TIN TỨC

Trần Duy Phương - Người con gái kiên cường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-25 09:44:18
mail facebook google pos stwis
2348 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

QUẾ HÀ

Nhà văn Trung Trung Đỉnh nhận xét về cuốn tự truyện “Tôi nghe tôi hát”: “Toàn bộ tuổi trẻ của Trần Duy Phương - Trần Thị Mai là chiến đấu và chiến thắng. Chị đã và đang chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, cũng như chiến đấu và chiến thắng thương tật, bệnh tật. Sức sống kỳ lạ của một con người kỳ lạ. Đó là sự bất tử của tinh thần kiêu hãnh và kiên trung mà chỉ có tuổi trẻ và lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam mới có được”. 

QUÊ HƯƠNG VÀ GIA ĐÌNH

Ký ức đong đầy về làng quê nghèo khổ và anh dũng “Xã Sơn Bình là xã có truyền thống cách mạng mạnh mẽ nhất lúc đó”, bởi những chiến sĩ cách mạng như ông Kiều, ông Cao Đình Trung, ông Đặng Xuân Sinh bị bọn địch bắt bớ, giam cầm, đày đọa và bị giết chết với những kiểu man rợ chỉ có thời trung cổ như “chôn sống”, “cắt đầu cắm cọc”...   


Trần Duy Phương (áo trắng) - người con gái kiên cường

Sinh năm 1950, Trần Duy Phương xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở Quảng Nam. Cha chị là ông Trần Duy Tường. Ông tham gia Mặt trận Việt Minh, là Chủ tịch Mặt trận Việt Minh đầu tiên của Tổng Đa Hòa (Điện Bàn). Vài năm sau ngày giành chính quyền, ông được tổ chức điều động lên tỉnh. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, Hiệp định Genève được ký kết, ông được nhân dân tín nhiệm bầu Chủ tịch kháng chiến hành chính huyện Phước Sơn (Quảng Nam), gồm 7 xã. Đến năm 1955, ông bị bắt, chúng giam ông ở nhà lao quận Hiệp Đức, dù mẹ chị hết lời van xin để gặp chồng, nhưng chỉ có mình cô bé Trần Duy Phương được gặp, lúc ấy chị mới 5 tuổi. Mẹ chị mua 1 tô mì Quảng và 1 nải chuổi để vào gặp ba, nhưng tên lính gác quát to quá, cô bé sợ hãi làm đánh đổ hết tô mì Quảng. Qua cái ô trống nhỏ, cô bé nhìn thấy cha, chỉ qua một đêm thôi, khuôn mặt của cha “sưng vù, tím ngắt, hai con mắt đỏ ngầu đến độ không phân biệt được tròng đen và tròng trắng”.

Sau đó, chúng đưa xuống nhà lao Hội An, rồi ra Đà Nẵng, 2 năm sau, ông bị đày đi Côn Đảo. Bị giam trong hầm đá vì đã chống ly khai, chống xé cờ Đảng trong chiến dịch “khủng bố trắng” của Mai Hữu Xuân - Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát ngụy thời bấy giờ. Và người chiến sĩ Cộng sản kiên cường đã hy sinh ở nhà tù Côn Đảo bởi những đòn tra tấn dã man của kẻ thù, bỏ lại mẹ già, vợ trẻ và 3 đứa con thơ.

Cuộc đời của mẹ chị - bà Phạm Thị Hiền thường gọi bà Tường kêu theo tên chồng, cũng đầy bi tráng, chồng hy sinh khi mới 30 tuổi, một thân một mình nuôi 2 bà mẹ và 3 đứa con. Khi đứa con gái bị thương nặng, địch bắt giam, bà vẫn một lòng trung kiên với cách mạng, năm 1969, bà và người con trai út bị địch bắt giam ở quận Hiệp Đức. Chúng dùng chiêu bài, lôi kéo người con trai đang tham gia du kích để đầu hàng, chúng sẽ thả 2 mẹ con ra, nhưng bà đành chấp nhận chốn lao tù, chúng chuyển bà đến giam cầm ở nhà lao Quảng Tín (Tam Kỳ).

Năm 1957, chị xa gia đình đến trọ học ở Hội An. Tuổi thơ của Duy Phương là những tháng ngày thiếu tình cảm gia đình, nhưng lại thừa đòn roi và những lời mắng nhiếc, cùng những công việc quá nặng nhọc so với những bạn học cùng trang lứa nhưng cô vẫn học giỏi, hát hay rồi trở thành nữ sinh trường Trần Quý Cáp - Hội An.

Ở tuổi trăng tròn, phải từ bỏ những ngày tháng tươi đẹp của tuổi học trò, từ bỏ được ra miền Bắc để được học tập, để đi làm cách mạng. Chị biết con đường mình đang đi là con đường gian khổ, bởi chị đã chứng kiến quê hương, gia đình và mẹ chị một đời lam lũ. Vì chồng, bà đã bỏ quê quán, bồng bế lên non, nơi rừng thiêng nước độc, đảm đang gánh vác việc gia đình, để chồng tận tâm, tận lực với cách mạng. Chị đã chứng kiến tất cả, cha chị bị giam cầm, bị đánh đập, bị đày đi Côn Đảo, hy sinh và mất tích ra sao. Không hiểu lý tưởng cách mạng là gì, chị chỉ biết rằng đi theo con đường cha chị đã chọn. Xem cha là thần tượng, nghĩ những người tù yêu nước, hình ảnh bất khuất của người cha, mối căm thù giặc bắt đầu nhen nhóm đã chỉ dẫn đường chị đi theo cách mạng.

Vất vả, gian lao là thế nhưng chị vẫn giàu nghị lực, luôn vì công việc và mọi người, hăng hái, nhiệt huyết với những công việc như Dạy học, Kinh tài, Tuyên huấn. Nhà văn, liệt sĩ, anh hùng Lực lượng vũ trang Chu Cẩm Phong đã gặp và viết những dòng nhật ký về chị trong những ngày chị làm công tác Tuyên huấn: “… đó là cô gái hay cười, hay hát và nhiệt huyết…”. Với truyền thống gia đình và quê hương đã tạo nên tính cách sau này của một Trần Duy Phương kiên trung bất khuất, không khi nào chịu khuất phục trước kẻ thù, ngay cả khi cả cuộc đời của chị gắn liền với chiếc băng ca, xe lăn mà không thể đứng lên và đi lại được.

TRẦN THỊ MAI 

Tháng 10/1968, khi đang là cán bộ Ban Tuyên huấn Huyện ủy Quế Sơn (Quảng Nam), tổ công tác của chị bị giặc tập kích bất ngờ tại xã Sơn Long (nay là xã Quế Long, Quế Sơn). Chị bị trúng đạn, một viên trúng đùi trái, một viên xuyên ngang cột sống, qua ruột và xuyên ra phía trước bụng. Vết thương quá nặng, làm chị bất tỉnh. Bọn chúng đưa chị lên máy bay, đưa về Đà Nẵng. Một tuần sau, chúng đưa chị đến khoa giam giữ điều trị tù binh Cộng sản ở bệnh viện Duy Tân (Đà Nẵng). Hơn một năm bị giam lỏng ở đây trong điều kiện thiếu thốn, mất vệ sinh, chị cùng hơn 10 nữ tù phải ở trong một căn phòng nhỏ, không đủ chỗ để đặt lưng, mỗi ngày chỉ có một lon nước để dùng, chị bị suy kiệt và bị bệnh thận rất nặng…

Đến tháng 3/1970, từ trại giam tù binh Non Nước (Đà Nẵng) bọn chúng chuyển chị vào giam ở Phú Tài (Quy Nhơn) - nhà tù nữ lớn nhất miền Nam, khi chị tròn 20 tuổi. Thế hệ trẻ hôm nay và chính những người trong cuộc, khi đọc những dòng tự sự của chị sẽ không khỏi giật mình về những chi tiết trung thực về đòn tra tấn của kẻ thù đối với tù binh. “Hắn giơ hai bàn tay hộ pháp lên rồi giáng mạnh xuống cái bụng quấn đầy băng vẫn còn đang rỉ máu của tôi. Tôi kêu lên một tiếng thật to, mày mặt tối sầm lại, sau đó không còn biết gì nữa… Hắn đưa hai bàn tay lên như chực vồ lấy tôi rồi bất ngờ hắn quặp vào cổ tôi bóp chặt khiến tôi nghẹt thở”. “Chúng vừa đánh vừa đá, đạp vào chỗ hiểm, có tên còn nói: “Đánh cho tụi mầy tuyệt đường con cái, tuyệt nòi Cộng sản…”. “Chúng đổ nước vào lỗ tai rồi nhét cả sỏi vào, sau đó chúng dùng kiềm bẽ gãy 3 cái răng cửa cùng lúc. Chị được chị em săn sóc ngày đêm, nhưng cả tuần lễ sau vẫn còn lên cơn co giật”. Và một căn bệnh không có trong từ điển y học “Hơn một nửa chị em bị “lên cơn” tra tấn... Mỗi lần lên cơn các chị rơi vào trạng thái “ảo” và sống lại cảm giác như bị tra tấn”.

Ở tù, chị lấy tên là Trần Thị Mai - một nữ tù đặc biệt - nằm liệt trên băng-ca nhờ chị em tù nhân khiêng cáng. Dù chỉ nặng có 36 kg nhưng ở đâu chị cũng là người tạo nên một phần sức mạnh của tập thể. “Không. Tôi không được phép gục ngã. Hãy cố gắng lên tôi ơi! Đã sống thì phải sống cho ra sống, phải có cách sống của riêng mình…”.  Luôn hòa mình với nhóm tù binh bất khuất, chị và mọi người đã động viên nhau, đùm bọc lẫn nhau để tiếp tục sống và chiến đấu. Chị đấu tranh bằng cách tuyệt thực để được vào buồng giam với những người cộng sản kiên trung. Chị và đồng đội luôn kiên cường vượt qua tất cả những trò chiêu hồi, những màn tra tấn, cái chết luôn rình rập… mà giữ vững niềm tin tuyệt đối vào lý tưởng Cộng sản cho dù địch chuyển từ trại giam này đến nhà tù khác. Sống trong cảnh tù đày, bị hành hạ tra tấn, nhưng chị luôn giữ được niềm lạc quan cách mạng, tin tưởng vào chiến thắng của dân tộc.

Vào tù đem theo “một bụng” bài ca cách mạng, “Trong tù, chúng tôi luôn ca hát, diễn kịch và dạy học để cùng nhau đi qua những khó khăn của những tháng ngày lao tù và đấu tranh. Hát để quên đi đau đớn, hát để lấy lại tinh thần, động viên mình và động viên đồng đội”. Người phụ nữ ấy vẫn hát vang trước sự tra tấn dã man trong ngục tù của bọn Mỹ - Ngụy và hôm nay, trong từng ngày từng giờ lại phải đấu tranh với những vết thương mà chiến tranh để lại trên cơ thể, thế mà chị vẫn hát, hát cho mọi người nghe, hát chính về mình và nghe chính mình hát.

Hiệp định Paris được kí kết, ngày 15/2/1973, chị được trao trả cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở sân bay Lộc Ninh cùng nhiều nữ tù chính trị.

Chị có kỷ vật quý hiếm khi ở tù - bức tranh thêu “Đàn gà” - năm 1971, chị Trần Duy Phương đang bị giam ở nhà tù Phú Tài. Mẹ chị đến thăm, dù gặp nhau trong cảnh tù tội, đứa con gái duy nhất bị tật nguyền, nhưng bà không hề run sợ, động viên con - hãy giữ vững khí tiết của người cách mạng. Gặp được mẹ, chị tràn trề hy vọng có một ngày gia đình sẽ đoàn tụ, đất nước sẽ hòa bình. Và tự tay vẽ mẫu và thêu bức tranh “Đàn gà”. Kiểu thêu này tương đối khó, chị lại mới học thêu, lại nằm trên băng cáng, 10 đầu ngón tay tê cứng, vừa phải tìm cách lẩn tránh tai mắt bọn cai tù, nên chị thêu không đẹp lắm. Bức tranh thêu “Đàn gà” đã nói lên cuộc sống gian khổ, nhưng đầy lạc quan của người tù. Trong bức thêu, có 1 gà mái và 3 chú gà con đi về 3 hướng. Gà mẹ tượng trưng cho mẹ chị. Con gà lông đen tượng trưng cho chị - đang sống xa mẹ nhất vì giam cầm trong nhà tù Mỹ - Ngụy, bị thương 2 chân không đi lại được. Hai gà con còn lại là 2 người em của chị. Bức thêu không có gà cha vì lúc đó cha chị đã hy sinh. Bức tranh thêu ra đời cách đây đúng 50 năm, được chị giữ gìn như là báu vật và hiện nay được trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, được nhiều người xem trân quý.

TÔI NGHE TÔI HÁT

Trong suy nghĩ của rất nhiều bạn bè, với tình trạng chấn thương như thế chỉ có thể sống thêm vài ba năm sau khi ra tù. Thế nhưng, trải qua thêm nhiều đợt chữa trị cả trong và ngoài nước, người thương binh này đã có thể tự phục vụ cho bản thân để không phiền đến mọi người. Nhưng tháng 6/2011, vết thương cũ tái phát, chị phải phẫu thuật, vết mổ làm thủng ruột non, chị đã chết lâm sàng suốt mấy ngày đêm. Nhiều vòng hoa trắng của bạn bè đã được gửi tới. Nhưng một lần nữa chị lại vượt qua cái chết trong sự kinh ngạc của các bác sĩ. “Người chị bây giờ chẳng còn chỗ nào lành lặn, vết mổ chồng lên vết mổ, hình như đến hơn 10 lần chị phải trải qua phẫu thuật”.

Trong những lần đau đớn nhất, ký ức về những ngày tháng lao tù, về những chị em tù với nhau lại hiện lên trong tâm trí của chị. Chị cứ trăn trở lở mình chết đi rồi, thì những câu chuyện của mình, của một thời bi hùng của dân tộc sẽ theo mình xuống suối vàng, được sự động viên của nhiều người, chị đã ghi lại những năm tháng bi hùng của mình và đồng đội. Ban đầu chị dùng bút chì nằm nghiêng trên giường để viết, sau có máy tính thì đỡ hơn, dùng 2 bàn tay đã bị tê liệt đánh máy hơn 200 trang tự truyện “Tôi nghe tôi hát”.

“Đời cho tôi sống và tôi sống với đời. Tôi hiện hữu để sống chứ không phải để tồn tại. Tôi vui vì tất cả những điều đó, với ý nghĩ mình không phải là kẻ sống thừa”. “Tôi mang nặng ơn từ các chị em, các đồng đội đã cưu mang, đùm bọc và che chở cho tôi những tháng ngày trong tù. Nếu không có họ, tôi nghĩ mình đã bỏ mạng trong tù. Tôi muốn tri ân đến với những người bạn của tôi nên đã viết cuốn sách này. Và tôi muốn đền đáp với ba, mẹ. Một người là gương sáng để tôi bước theo con đường cách mạng, mà đến bây giờ, dù mang thương tật suốt đời tôi vẫn không hối hận; một người vì tôi mà khổ cực cả đời nhưng vẫn ủng hộ con đường tôi đi”, chị đã viết như thế.

Cuốn tự truyện “Tôi nghe tôi hát” xuyên suốt những ký ức của chị, với lời văn dung dị, chân thực như con người của chị. Viết về mình nhưng không hề tô vẽ, khoa trương, như lời tâm tình thủ thỉ nhưng lại toát lên từ mỗi trang viết là những triết lý sống cao đẹp. Hình ảnh chị nhắc chúng ta liên tưởng tới nhân vật Arthur bí danh “Ruồi trâu” của Ethel Lilian Voynich, bởi vì bản chất con người luôn đầy tình yêu thương tha thiết, mặc dù biết cái chết đến với mình nhưng vẫn thấy thanh thản vì đã có một cuộc sống hạnh phúc do đã được sống, chiến đấu và chết vì những lý tưởng, hoài bão cao đẹp mà cả cuộc đời chị đã theo đuổi cống hiến.

Năm 2013, “Tôi nghe tôi hát” được giải B của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam. Năm 2014,  đoạt Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật Đất Quảng do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức. Năm 2015 tiếp tục được vinh danh - Giải Đồng - Sách hay, Sách đẹp của Hội Nhà văn Việt Nam. Chị rất vui, vì không phải là giải thưởng, vui vì đứa con tinh thần ấy được nhiều người biết đến, chị được mời dự giao lưu giới thiệu sách, làm phim với công chúng, với quê hương, với những người bạn tù…

Tháng 4/2014, trong buổi giao lưu với khán giả ở thành phố Tam Kỳ và huyện Hiệp Đức, giọng chị ứ nghẹn khi kể về gia đình chị, người mẹ vĩ đại của chị, bởi bà “Như cây tùng vươn cao giữa ngàn giông bão”. Bằng tất cả sự tôn kính và thương yêu, chị đã dành số tiền từ các giải thưởng của cuốn tự truyện để tạc tượng mẹ, như lời chia sẻ: “Người đã hy sinh cả đời, thủy chung với cách mạng, với chồng để nuôi hai mẹ già và các con khôn lớn. Mặc dù ngày cha tôi bị địch bắt cầm tù, mẹ tôi chỉ mới 30 tuổi”.

Những năm trước chưa có đại dịch, hằng năm chị đều tổ chức những chuyến đi thăm đồng đội, khu di tích lịch sử, đi Côn Đảo viếng mộ cha, trở về chiến trường xưa tri ân đồng đội và đồng bào. Mặc dù, di chuyển bằng nạng và xe lăn, nhưng tự đứng ra tổ chức gặp mặt chị em cựu nữ tù binh Phú Tài ở Quảng Nam và Đà Nẵng, hỗ trợ những nạn nhân chiến tranh gặp khó khăn bằng đồng thương tật… Bởi chị cho rằng “Cuộc đời còn lại của tôi, những gì có thể làm được cho đồng đội mình tôi sẽ làm. Tôi mang ơn đồng đội tôi. Tôi muốn đền đáp cho đồng đội tôi, những người đã nhường cơm sẻ áo, đã hy sinh cho tôi, đã vì tôi mà phải chịu đòn roi của kẻ thù khi tôi bị thương nặng trong các trại giam”.

Trần Duy Phương đúng là “thương binh tàn nhưng không phế”, sống - chiến đấu trọn vẹn nghĩa tình với Quê hương, Gia đình, Đồng đội và Đất nước.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TPHCM.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm