TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình - hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc

Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình - hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-06 18:35:10
mail facebook google pos stwis
793 lượt xem

Ghi chép “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình” được viết sau chuyến đi thực tế sáng tác năm 2025 – một hành trình đầy ý nghĩa của Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh tổ chức.

Theo dấu chân Bác Hồ – từ nơi Người ra đi tìm đường cứu nước đến nơi Người yên nghỉ giữa lòng dân tộc – tác giả không chỉ ghi lại cảm xúc của một chuyến đi tri ân, mà còn gửi gắm suy tưởng về lịch sử, văn chương và sứ mệnh của người cầm bút hôm nay. Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin giới thiệu bài đăng trên Văn nghệ Công an số 784, ngày 6/11/2025.



TỪ BẾN NHÀ RỒNG ĐẾN BA ĐÌNH

Ghi chép của NGUYÊN HÙNG

Từ Bến Nhà Rồng đến Làng Sen

Tôi đã nhiều lần đứng trước Bến Nhà Rồng, nơi dòng sông Sài Gòn ôm lấy thành phố như một cánh tay trìu mến. Mỗi lần đến, tôi lại thấy lòng mình rưng rưng. Ở đó, vào sáng sớm ngày 5 tháng 6 năm 1911, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, tuổi vừa hai mươi mốt, khoác chiếc vali nhỏ, bước lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville, ra đi tìm đường cứu nước. Từ nơi này, hành trình của Người bắt đầu - hành trình định đoạt vận mệnh dân tộc.

Hơn trăm năm sau, tôi - một người cầm bút nhỏ bé, một người con xứ Nghệ, quê Bác - lại đứng nơi ấy. Không phải để khởi hành sang trời Tây, mà đến chào nơi đây để cùng đoàn văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh lên đường theo dấu chân Người, trong chuyến đi mang tên giản dị mà thiêng liêng: "Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình”.

Một cuộc hành hương không chỉ bằng đôi chân, mà bằng cả tấm lòng tri ân, bằng niềm kính yêu của thế hệ hôm nay đối với Người - vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già của dân tộc, đồng thời là một nhà thơ, nhà báo, một người nghệ sĩ lớn.

Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh trước căn nhà tranh, nơi Bác sống từ năm 1901 - 1906.

Về Làng Sen, nắng tháng Mười sau những ngày bão giông càng trải vàng lối nhỏ. Con đường dẫn vào làng như vẫn còn in dấu chân cậu bé Nguyễn Sinh Cung ngày nào, vừa tinh nghịch, vừa trầm tư. Căn nhà tranh đơn sơ ba gian, hàng cau, giếng nước, hàng rào râm bụt... tất cả như đang kể lại câu chuyện về một tuổi thơ trong sáng và giản dị, nhưng đã sớm ươm mầm một ý chí lớn.

Đứng trước mái nhà quê ấy, tôi bỗng nghe lòng mình lặng lại. Bởi trong sự mộc mạc đến tận cùng ấy, ta nhận ra cội nguồn của một tâm hồn vĩ đại: yêu thương, nhân hậu, chân thành, sống giản dị mà sâu sắc đến không cùng. Từ nơi này, Người đã ra đi, và cũng từ nơi này, cả dân tộc ta đã tìm lại được chính mình.

ATK và Tân Trào: Rừng núi và lời thề lịch sử

Từ Nghệ An, đoàn chúng tôi hướng ra Bắc. Đường về ATK Định Hóa và Tân Trào quanh co giữa mây ngàn Việt Bắc. Dưới tán rừng xanh thẳm, gió thổi rì rào như tiếng thời gian vọng lại.

KTS Nguyễn Trường Lưu, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. HCM ghi sổ lưu niệm tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (ATK Định Hóa) - Ảnh: Minh Phúc.

Ở Tân Trào, tôi như còn nghe vang vọng giọng Người đọc Quân lệnh số 1, dõng dạc giữa căn lán nhỏ bên suối Lê-nin, khơi nguồn cho cuộc Tổng khởi nghĩa mùa Thu lịch sử. Còn ở ATK Định Hóa, giữa đại ngàn Thái Nguyên, Người đã ký Quyết định phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, mở đầu một trang mới cho Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đoàn VNS từ TP. HCM viếng thăm Di tích Quốc gia ATK Định Hóa - Ảnh Minh Phúc.

Tiếng trống khởi nghĩa, tiếng chân người ra trận, tiếng gọi non sông – tất cả dường như vẫn ngân vang trong gió, hòa cùng nhịp thở thiêng liêng của rừng núi Việt Bắc. Giữa không gian ấy, tôi nhớ đến lời Bác từng nhắc nhở: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Đó không chỉ là lời căn dặn người cán bộ, mà cũng là lời nhắc cho những người cầm bút hôm nay: phải viết bằng hơi thở của nhân dân, phải đứng giữa cuộc đời chứ không đứng ngoài nó. Càng không thể thờ ơ đứng nhìn và phán xét!

Tân Trào khiến tôi hiểu thêm rằng: mỗi trang viết cũng là một hạt giống – gieo xuống đất lành của lòng tin, nó sẽ mọc lên những mầm xanh. Người đã dạy chúng ta cách viết, không phải bằng ngòi bút, mà bằng chính cuộc đời mình.

Cây đa Tân Trào – chứng nhân của lời thề năm ấy – nay đã gần như hóa thân vào đất. Nhưng từ gốc rễ già nua ấy, bao chồi xanh lại vươn lên. Như một quy luật của sự sống và niềm tin: những gì chân thật, dù qua bao mùa gió bão, vẫn tìm thấy cách hồi sinh.

Lán Nà Nưa: Phép màu bình dị và lời thề "đốt cháy"

Khi đến thăm Lán Nà Nưa, nơi Bác Hồ từng ở và làm việc trong những năm tháng quyết định của cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng tôi lặng người nghe hướng dẫn viên kể lại một câu chuyện cảm động.

Đoàn VNS từ TP. HCM tham quan Lán Nà Nưa (Tân Trào) - Ảnh: ...

Có lần, tại chính nơi này, Bác Hồ bị bệnh rất nặng - chín phần dữ, một phần lành. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc ấy đang làm việc ở một điểm khác, khi biết tin đã lập tức cho người đi tìm thầy thuốc giỏi trong các bản làng quanh vùng. Cuối cùng, họ gặp được một ông lang già, người Tày, lặng lẽ vào rừng hái lá, nấu thuốc mang đến tận nơi cho Bác.

Chỉ sau vài ngày, Bác hồi phục, tiếp tục làm việc, chủ trì những quyết sách lớn của cuộc kháng chiến. Nhưng lạ thay, sau này dù tổ chức có tìm mãi, người thầy thuốc ấy như tan vào rừng, chẳng ai gặp lại nữa.

Nghe kể đến đây, tôi bỗng rùng mình nghĩ: Nếu ngày ấy không có ông thầy thuốc bình dị mà kỳ diệu ấy, không biết vận mệnh dân tộc sẽ ra sao? Có lẽ, chính nhờ ân huệ của trời đất và lòng dân mà Bác được giữ lại, để rồi soi sáng con đường cho dân tộc ta đi tới độc lập, tự do.

Ngay gần căn lán nhỏ, trên tảng đá khắc dòng chữ vàng: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!"
 

Bia đá khắc lời Bác Hồ bên di tích Lán Nà Nưa - Ảnh: Nguyên Hùng.

Câu nói của Bác như tiếng sấm giữa rừng già Việt Bắc. Từng chữ, từng lời - là lửa, là máu, là mệnh lệnh từ trái tim yêu nước nồng nàn. Đọc lại, tôi bỗng thấy mình như đứng giữa ranh giới của quá khứ và hiện tại, nơi ngọn lửa cách mạng vẫn chưa hề tắt, chỉ đổi hình hài - từ súng đạn năm xưa sang những cây bút, những trang viết hôm nay.

Câu chuyện ở Lán Nà Nưa khiến tôi tin rằng: trong những khúc quanh của lịch sử, dân tộc ta luôn có những bàn tay vô danh nhưng đầy nhân nghĩa nâng đỡ vận mệnh non sông. Và, mỗi người cầm bút cũng cần biết tri ân những điều bình dị ấy, để ngòi bút không chỉ chạm đến lý trí, mà còn chạm đến lòng người.

Ba Đình: Nơi hội tụ niềm tin và nước mắt hạnh phúc

Sáng Hà Nội se lạnh, chúng tôi đứng trước Quảng trường Ba Đình. Trên nền trời thu bảng lảng mây, lá cờ đỏ sao vàng tung bay. Dòng người lặng lẽ nối dài. Tôi bỗng thấy những bước chân của đoàn mình thật nhỏ bé giữa không gian thấm đẫm linh khí thiêng liêng này.

Tôi từng là sinh viên Hà Nội và đã nhiều lần vào Lăng viếng Bác từ những năm đầu tiên. Nhưng lần này, sau nhiều năm mới có dịp về lại, cảm xúc lại rất khác. Khi bước vào, thấy Người nằm đó - thanh thản, hiền từ - lòng tôi dâng lên một niềm xúc động lạ thường.

Tôi thầm cảm ơn Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đã "một lần làm trái ý Bác", khi quyết định giữ gìn và bảo quản thi hài của Người. Bởi nếu chỉ nghe lời Người dặn trong Di chúc: "Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, mà hãy hỏa táng tôi đi”, thì làm sao hôm nay chúng ta - và cả những thế hệ mai sau - có thể tận mắt được nhìn thấy dung nhan Người, để càng thêm yêu, thêm kính, thêm tự hào và thêm trách nhiệm với non sông.

Bước ra khỏi Lăng, tôi thấy tim mình ấm lạ. Giữa những bộn bề của đời sống hôm nay, vẫn còn đó một nơi để con người ta hướng về, để lắng lại, để tìm thấy trong mình niềm tin và sự trong sáng.

Các văn nghệ sĩ TPHCM trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người truyền lửa cho những trang văn

Là người cầm bút, tôi đặc biệt xúc động khi đọc lại những lời Bác Hồ viết về nghề viết:

“Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”; “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Viết cho hay, cho chân thật, cho trong sáng, để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”…

Những lời ấy, dù đã viết cách nay hàng chục năm, vẫn như kim chỉ nam cho người cầm bút hôm nay. Trong thời đại ồn ào của công nghệ, giữa biển thông tin mênh mông, nhà văn, nhà báo càng cần giữ cho mình sự trong sáng của ngòi bút và lòng trung thực của tâm hồn.

Bởi, như Bác từng dạy: “Người làm báo phải có lập trường chính trị vững vàng, phải có đạo đức cách mạng; nói đúng, viết đúng”.

Viết, vì thế, không chỉ là ghi lại, mà là dựng xây. Không chỉ để ca ngợi, cổ vũ mà còn để thức tỉnh. Và mỗi câu chữ, nếu được viết bằng lương tâm, sẽ trở thành một nhịp cầu nối giữa con người với con người, giữa hiện tại với tương lai.

Tôi sinh ra ở Nghệ An – miền đất gió Lào cát trắng, nơi Bác đã sinh ra, lớn lên, ra đi và hóa thành huyền thoại. Và tôi đang sống ở Thành phố Hồ Chí Minh – thành phố mang tên Người, nơi Bác đã khởi hành cho con đường cách mạng của mình. Hai đầu của một hành trình ấy, nay được nối lại bằng ký ức và lòng biết ơn. 

Đôi khi, tôi tự hỏi: nếu Bác còn sống, Người sẽ dặn dò gì những người cầm bút hôm nay? Có lẽ, Bác sẽ vẫn nhắc điều giản dị: “Phải học dân, hiểu dân, yêu dân – viết cho dân đọc, dân hiểu, dân tin, dân làm theo”.

Và tôi tin, Người sẽ mỉm cười hiền hậu khi thấy lớp con cháu hôm nay vẫn đang miệt mài viết, vẫn muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc giữ gìn tiếng Việt, giữ gìn linh hồn dân tộc.

Con tàu thời gian đã đi qua hơn một thế kỷ, nhưng tiếng sóng dưới chân Bến Nhà Rồng dường như vẫn thì thầm gọi. Từ nơi ấy, Người ra đi để mang về cho Tổ quốc ánh sáng của độc lập, tự do. Từ Ba Đình, Người về yên nghỉ giữa lòng dân tộc.

Còn chúng tôi - những người cầm bút hôm nay - vẫn tiếp tục hành trình ấy, bằng cây bút, bằng trang viết, bằng những nỗ lực không ngừng để góp phần giữ cho dòng chảy văn hóa dân tộc mãi trong lành, sáng trong.

Đi từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình, không chỉ là một chuyến đi qua không gian địa lý, mà là hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc. Ở đó, mỗi người chúng ta đều tìm thấy một phần của chính mình - phần tốt đẹp nhất, lặng lẽ mà bền bỉ như mạch suối nguồn.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2025
N.H.

Mời đọc chùm bài liên quan:

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm