Trong những lần đau đớn nhất, ký ức về những ngày tháng lao tù, về những chị em tù với nhau lại hiện lên trong tâm trí của chị. Chị cứ trăn trở lở mình chết đi rồi, thì những câu chuyện của mình, của một thời bi hùng của dân tộc sẽ theo mình xuống suối vàng, được sự động viên của nhiều người, chị đã ghi lại những năm tháng bi hùng của mình và đồng đội. Ban đầu chị dùng bút chì nằm nghiêng trên giường để viết, sau có máy tính thì đỡ hơn, dùng 2 bàn tay đã bị tê liệt đánh máy hơn 200 trang tự truyện “Tôi nghe tôi hát”.

“Đời cho tôi sống và tôi sống với đời. Tôi hiện hữu để sống chứ không phải để tồn tại. Tôi vui vì tất cả những điều đó, với ý nghĩ mình không phải là kẻ sống thừa”. “Tôi mang nặng ơn từ các chị em, các đồng đội đã cưu mang, đùm bọc và che chở cho tôi những tháng ngày trong tù. Nếu không có họ, tôi nghĩ mình đã bỏ mạng trong tù. Tôi muốn tri ân đến với những người bạn của tôi nên đã viết cuốn sách này. Và tôi muốn đền đáp với ba, mẹ. Một người là gương sáng để tôi bước theo con đường cách mạng, mà đến bây giờ, dù mang thương tật suốt đời tôi vẫn không hối hận; một người vì tôi mà khổ cực cả đời nhưng vẫn ủng hộ con đường tôi đi”, chị đã viết như thế.

Cuốn tự truyện “Tôi nghe tôi hát” xuyên suốt những ký ức của chị, với lời văn dung dị, chân thực như con người của chị. Viết về mình nhưng không hề tô vẽ, khoa trương, như lời tâm tình thủ thỉ nhưng lại toát lên từ mỗi trang viết là những triết lý sống cao đẹp. Hình ảnh chị nhắc chúng ta liên tưởng tới nhân vật Arthur bí danh “Ruồi trâu” của Ethel Lilian Voynich, bởi vì bản chất con người luôn đầy tình yêu thương tha thiết, mặc dù biết cái chết đến với mình nhưng vẫn thấy thanh thản vì đã có một cuộc sống hạnh phúc do đã được sống, chiến đấu và chết vì những lý tưởng, hoài bão cao đẹp mà cả cuộc đời chị đã theo đuổi cống hiến.

Năm 2013, “Tôi nghe tôi hát” được giải B của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam. Năm 2014,  đoạt Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật Đất Quảng do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức. Năm 2015 tiếp tục được vinh danh - Giải Đồng - Sách hay, Sách đẹp của Hội Nhà văn Việt Nam. Chị rất vui, vì không phải là giải thưởng, vui vì đứa con tinh thần ấy được nhiều người biết đến, chị được mời dự giao lưu giới thiệu sách, làm phim với công chúng, với quê hương, với những người bạn tù…

Tháng 4/2014, trong buổi giao lưu với khán giả ở thành phố Tam Kỳ và huyện Hiệp Đức, giọng chị ứ nghẹn khi kể về gia đình chị, người mẹ vĩ đại của chị, bởi bà “Như cây tùng vươn cao giữa ngàn giông bão”. Bằng tất cả sự tôn kính và thương yêu, chị đã dành số tiền từ các giải thưởng của cuốn tự truyện để tạc tượng mẹ, như lời chia sẻ: “Người đã hy sinh cả đời, thủy chung với cách mạng, với chồng để nuôi hai mẹ già và các con khôn lớn. Mặc dù ngày cha tôi bị địch bắt cầm tù, mẹ tôi chỉ mới 30 tuổi”.

Những năm trước chưa có đại dịch, hằng năm chị đều tổ chức những chuyến đi thăm đồng đội, khu di tích lịch sử, đi Côn Đảo viếng mộ cha, trở về chiến trường xưa tri ân đồng đội và đồng bào. Mặc dù, di chuyển bằng nạng và xe lăn, nhưng tự đứng ra tổ chức gặp mặt chị em cựu nữ tù binh Phú Tài ở Quảng Nam và Đà Nẵng, hỗ trợ những nạn nhân chiến tranh gặp khó khăn bằng đồng thương tật… Bởi chị cho rằng “Cuộc đời còn lại của tôi, những gì có thể làm được cho đồng đội mình tôi sẽ làm. Tôi mang ơn đồng đội tôi. Tôi muốn đền đáp cho đồng đội tôi, những người đã nhường cơm sẻ áo, đã hy sinh cho tôi, đã vì tôi mà phải chịu đòn roi của kẻ thù khi tôi bị thương nặng trong các trại giam”.

Trần Duy Phương đúng là “thương binh tàn nhưng không phế”, sống - chiến đấu trọn vẹn nghĩa tình với Quê hương, Gia đình, Đồng đội và Đất nước.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TPHCM.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm