TIN TỨC
  • Truyện
  • Chiếu bông dâng phật | Truyện ngắn dự thi của Hồ Thị Linh Xuân

Chiếu bông dâng phật | Truyện ngắn dự thi của Hồ Thị Linh Xuân

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-04-02 11:40:58
mail facebook google pos stwis
1922 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

Chùa làng nhưng quanh năm khói hương nghi ngút, hoa quả dâng cúng ê hề nhiều bận ông thủ tự phải gom vào cần xé bán lại cho sạp trái cây ngoài chợ. Chùa thờ đức ngài Quán Thế Âm phổ độ chúng sinh. Tín chúng kính ngưỡng gọi ngài là Mẹ.

Lên cấp 3, tôi trọ học ngoài thị trấn. Mỗi chiều cuối tuần về đều thấy cô Ngà mặc đồ lam, đeo túi vải quày quả đến chùa đọc kinh. Gặp ngày rằm mùng 1, cô khệ nệ mang hoa quả nhang đèn có khi còn lỉnh kỉnh chè xôi. Bao giờ nhác thấy tôi cô cũng ngoắt theo, làm ra bộ vận nghiêm trọng. Đi chùa với cô. Tụi bây mặc dầu trẻ chưa bước ra đời để chiêu trò mánh lới cũng nên biết tu dần đi, tích phước thì không nói sớm trễ.

Cô Ngà là em họ con chú con bác với tía tôi. Dưới cô còn chú Út Thắng làm nghề thương hồ, chạy ghe bán hàng bông. Thím Út vợ chú xem bói, thầy phán số hai vợ chồng không nên ở cùng mẹ cha, phải tha hương cầu thực mới mong gầy dựng sự nghiệp được. Vậy là thím bàn với chú xin bà thím bán hai công ruộng để làm vốn mua ghe đi hàng. Vợ đâu chồng đó, thím đi thì chú phải theo. Cô Ngà bĩu môi. Cái thằng bất hiếu. Đội vợ trẻ lên đầu mà bỏ mẹ đành.

Vài lần vị nể tôi phủi vội đôi bàn tay lấm đất cát vì nhổ cỏ phụ má vào vạt áo rồi phụ xách đồ lễ, lót tót theo chân cô Ngà. Chúng tôi đi mải miết trên con đường đất chạy ngoằn ngoèo dọc theo dòng Trà Canh. Hai bên con kênh mọc dày lá nước. Cô Ngà nói chuyện luôn luôn, bảo hai cô cháu rất hạp tuổi nhau. Bao giờ cô cũng dạy tôi sự này điều kia mà thường nhất là say sưa thuyết giảng về trí tuệ và lòng từ bi bác ái của đức ngài Quán Thế. Bây cứ theo cô tu tập, làm công quả, cúng dường. Chỉ cần thành tâm thể gì sau rốt cũng về niết bàn hầu Phật.

Mười lăm tuổi. Tôi chưa biết niết bàn là đâu nhưng nghĩ chắc là chỗ đó buồn dữ lắm. Ở với má vui hơn nhiều. Má nấu ăn ngon số một, nhất là làm bánh xèo, bánh lá. Cô Ngà ra bộ giận, giọng xẵng đi. Con nít tụi bây hễ chút là ngủ với ăn. Tài-sắc-danh-thực-thùy là 5 đống rác chỉ khiến người đời mê muội.

Tôi nghe không hiểu nhưng có một điều cả xóm đều tường là cô Ngà không rườm rà chuyện ăn uống thật. Bữa cơm nhiều lúc chỉ dĩa rau luộc chấm với nước tương. Mà cô Ngà ăn sao thì bà thím cũng ăn y như vậy. Tôi thắc mắc. Ăn như thế ngày qua ngày không ngán sao cô? Cô Ngà cốc đầu tôi. Ăn nhưng không phải là ăn. Người ta phải đơn giản hóa cái sự ăn đi thì thân tâm mới an lạc.

Nhưng cứ cách tháng má lại điện ra, chuyện trò quanh quanh rồi má cho hay cô Ngà bị xỉu phải đi truyền nước biển. Tôi hỏi sao sức cô Ngà yếu nhớt vậy má. Má tôi thở dài, ăn uống cái kiểu của cô mày thì đến thánh cũng phải đi nhà thương.

Thường khi đến chùa tôi đặt đồ lễ ra bàn chờ để mặc cô Ngà bày biện theo ý cô. Chùa nhỏ không có sư sãi nhưng đâu đó rất hẳn hoi bởi được tín chúng thường xuyên tu bổ, coi sóc. Đồ đạc đựng lễ thuần đồ tốt. Bông huệ cắm vào bình gốm men lam. Trái cây đủ ngủ quả bề mặt trơn láng, rửa sạch, sắp vào dĩa sứ trắng. Chè xôi lá dứa nếp cẩm bắt mắt, mỗi thứ ba chén kiểu vẽ bông sen. Đôi ly bằng pha lê được chùi rửa sạch bong, thay nước cúng mới. Vừa tất bật cô Ngà vừa phân trần: Tu khổ ở kiệm nhưng dâng lên Mẹ thì không thể sơ sài được.

Nhìn xem có vẻ hài lòng, cô Ngà chỉnh trang lại áo xống. Đèn sáp thơm được thắp lên. Cô Ngà tẩm nước lên khăn bông sợi tre mới tinh lau chân cho Mẹ. Sơ bộ xong cô mở nắp chai nước thơm đã nấu sẵn pha với tinh dầu cúc la mã bắt đầu tắm tượng rồi dùng nước tắm ấy lau mặt mày mình. Cô cũng gọi tôi lên. Cô biểu dùng nước tắm Phật rửa cho mặt mũi sáng láng, trí tuệ minh mẫn mà học hành tấn tới. Tôi làm theo cho cô vui lòng. Xong nghi thức sắp lễ và tắm Mẹ cô Ngà đốt mấy nén nhang. Khói lãng đãng bay lên, hương trầm tỏa ngạt. Trong không gian trang nghiêm như vậy, cô Ngà ngồi xếp bằng mở sách đọc kinh. Ông thủ tự thi thoảng khẽ chuông. Đầu óc tôi như được tinh lọc, nhẹ bẫng. Nhưng chỉ được ba hồi chú là tôi thấy cả người ngầy ngật, thấm mệt vì cả ngày dang nắng dọn cỏ, chạy ra gốc tra bồ đề trước sân ngồi. Muỗi bay vo ve. Trời quê đêm xuống rất nhanh đã tối đen như mực. Ngồi đợi đến hơn 7 giờ thì bài chú đại bi được tụng xong. Ông thủ tự chuẩn bị đóng cửa chùa về ngủ. Từ ngoài sân tôi vẫn nghe tiếng cô chuyện vãng với người đàn ông trung niên. Tín chúng ngày lễ đến viếng Mẹ đông, chiếu lạy chẳng mấy mà sờn cũ. Nay mai muội dệt cặp chiếu bông mới, huynh hoan hỉ mỗi đêm thắp nhang cầu Mẹ phù hộ độ trì cho.

Cô Ngà vốn có cái tài dệt chiếu bông khéo có tiếng ở xóm tôi. Trước cô cũng dệt tháng vài chục đôi bỏ mối làng trên xóm dưới. Nhưng lúc rày chẳng mấy người ngủ chiếu lác nữa vì không bền bằng chiếu nhựa nên cô cũng thôi nghề dệt chiếu, chỉ thi thoảng dập bàn dệt đem cúng dường. Hồi chưa ra thị trấn học, ngày nghỉ tôi vẫn hay đến nhà coi bà thím và cô Ngà dệt chiếu bông. Bà thím cầm bàn dập. Cô Ngà mắc lác đan với sợi trân, cứ trở đầu lại qua, xong lại đến bẻ biên làm diềm, liên tục. Tôi nhìn thì chỉ thấy rối mắt nhưng người thợ phối hợp thật nhịp nhàng. đều tay. Cả ngày làm siêng chỉ được hai đôi chiếu trơn, muốn ra được chiếu bông phải đem nhuộm, ít gì cũng mất thêm một hai ngày nữa. Cô Ngà bảo, phải bỏ công cán chừng vậy đem cúng dường mới gọi là có lòng thành. Công đức dày lắm. Mấy lần cô rủ mẹ bây đến chùa làm Phật sự nhưng chỉ cứ than công chuyện nhà đăng đăng đê đê. Bận thì có ai không bận đâu. Nhưng phải đợi rỗi rãi mới làm thì biết đến bao giờ chứng quả.

Lững thững đi, tôi nghe cô Ngà rì rầm trong im lặng. Trăng đã lên, bóng hai cô cháu in hằn lên nền đất trắng khô nứt nẻ, hai cái bóng nhúc nhắc có lúc nằm chồng lên nhau. Sắp vào vụ thu hoạch, mùi lúa chín thơm thoang thoảng. Những bông lúa đỏ đuôi no căng, vỏ trấu ấp những hột cứng màu trắng đục đã ngậm đủ mồ hôi, gió mưa sương nắng đang chờ mùa bội thu. Trong tôi như vang lên tiếng máy liên hợp lịch xịch rền vang cánh đồng ngày gặt. Tôi hít một hơi khoan khoái. Lẫn trong mùi lúa vẫn còn mùi bùn ở những lỗ lung khi chân ruộng chớm khô.

Tôi về tới cổng rào dâm bụt thì đèn nhà đã tắt, con Luốc quen hơi không sủa chủ, nằm phục dưới chân. Cô Ngà bước thẳng không từ giã, tôi lí nhí chúc cô ngủ ngon rồi chui vào nhà tắm cạnh chái bếp. Má tôi chưa ngủ, bật sáng bóng đèn dây tóc vàng vọt biểu bây lấy ấm nước đây mà dùng. Chiều má nấu lau người cho bà nội vẫn còn ít, má châm thêm đặt lên lửa. Tắm nhanh, khuya sương đêm xuống lạnh rồi.

Tôi giũ bỏ chiếc áo váng mùi bùn đất. Má nhẹ bước lên nhà trên ngóng chừng hơi thở đều đều của bà nội trong màn đã ngủ say rồi lại đi xuống khe khẽ: Dỗ mãi bà mới chịu ngủ, cứ nhắc chừng bây đi đâu mà giờ này chưa về. Tôi vắt khăn qua cổ từ nhà tắm bước ra, giọng thỏ thẻ: Thương nội quá!

Tôi ngồi với má thêm một lúc nữa. Má khen trăng đêm nay sáng rồi vuốt mái tóc tôi. Giờ này đám côn trùng đã hát lên. Những âm thanh li ri như đứt hơi rồi tí chút lại râm ran trong khu vườn má trồng cơ man trái rau, chưa bao giờ hết xanh mơn mởn. Thi thoảng còn có tiếng đập cánh của con vạc sà xuống miệng ao sau nhà. Mà biểu tôi đi nghỉ sớm, mai má lại nấu cháo cá, con mang qua cho bà thím. Người già cần bồi bổ mà ăn theo cô Ngà bây thì thật... Má thở dài rồi lặng lẽ đi vào buồng.

Tôi nán lại thêm một lúc, ngồi bó gối nằm ngả đầu lên cánh tay ngắm chị Hằng đi vắng. Tôi nhớ những lần xách cà mên đi qua cầu khỉ để sang nhà bà thím đưa đồ ăn má nấu, không khí sao mà u tịch, chắc bởi cảnh nhà neo người. Má kể đáng lẽ bà thím phải ở chỗ mình đây. Nhưng cái hồi trẻ dại ông chú lêu lổng quá, nhất quyết không chịu ở cùng cha mẹ đẻ. Ông chú biểu với ông nội, cha thương anh thì thôi anh ở nhà tổ mà nuôi cha. Đất đai bên này bao nhiêu anh cứ giữ cả. Em qua sông nhận phần đất nhỏ, rồi làm thuê làm mướn thêm mà sống để cha khỏi phiền lòng.

Giờ ông chú không còn, chú Út Thắng cũng tha phương biền biệt luôn. Mỗi năm chú về neo bến mấy ngày, bước lên cầm tay bà thím hỏi: Má khỏe không? Chú mua nào cua ghẹ ốc mực mấy thùng xốp làm quà biếu. Ở chỗ chú đi qua thứ này rẻ lắm. Còn quê nhà hiếm thành ra đắt, chẳng mấy người dám mua ăn. Của hiếm ắt là của quý. Cô Ngà ăn chay, ngửi mùi tanh thì xây xẩm mặt mày, da mặt tái xanh phải xức dầu gió. Chú Út Thắng tỉ mẩn bốc mai, gỡ thịt giục bà thím, kệ chỉ, má ăn đi. Bà thím cầm cho chú vui rồi đặt lại chén cơm nhẹ giọng hiền từ: Thứ này má đâu còn ăn được.

Mấy lần nấu ăn cho bà nội, má nấu thêm, rồi xẻ nửa phần cho bà thím. Má nhũn nhặn, còn mỗi hai chị em bạn dâu hủ hỉ, có gì ngon nhớ tới nhau để còn biết thâm tình. Ở cái tuổi này rồi, má biểu, món ngon là món đơn giản. Cũng có khi cô Ngà bắt gặp tôi cắp cà mên đưa cho bà thím, cô ra chiều khách sáo, chậc lưỡi kêu má mày bày vẽ quá chừng. Chỉ được vậy rồi cô lại khoác áo lam, đeo túi vải bước đi. Tôi nghe trong gió tiếng chuông chùa đang ngân. Đêm nay cô Ngà phải tụng đủ bài kinh sám hối.

Chiều ấy qua nhà, tôi ra sau chái tìm tô ra cháo. Căn bếp nguội lạnh chỉ có siêu thuốc nam bắt lên cà ràng lửa cháy liu riu. Nồi niêu xooang chảo ngổn ngang. Con gà nòi nhảy lên giàn mổ cơm đổ ra ngoài vung vãi. Sàn nước nhẳm dấu chân vịt vừa lạch bạch đi qua cái trũng nước sình bùn. Rổ chén nằm cạnh cây nước giếng khoan, mặt ngoài bám đầy lá mục. Mùi ẩm mốc xộc ra theo cơn gió chướng. Bà thím ngồi trước hàng ba, bên cơi trầu chỉ còn hai lá héo, cái ống ngoái đóng khoen, bình vôi mẻ miệng, hai mắt trắng dã nhìn trời. Nhắm mưa không bây? Tôi vừa bưng cháo xuýt xoa hơi nóng đặt lên chiếc bàn xiêu vẹo vừa ngó theo. Dạ, mây chuyển đen kịn vầy chắc mưa. Mưa cho mát, ngủ cho ngon hen bà thím.

Bà thím gương mặt héo hắt cắm cúi ăn không nói tiếng nào nữa. Tôi gom cà mên bỏ chân ra về chỉ sợ chốc nữa không thấy đường qua cầu. Đi xa rồi ngoảnh lại vẫn thấy bóng người già đơn độc trong buổi chiều cô quạnh mây chuyển màu mưa. Bước chân tôi chùng chình. Và rồi không hiểu cớ gì quay lại. Xóm mất điện tối om, tôi thắp một ngọn đèn dầu có ống khói đặt lên bàn thờ. Gương mặt ông chú hiện ra sáng lòa mà đôi mắt lại nhiều u uẩn. Tôi thắp cho ông chú một nén nhang rồi ra sân ngồi chồm hổm chống cằm, giọng bà cụ non: Sao thím Út không chịu đẻ cho bà thím mớ cháu nội cho vui cửa vui nhà?

Không biết bà thím có nghe không, người tóc bạc vẫn chậm rãi ăn, khép nép ngồi. Cháo cá này hồi chiều má tôi đã lừa xương kỹ lưỡng ăn vào một buổi chiều thế này rất hợp. Tôi muốn ngồi lâu thêm chút nữa nhưng kẹt nỗi phải về soạn bài để khuya nay trở ra thị trấn sớm, ước chi mà có trường gần.

Lần khác về, má biểu, con mang cá kho cho bà thím ăn chiều. Tôi bưng chén cá đi, bà thím không có nhà, gió hắt vào tấm phên cửa phành phạch. Tôi lần đường cỏ xước ra bờ mẫu. Bà thím xắn quần tới gối cầm cái rổ xúc tép chấu dưới mương. Manh áo bà ba dính tre gai rách toạc mảng vai làm lộ mảnh da thịt nhăn nheo tím tái. Những con tép dính rong nhảy lách chách trong xô, vài con ốc lác vẫn còn đu nhau tình tứ. Hai bà cháu dắt tay nhau vô nhà. Tôi đốt lửa xỏ xâu nướng mấy con tép đất, bà thím biểu không dưng thèm quá. Rồi bà kể, hồi đó đi giữ trâu bà cũng xúc tép chấu xỏ xâu đốt rơm nướng với đám bạn, sao mà vui quá chừng! Má tôi nói người ta càng già sẽ càng nhỏ lại rồi không dưng ôm mặt khóc.

Tôi nấu nước nóng cho bà thím lau qua người rồi giúp bà thay bộ đồ khô ráo. Trong lúc tôi dở cơm ra bà thím ngồi cắt móng, những móng chân dày quặm chặt bùn đất, mặt móng ố vàng. Miếng lưỡi lam bén ngót trên đôi bàn tay run run lẹm vào chân bật máu. Tôi buông chén chạy tới. Nhà không ai hút thuốc nên không có gì cầm. Tôi ra mé sông bẻ mấy lá bần nhai đắp lên vết thương. Bà thím thấy tôi cuống quýt bẽn lẽn cười. Không đau đâu. Bà vụng về rồi nên làm con sợ.

Tôi đắp lá bần lấy vải vụn cột vết thương rồi bới cơm cho bà thím. Người tóc bạc ngồi xuống hít hà cơm thơm còn nóng hổi rồi cầm đũa lên và, móm mém nhai ngon lành. Trong lúc bà ăn, tôi chạy về nhà hỏi má lấy cái kềm cắt móng. Hồi trở lại bà thím đã ăn xong. Mặc chén đũa bỏ đó tôi ngồi xuống tỉ mẩn cắt từng cái móng thâm xì vằn vện. Bà thím nhìn tôi, lại bẽn lẽn cười. Tôi dìu bà thím vào giường nằm. Một lỗ thủng chót vót trên trần nhà, tôi nhìn lên, bóng tối đã dần đổ xuống. Một lỗ chiếu ẩm thủng dưới chân giường. Tôi lặng lẽ buông màn. Bà thím chỉ còn nhỏ xíu, nằm co ro như con tôm kho tàu giữa những chiếu mền nồng mùi ẩm mốc. Tôi tấn lại bốn góc mùng. Muỗi từ chỗ thủng chiếu bay lên vo ve. Tôi như kẻ rình mồi đưa tay đập mạnh. Tiếng vo ve càng lúc càng dày. Tôi cuốn một khoảnh mùng lấy mền quạt ra. Cởi chiếc áo gió đang mặc tôi đắp vào chỗ chiếu rách rồi buông mùng tấn lại. Tôi bước ra sân về. Gió thổi hắt vào hai cánh tay trần lạnh buốt.

Đan xong cặp chiếu bông cô Ngà rủ: Đi chùa với cô không? Tôi lắc đầu. Con bận làm bài tập.

Thời gian sau bận rộn, lịch học chính học phụ càng lúc càng dày đặc, tôi ít khi về nhà. Một bữa má điện ra biểu bây về gấp, bà thím mất.

Sao mà mất? Tôi bất ngờ đâm tức tối hỏi đổng. Má sụt sịt. Đêm ngủ thành ngủ luôn. Thôi vậy cũng là sướng. Tôi nhìn tấm lịch. Nhưng mai con phải thi hội thao rồi. Má nạt. Ba cái thi thố đó không quan trọng bằng thâm tình. Tôi òa lên khóc nhưng không phải vì giận má. Má và bà thím nào có ruột rà máu mủ gì đâu...

Khi tôi về thì chú Út Thắng vẫn còn ở xa. Bỏ ghe lại không đành mà chạy ghe về thì chịu chậm. Nghề sông nước nó vậy. Cô Ngà nhát gừng.

Má tôi rấm rứt khóc cạnh giường. Không dám tới ôm bà thím sợ nước mắt nhỏ xuống người chết là điều cấm kỵ. Cô Ngà đến vỗ vai: Thôi chị cũng đừng quá đau buồn để má em còn thong thả mà lên đường.

Khi chú Út Thắng về đến nơi cũng vừa lúc quan tài bà thím được đưa vào lò. Thím Út quỳ khóc nức nở: Má ơi má sao má không đợi vợ chồng con? Cô Ngà lắc đầu: Nghiệp báo.

Hỏa táng xong, những gì của bà thím còn lại chỉ là chiếc hũ sành nhỏ xíu. Cô Ngà bọc hũ sành vào manh vải màu nhạt, khi bước qua má tôi đang ngồi bẹp thất tha thất thểu, giọng cô thâm trầm: Để em đem má vô chùa. Quỳ dưới cặp chiếu bông dâng Mẹ, cô Ngà tụng 3 hồi kinh. Từ bỏ xác phàm. Sống mà ra đi. Con cầu cho má vãng sanh miền Tây phương cực lạc.

H.T.L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm