TIN TỨC

Chuyện về một quẻ Dịch trên Quốc lộ 1A

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-04 17:58:02
mail facebook google pos stwis
3892 lượt xem

LÂM HÀ

Từ đất Miễu
 

Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức[1] có từ bao giờ thì xem ra chỉ có bốn cây vên vên đại thụ trồng theo tứ trụ của dịch lý mới trả lời chính xác được. Nhưng vào năm 1971, người ta trồng mới một cây vên vên tại chỗ để đối chiếu. Sau 50 năm, cây vên vên mới vẫn chỉ có chiều cao và đường kính thân lớn bằng 1/8 so với cây vên vên có sẵn trước miễu. Phép suy đoán cho thấy bốn cây vên vên trước miễu phải có niên đại hơn 300 năm. Miễu nhỏ chỉ chừng 8 mét vuông, chính giữa là bàn thờ Địa Mẫu, bên trái là tủ xăm, bên phải là hòm công đức. Miễu đơn giản vậy nhưng trang trọng như tấm lòng cư dân thờ phụng. Nhìn về hướng chính diện, ra xa lộ Hà Nội là thấy đồi Tăng Nhơn Phú. Theo Dịch lý, đứng ở trước miễu có nội quái là Khôn (Thổ) và ngoại quái là Cấn (đồi Tăng Nhơn Phú) thành quẻ Địa Sơn Khiêm - một trong những quẻ tốt cho người quân tử. Miễu không có sắc phong của triều đình, không thờ tiên hiền mà thờ tổ mẫu. Khi đặt ra vấn đề về nguồn gốc miễu, nhiều người nêu rằng tại sao miễu không đặt trên đồi cao để khách thập phương bái vọng, lại ở lưng chừng đồi, đối mặt với đồi cao. Có lẽ chính diện tích nhỏ bé của miễu đã lý giải được nguồn cội. Trước khi Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Tân Bình 40 năm, quân của chúa Nguyễn đã phải 2 lần hành quân vào Nam dẹp giặc Mô Xoài - Bà Rịa (vào năm 1658) và loạn Hoàng Tiến (xung đột với Trần Thượng Xuyên, cả hai đều là người Minh Hương được chúa Nguyễn cho phép cư trú). Hành binh cần có đồn binh. Mà đã có đồn binh thì buộc phải có điền thổ đi kèm cho quân binh cùng dân binh hậu cần sản xuất lúa gạo -quân lương. Danh từ đồn điền cũng như chính sách đồn điền của nhà Nguyễn cũng xuất phát từ bối cảnh này. Xưa không có đường quốc lộ mà chỉ có lối mòn cho xe bò, xe ngựa di chuyển. Đồi Tăng Nhơn Phú trở thành một đồn tiền tiêu - đài quan sát lợi hại, còn khu đất miễu bà lại bằng phẳng thích hợp cho việc vận chuyển. Theo đúng binh pháp xưa, nơi này thích hợp làm căn cứ hậu cần quân lương. Theo đồn điền là dân binh, là cư dân nông nghiệp. Khi căn cứ hậu cần không còn, thì cộng đồng dân cư tại đó lại lập miễu. Miễu vừa thể hiện sự tôn thờ đấng tổ mẫu với nguyện cầu “an cư lạc nghiệp”, cho tình làng nghĩa xóm như cùng chung mẹ - yếu lý nhân tố chính của tinh thần dân tộc Việt; vừa là dấu ấn khoanh vùng xác định vùng cư dân đó của dân tộc Việt nhằm đối ứng với cộng đồng người Chân Lạp địa phương cũng như người Minh Hương di tản đến đất này cư trú. Lập xong miễu, cư dân người Việt đã trồng cây theo lối tứ trụ Đông -Tây- Nam- Bắc để đánh dấu giữ đất. Trên bản đồ địa chính năm 1836 của thời vua Tự Đức thì tại làng An Nhơn - tổng An Thủy - tỉnh Gia Định xưa, nay là khu phố 5 phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức đã có “ngôi miễu cùng khu đất thờ cúng”. Ngôi miễu cùng khu đất diện tích xưa 16.320 mét vuông này lần lượt được đánh dấu ghi nhận trên các bản đồ địa chính năm 1926 (thời Pháp thuộc) thuộc về sở đất đứng tên ông Nguyễn Văn Đây và vào năm 1933, 30 vị kỳ lão ở làng Tân Nhơn quyết định hùn tiền mua lại thửa đất này để hoàn toàn thành đất tín ngưỡng tôn giáo thuộc cộng đồng thổ miễu… Sau đó, miễu mới được trùng tu lại như hiện trạng lần cuối cùng năm 1945.

Thửa đất cùng ngôi miễu nằm sâu trong xóm ấp Gò Cát, bao quanh là rừng chồi, rồi tiếp nối là rừng cao su. Miễu là nơi quy tựu tinh thần cộng đồng cư dân người Việt và cũng là nơi mà Mặt trận Việt Minh tập hợp dân làng Tân Nhơn cùng công nhân cao su để phát động tổng khởi nghĩa vào tháng Tám 1945. Theo lời cụ Dương Văn Đẩu - cán bộ cách mạng lão thành ở Khu phố 5 phường Linh Trung kể lại thì Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức cũng chính là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ. Một nhánh của Địa đạo Thủ Đức khi đào đã vô tình làm đứt rễ cái của một cây vên vên trước miễu khiến thám báo ngụy đánh hơi được nơi này. Sau đó là cuộc hành quân càn quét bằng chiến xa cấp tiểu khu đánh vào khu vực Gò Cát cho mục tiêu Tìm- Diệt. Tiểu đoàn 4 Thủ Đức của Mặt trận Giải phóng Miền Nam được bảo toàn, nhưng rất nhiều du kích, đồng bào địa phương đã hy sinh cùng tổn thất không sao bù được là hệ thống địa đạo Thủ Đức bị san bằng không còn dấu vết.

Máu và thịt xương người yêu nước hòa trong cát xóm ấp Gò Cát, trong rừng chồi, rừng cao su để giữ an bình cho miễu Bà vẫn tổ chức lễ Kỳ Yên, cùng nhau củng cố tình làng nghĩa xóm để tiếp tục cuộc đấu tranh đòi thống nhất.

Và một kỳ duyên từ năm 1971 đã đến, để Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức được gọi bằng cái tên mới: Miễu Bà Vườn Lan.

Cổng vào miễu Bà Chúa Xứ với tường rào mới năm 2015.

Đến Vườn Lan
 

Người đến thuê đất Miễu Bà vào năm 1971 là thương gia Trần Kim Khử, sinh năm 1932, cựu thiếu tá nhiệm chức[2] của quân ngụy Sài Gòn - nguyên quận trưởng kiêm chi khu trưởng Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa. Do chống đối lại chủ trương “chỉnh lý cách mạng”để kéo dài chiến tranh của Nguyễn Khánh, ông Khử bị tước lon thiếu tá nhiệm chức và cho về hưu non ở tuổi 41. Ông Khử hiểu rõ vùng đất mà mình thuê, nhưng ông chọn nơi này vì bình độ khí hậu cũng như thời tiết thích ứng với loại hình trồng trọt của mình: Phong lan. Với sự tinh nhạy của một doanh nhân cùng với sự cần cù của nhà nông, ông Khử đã thành lập Vườn Sài Gòn Hoa Lan, biến phần diện tích sau miễu Bà thành vườn lan với đủ các giống loài sưu tầm được trong rừng Việt Nam mà ươm cấy cho mục tiêu xuất cảng ra nước ngoài. Miễu Bà trong bốn năm sau đó không chỉ là nơi mà dân địa phương đến để khấn niệm cầu xin, hay nơi ẩn nấp của cán bộ cách mạng với tư cách dân địa phương làm thuê chăm sóc phong lan theo thời vụ mà còn là nơi gặp gỡ tiếp xúc của các thành viên lực lượng thứ Ba mà đứng đầu là tướng Dương Văn Minh với đại diện của Khu ủy Sài gòn - Gia Định. Cuộc họp đầu tiên mà Luật sư Trần Ngọc Liễng tiến hành với nội các chính phủ mà tướng Dương Văn Minh sẽ thành lập vào năm 1975 đã diễn ra chính tại Vườn Lan này. Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, trong lúc ông chủ Vườn Sài Gòn Hoa Lan Trần Kim Khử còn đang suy nghĩ “phải làm gì”sau khi học tập cải tạo 3 ngày xong, thì Vườn Lan Miễu Bà lại tiếp một vị thương gia mới, chính là vị Trưởng Ban Tài chính đặc biệt Trung ương cục Miền Nam (N 2683) Nguyễn Văn Phi, tức Mười Phi, hay còn gọi là Mười Thăng Long, cũng là Giám đốc Sở Ngoại thương TP.HCM. Ông Mười Phi nói rõ nhiệm vụ của mình là thi hành theo chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng “Ngành Lan miền Nam phải tồn tại”, bởi trong hoàn cảnh khó khăn từ cuộc cấm vận - bao vây do Mỹ dẫn đầu, Việt Nam đang cực kỳ thiếu vốn ngoại tệ, mà Lan lại là mặt hàng xuất khẩu giá trị cao do chỉ có giới thượng lưu mới đủ điều kiện. Mà Vườn Sài Gòn Hoa Lan lại đã kết nối được thị trường Mỹ - Pháp - Anh - Nhật - Thái Lan qua hoạt động mua lan giống, bán lan rừng. Ngoài việc nối lại thị trường cũ, Sở Ngoại thương TP.HCM có nhiệm vụ tiếp cận thị trường Đông Âu và Liên Xô. Vườn Sài Gòn Hoa Lan giờ trở thành Cơ sở Liên hợp Lan mẫu xuất khẩu thuộc công ty Thủ công Mỹ nghệ Xuất khẩu TP.HCM của Sở Ngoại thương, đảm nhận vai trò đi đầu ngành Hoa Lan Việt Nam và gia đình ông Trần Kim Khử trở thành bộ phận kỹ thuật thực hiện phát triển và công tác thị trường hoa lan. Đó là giai đoạn mà mỗi lần xuất bản, Báo Ảnh Việt Nam đều phải dành 4 trang màu cho các giống lan mà Vườn Sài Gòn Hoa Lan sản xuất, là việc các phu nhân nguyên thủ trên thế giới mãn nguyện hài lòng khi nhận được chậu phong lan Việt Nam với cái tên riêng được đặt từ tên mình trước khi được cấy giống mà bán ra trên thị trường cũng như miễu Bà trở thành điểm du lịch sinh thái Lan rừng Việt Nam đối với du khách. Hai cái đầu kinh doanh của người chỉ huy N 2683 và viên cựu sĩ quan chế độ cũ nổi tiếng thẳng thắn đã cùng bên nhau cho sự nghiệp thu hút ngoại tệ vì lợi ích Việt Nam. Đến năm 1983, địa chính- địa danh thửa đất miễu Bà được đổi từ lô số 117 của bản đồ địa chính năm 1926 sang lô số 86 bản đồ địa chính Tăng Nhơn Phú theo Chỉ thị 219/TTg, theo hướng dẫn thì chỉ có người đang trực canh mới được đăng ký xin sử dụng đất, nhưng ông Khử đã cương quyết không đăng ký với lý do “Chủ đất thực sự là cộng đồng thổ miễu. Tôi chỉ là người thuê đất!”Vào năm 1985, Huyện Thủ Đức gửi thư mời Công ty Thủ công Mỹ nghệ Xuất nhập khẩu và ông Khử - Chủ nhiệm Cơ sở Liên hợp Lan mẫu xuất khẩu (Artex - Sài Gòn - Orchids) đến để được hướng dẫn đăng ký quyền sử dụng đất, nhưng ông Khử lại một lần nữa chối từ với lý do “Hợp đồng dân sự 15/4/ 1971 giữa cộng đồng thổ miễu dưới tên tôi vẫn có hiệu lực và tôi vẫn chỉ là người làm thuê. Tôi không thể đăng ký cũng như không thể đồng ý cho Công ty Thủ công Mỹ nghệ xuất khẩu đăng ký quyền sử dụng đất miễu Bà.”. Có thể ông Khử đã sống hết mình với mảnh đất này, dẫu cái lý “ai canh tác thì mới là chủ đất”cũng là cái lý mà nhiều người bám theo vào để tranh đoạt lợi ích đất đai, nhưng cách thể hiện hơi cực đoan khiến cả công ty Thủ công Mỹ nghệ xuất khẩu lẫn cơ sở của ông đều ít nhiều thương tổn và ông rời pháp nhân nhà nước để quay về với tư cách một cơ sở tư nhân như trước từ ngày 01 tháng 01 năm 1989. Vườn Sài Gòn Hoa Lan vẫn tiếp tục xuất khẩu Lan ra nước ngoài thông qua ủy thác công ty Đặc sản rừng Naforbird và thành công với cuộc triển lãm Hoa Lan tại Tokyo - Nhật Bản năm 1995. Cho đến năm 2006, tài sản của Vườn Lan là 276 giống Lan rừng Việt Nam và 17 giống Lan ngoại nhập với số cây trị giá hơn 5 tỷ rưỡi đồng.

Đất miễu đâu có phụ công người gìn giữ. Và cộng đồng thổ miễu nơi này xem ông Khử như người trong tộc họ…

Qua cơn lốc
 

Khi mua lại sở đất 1,6 ha này của ông Nguyễn Văn Đây vào năm 1933, 30 vị kỳ lão cũng đã dự liệu những phiền toái ở tương lai khi giao cho ông Nguyễn Văn Chấn đại diện đứng bộ và khai thuế bằng cách lập giao ước cụ thể ngay trong tờ bán đất “Nay chúng tôi bằng lòng bán đứt hết số đất này cho trong họ tộc mua đặng làm đất thổ miễu (…) trong họ mua để tên Nguyễn Văn Chấn 38 tuổi cũng ở trong làng Tân Nhơn, tên này đứng giấy giữ gìn, mỗi năm chỉ đóng thuế đất mà thôi. Còn giao ngày sau tên này và con cháu không đặng buôn bán đất này.”Sau khi ông Chấn chết, con ông là Nguyễn Văn Hữu thay cha làm công việc đứng tên và đóng thuế. Cũng chính ông Hữu lập hợp đồng cho thuê đất lập Vườn Lan với ông Khử, nhưng sự trung tín với cộng đồng thổ miễu của người trong tộc họ này đã không thể bền vững trước cơn lốc đô thị hóa. Có ba cháu gái gọi ông Chấn là ông nội đã bắt đầu lao vào giành quyền sử dụng đất miễu vườn lan ngay khi quốc lộ 1 A và xa lộ Hà Nội mở rộng để cho khu đất miễu Bà nằm giữa gò cát Linh Trung phát lộ vươn ra  thành đất mặt tiền đường. Lấy cớ ông nội đứng bộ và đóng thuế, những người này đòi quyền thừa kế khu đất bắt đầu từ năm 1991 (khi còn là Huyện Thủ Đức). Sau những nhùng nhằng điều tra, thư đi công văn lại từ huyện đến thành phố, ngày 21 tháng 11 năm 1995, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP.HCM Trương Tấn Sang đã ký quyết định 7838/QĐ-UB-NC về giải quyết khiếu nại đã bác đơn yêu cầu xin lại 16.320 mét vuông đất miễu - vườn lan. Quyết định giao lại cho Ủy ban Nhân dân huyện Thủ Đức quản lý, khi có kế hoạch sử dụng khu đất này phải có sự phê duyệt của Ủy ban Nhân dân TP.HCM và giải quyết những tồn tại theo đúng quy định hiện hành của nhà nước. Đây là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng với yêu cầu của các bà. Theo đó, Ủy ban Nhân dân Huyện Thủ Đức vẫn giữ nguyên hiện trạng miễu Bà Chúa Xứ với Vườn Lan. Việc thờ cúng vẫn được tổ chức bình thường. Tiếc thay, với trăm ngàn lý do, kẻ tham lại liên tục quấy rối và từ năm 2000 đến năm 2010, các Phó Chủ tịch của Ủy ban Nhân dân TP.HCM lần lượt ký các quyết định 4948/ QĐ - UB - TĐ ngày 27 /7 /2000, quyết định 4962/QĐ -UB ngày 10/8/2001, quyết định 718/QĐ -UB ngày 19 /2/2003 và 4752 ngày 15/10/2010 với những nội dung “tréo cẳng”nhau: khi thì chia nửa diện tích 16.320 mét vuông này cho những người khiếu kiện, một nửa còn lại cho người trực canh là ông Trần Kim Khử, khi thì cưỡng chế thu hồi toàn bộ đất miễu vườn lan, lúc thì giao riêng cho một gia đình trong nhóm khiếu kiện 1.000 mét vuông đất… Những quyết định này không chỉ gây chia rẽ cộng đồng thổ miễu mà còn khiến vườn lan của ông Khử lâm vào cảnh đình đốn hoạt động dẫn đến tiêu điều. Dân Gò Cát - Khu phố 5 Linh Trung cùng gia tộc 30 kỳ lão mua đất ngày xưa giờ lại khiếu kiện vì miễu Bà Chúa Xứ Vườn Lan là tài sản chung hợp nhất không thể phân chia của cộng đồng dân cư. Thanh tra chính phủ vào cuộc và đến tháng 9 năm 2011, Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh ra kiến nghị với Ủy ban Nhân dân TP.HCM với nội dung “Giữ Nguyên Quyết định 7838 ngày 21/11/1995 mà Chủ tịch UBND TP.HCM Trương Tấn Sang đã ký 16 năm về trước. Đồng thời hủy bỏ các quyết định trái ngược về vụ việc này sau thời điểm đó, công nhận tài sản chung hợp nhất không phân chia của cộng đồng dân cư Khu phố 5 - Linh Trung. Nếu có phát sinh tranh chấp gì với phần đất Miễu Bà thì thẩm quyền giải quyết thuộc về tòa án và áp dụng điều 126 Luật Đất đai năm 2004”

16 năm đơn thư tố cáo, giải quyết cho triệt để những kẻ quấy rối để cuối cùng cách hợp lý nhất - đúng pháp luật nhất là quay về quyết định ban đầu: Bác bỏ!

Với cộng đồng thổ miễu, với vườn lan và cả với chính quyền, đây là một bài học quá xót xa. Với những người gìn giữ đất này, kết quả tốt đẹp nọ đầy nước mắt. Ông Trần Kim Khử, người thuê đất đã 2 lần từ chối quyền sử dụng hợp pháp mảnh đất này đã từ trần vì bạo bệnh ngay đầu tháng Giêng năm 2012, trước cả khi Ủy ban Nhân dân TP.HCM ra thông báo cuối cùng.

Cuối năm 2021, gần tròn 10 năm sau đó, tôi về lại Miễu Bà Chúa Xứ Vườn Lan. Vòng rào, cổng đã được trùng tu lại trang nghiêm mà đơn giản. Vườn Lan mẫu xưa còn đó, nhưng giống loài lan giờ chỉ còn gần 100 và hoạt động mua bán không còn nhộn nhịp như trước nữa. Cũng phải thôi, hơn 15 năm trời không thể hoạt động vì lệnh giải tỏa của các quyết định oan trái kia, vườn lan đã đánh mất cơ hội vươn ra giới thiệu mình tại Pháp vào năm 2005, các khoản đầu tư sưu tầm giống mới đều đã đi theo đơn từ, kiện tụng giữ đất…Và cũng nên thừa nhận rằng mỗi thời mỗi khác đi nhiều rồi. Xưa, cố chủ tịch hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng xem Hoa Lan như một cơ hội đi đường tắt thu ngoại tệ. Nay đường tắt ấy đã nhiều người đi và Thủ Đức - thành phố mới phía Đông của Thành phố Hồ Chí Minh đã phải đi theo con đường mới để đón đầu tương lai: con đường công nghệ kỹ thuật. Miễu Bà với Vườn Lan vẫn còn đấy như một cái neo Thủ Đức với lịch sử, như một điểm du lịch, như một điểm tựa truyền thống văn hóa Việt. Thắp hương trong điện thờ Bà Chúa Xứ và ra Vườn Lan thắp hương cho bác Trần Kim Khử xong, tôi nhìn về hướng đồi Tăng Nhơn Phú để tự nghiệm rằng “Quẻ Địa Sơn Khiêm có lẽ là đây chăng? Khiêm cung đứng sau cho việc chung?”

Nhưng trước mắt tôi giờ là đường cao tốc, ba làn phân giới lại tạo thành 3 vệt liền nhau (tam liên)[3] tức quẻ Càn. Đứng ở trên đất miễu với nội quái là quẻ Khôn, giờ ngoại quái là quẻ Càn. Một quẻ còn tốt hơn nhiều so với quẻ Khiêm quá khứ mà tiền nhân để lại.

Quẻ Thái![4]

Quẻ khởi đầu cho Thành Phố Thủ Đức của tôi.

Từ hôm nay!

Bốn cây vên vên đại thụ trồng theo tứ trụ trước miễu (cây nhỏ hơn mới 50 tuổi được trồng để đối chứng và thay vào vị trí cây vị chết do đứt rễ cái vì địa đạo Thủ Đức)

Chính diện gian điện thờ Bà.


[1] Tọa lạc ở số 1080 Quốc lộ 1 A, khu phố 5, phường Linh Trung, Thành phố Thủ Đức

[2] Do chức vụ mà mang cấp bậc Thiếu tá, chứ không phải thiếu tá thực thụ. Khi bị giải nhiệm thì chỉ là Đại úy.

[3] Ba hào dương

[4] Địa Thiên Thái. Quẻ tốt mở đầu một thời kỳ mới yên bình, sung túc. Đầu năm được quẻ này thì người nhận xem như đại phúc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm