TIN TỨC

Chuyện về một quẻ Dịch trên Quốc lộ 1A

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-04 17:58:02
mail facebook google pos stwis
4031 lượt xem

LÂM HÀ

Từ đất Miễu
 

Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức[1] có từ bao giờ thì xem ra chỉ có bốn cây vên vên đại thụ trồng theo tứ trụ của dịch lý mới trả lời chính xác được. Nhưng vào năm 1971, người ta trồng mới một cây vên vên tại chỗ để đối chiếu. Sau 50 năm, cây vên vên mới vẫn chỉ có chiều cao và đường kính thân lớn bằng 1/8 so với cây vên vên có sẵn trước miễu. Phép suy đoán cho thấy bốn cây vên vên trước miễu phải có niên đại hơn 300 năm. Miễu nhỏ chỉ chừng 8 mét vuông, chính giữa là bàn thờ Địa Mẫu, bên trái là tủ xăm, bên phải là hòm công đức. Miễu đơn giản vậy nhưng trang trọng như tấm lòng cư dân thờ phụng. Nhìn về hướng chính diện, ra xa lộ Hà Nội là thấy đồi Tăng Nhơn Phú. Theo Dịch lý, đứng ở trước miễu có nội quái là Khôn (Thổ) và ngoại quái là Cấn (đồi Tăng Nhơn Phú) thành quẻ Địa Sơn Khiêm - một trong những quẻ tốt cho người quân tử. Miễu không có sắc phong của triều đình, không thờ tiên hiền mà thờ tổ mẫu. Khi đặt ra vấn đề về nguồn gốc miễu, nhiều người nêu rằng tại sao miễu không đặt trên đồi cao để khách thập phương bái vọng, lại ở lưng chừng đồi, đối mặt với đồi cao. Có lẽ chính diện tích nhỏ bé của miễu đã lý giải được nguồn cội. Trước khi Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Tân Bình 40 năm, quân của chúa Nguyễn đã phải 2 lần hành quân vào Nam dẹp giặc Mô Xoài - Bà Rịa (vào năm 1658) và loạn Hoàng Tiến (xung đột với Trần Thượng Xuyên, cả hai đều là người Minh Hương được chúa Nguyễn cho phép cư trú). Hành binh cần có đồn binh. Mà đã có đồn binh thì buộc phải có điền thổ đi kèm cho quân binh cùng dân binh hậu cần sản xuất lúa gạo -quân lương. Danh từ đồn điền cũng như chính sách đồn điền của nhà Nguyễn cũng xuất phát từ bối cảnh này. Xưa không có đường quốc lộ mà chỉ có lối mòn cho xe bò, xe ngựa di chuyển. Đồi Tăng Nhơn Phú trở thành một đồn tiền tiêu - đài quan sát lợi hại, còn khu đất miễu bà lại bằng phẳng thích hợp cho việc vận chuyển. Theo đúng binh pháp xưa, nơi này thích hợp làm căn cứ hậu cần quân lương. Theo đồn điền là dân binh, là cư dân nông nghiệp. Khi căn cứ hậu cần không còn, thì cộng đồng dân cư tại đó lại lập miễu. Miễu vừa thể hiện sự tôn thờ đấng tổ mẫu với nguyện cầu “an cư lạc nghiệp”, cho tình làng nghĩa xóm như cùng chung mẹ - yếu lý nhân tố chính của tinh thần dân tộc Việt; vừa là dấu ấn khoanh vùng xác định vùng cư dân đó của dân tộc Việt nhằm đối ứng với cộng đồng người Chân Lạp địa phương cũng như người Minh Hương di tản đến đất này cư trú. Lập xong miễu, cư dân người Việt đã trồng cây theo lối tứ trụ Đông -Tây- Nam- Bắc để đánh dấu giữ đất. Trên bản đồ địa chính năm 1836 của thời vua Tự Đức thì tại làng An Nhơn - tổng An Thủy - tỉnh Gia Định xưa, nay là khu phố 5 phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức đã có “ngôi miễu cùng khu đất thờ cúng”. Ngôi miễu cùng khu đất diện tích xưa 16.320 mét vuông này lần lượt được đánh dấu ghi nhận trên các bản đồ địa chính năm 1926 (thời Pháp thuộc) thuộc về sở đất đứng tên ông Nguyễn Văn Đây và vào năm 1933, 30 vị kỳ lão ở làng Tân Nhơn quyết định hùn tiền mua lại thửa đất này để hoàn toàn thành đất tín ngưỡng tôn giáo thuộc cộng đồng thổ miễu… Sau đó, miễu mới được trùng tu lại như hiện trạng lần cuối cùng năm 1945.

Thửa đất cùng ngôi miễu nằm sâu trong xóm ấp Gò Cát, bao quanh là rừng chồi, rồi tiếp nối là rừng cao su. Miễu là nơi quy tựu tinh thần cộng đồng cư dân người Việt và cũng là nơi mà Mặt trận Việt Minh tập hợp dân làng Tân Nhơn cùng công nhân cao su để phát động tổng khởi nghĩa vào tháng Tám 1945. Theo lời cụ Dương Văn Đẩu - cán bộ cách mạng lão thành ở Khu phố 5 phường Linh Trung kể lại thì Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức cũng chính là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ. Một nhánh của Địa đạo Thủ Đức khi đào đã vô tình làm đứt rễ cái của một cây vên vên trước miễu khiến thám báo ngụy đánh hơi được nơi này. Sau đó là cuộc hành quân càn quét bằng chiến xa cấp tiểu khu đánh vào khu vực Gò Cát cho mục tiêu Tìm- Diệt. Tiểu đoàn 4 Thủ Đức của Mặt trận Giải phóng Miền Nam được bảo toàn, nhưng rất nhiều du kích, đồng bào địa phương đã hy sinh cùng tổn thất không sao bù được là hệ thống địa đạo Thủ Đức bị san bằng không còn dấu vết.

Máu và thịt xương người yêu nước hòa trong cát xóm ấp Gò Cát, trong rừng chồi, rừng cao su để giữ an bình cho miễu Bà vẫn tổ chức lễ Kỳ Yên, cùng nhau củng cố tình làng nghĩa xóm để tiếp tục cuộc đấu tranh đòi thống nhất.

Và một kỳ duyên từ năm 1971 đã đến, để Miễu Bà Chúa Xứ Thủ Đức được gọi bằng cái tên mới: Miễu Bà Vườn Lan.

Cổng vào miễu Bà Chúa Xứ với tường rào mới năm 2015.

Đến Vườn Lan
 

Người đến thuê đất Miễu Bà vào năm 1971 là thương gia Trần Kim Khử, sinh năm 1932, cựu thiếu tá nhiệm chức[2] của quân ngụy Sài Gòn - nguyên quận trưởng kiêm chi khu trưởng Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa. Do chống đối lại chủ trương “chỉnh lý cách mạng”để kéo dài chiến tranh của Nguyễn Khánh, ông Khử bị tước lon thiếu tá nhiệm chức và cho về hưu non ở tuổi 41. Ông Khử hiểu rõ vùng đất mà mình thuê, nhưng ông chọn nơi này vì bình độ khí hậu cũng như thời tiết thích ứng với loại hình trồng trọt của mình: Phong lan. Với sự tinh nhạy của một doanh nhân cùng với sự cần cù của nhà nông, ông Khử đã thành lập Vườn Sài Gòn Hoa Lan, biến phần diện tích sau miễu Bà thành vườn lan với đủ các giống loài sưu tầm được trong rừng Việt Nam mà ươm cấy cho mục tiêu xuất cảng ra nước ngoài. Miễu Bà trong bốn năm sau đó không chỉ là nơi mà dân địa phương đến để khấn niệm cầu xin, hay nơi ẩn nấp của cán bộ cách mạng với tư cách dân địa phương làm thuê chăm sóc phong lan theo thời vụ mà còn là nơi gặp gỡ tiếp xúc của các thành viên lực lượng thứ Ba mà đứng đầu là tướng Dương Văn Minh với đại diện của Khu ủy Sài gòn - Gia Định. Cuộc họp đầu tiên mà Luật sư Trần Ngọc Liễng tiến hành với nội các chính phủ mà tướng Dương Văn Minh sẽ thành lập vào năm 1975 đã diễn ra chính tại Vườn Lan này. Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, trong lúc ông chủ Vườn Sài Gòn Hoa Lan Trần Kim Khử còn đang suy nghĩ “phải làm gì”sau khi học tập cải tạo 3 ngày xong, thì Vườn Lan Miễu Bà lại tiếp một vị thương gia mới, chính là vị Trưởng Ban Tài chính đặc biệt Trung ương cục Miền Nam (N 2683) Nguyễn Văn Phi, tức Mười Phi, hay còn gọi là Mười Thăng Long, cũng là Giám đốc Sở Ngoại thương TP.HCM. Ông Mười Phi nói rõ nhiệm vụ của mình là thi hành theo chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng “Ngành Lan miền Nam phải tồn tại”, bởi trong hoàn cảnh khó khăn từ cuộc cấm vận - bao vây do Mỹ dẫn đầu, Việt Nam đang cực kỳ thiếu vốn ngoại tệ, mà Lan lại là mặt hàng xuất khẩu giá trị cao do chỉ có giới thượng lưu mới đủ điều kiện. Mà Vườn Sài Gòn Hoa Lan lại đã kết nối được thị trường Mỹ - Pháp - Anh - Nhật - Thái Lan qua hoạt động mua lan giống, bán lan rừng. Ngoài việc nối lại thị trường cũ, Sở Ngoại thương TP.HCM có nhiệm vụ tiếp cận thị trường Đông Âu và Liên Xô. Vườn Sài Gòn Hoa Lan giờ trở thành Cơ sở Liên hợp Lan mẫu xuất khẩu thuộc công ty Thủ công Mỹ nghệ Xuất khẩu TP.HCM của Sở Ngoại thương, đảm nhận vai trò đi đầu ngành Hoa Lan Việt Nam và gia đình ông Trần Kim Khử trở thành bộ phận kỹ thuật thực hiện phát triển và công tác thị trường hoa lan. Đó là giai đoạn mà mỗi lần xuất bản, Báo Ảnh Việt Nam đều phải dành 4 trang màu cho các giống lan mà Vườn Sài Gòn Hoa Lan sản xuất, là việc các phu nhân nguyên thủ trên thế giới mãn nguyện hài lòng khi nhận được chậu phong lan Việt Nam với cái tên riêng được đặt từ tên mình trước khi được cấy giống mà bán ra trên thị trường cũng như miễu Bà trở thành điểm du lịch sinh thái Lan rừng Việt Nam đối với du khách. Hai cái đầu kinh doanh của người chỉ huy N 2683 và viên cựu sĩ quan chế độ cũ nổi tiếng thẳng thắn đã cùng bên nhau cho sự nghiệp thu hút ngoại tệ vì lợi ích Việt Nam. Đến năm 1983, địa chính- địa danh thửa đất miễu Bà được đổi từ lô số 117 của bản đồ địa chính năm 1926 sang lô số 86 bản đồ địa chính Tăng Nhơn Phú theo Chỉ thị 219/TTg, theo hướng dẫn thì chỉ có người đang trực canh mới được đăng ký xin sử dụng đất, nhưng ông Khử đã cương quyết không đăng ký với lý do “Chủ đất thực sự là cộng đồng thổ miễu. Tôi chỉ là người thuê đất!”Vào năm 1985, Huyện Thủ Đức gửi thư mời Công ty Thủ công Mỹ nghệ Xuất nhập khẩu và ông Khử - Chủ nhiệm Cơ sở Liên hợp Lan mẫu xuất khẩu (Artex - Sài Gòn - Orchids) đến để được hướng dẫn đăng ký quyền sử dụng đất, nhưng ông Khử lại một lần nữa chối từ với lý do “Hợp đồng dân sự 15/4/ 1971 giữa cộng đồng thổ miễu dưới tên tôi vẫn có hiệu lực và tôi vẫn chỉ là người làm thuê. Tôi không thể đăng ký cũng như không thể đồng ý cho Công ty Thủ công Mỹ nghệ xuất khẩu đăng ký quyền sử dụng đất miễu Bà.”. Có thể ông Khử đã sống hết mình với mảnh đất này, dẫu cái lý “ai canh tác thì mới là chủ đất”cũng là cái lý mà nhiều người bám theo vào để tranh đoạt lợi ích đất đai, nhưng cách thể hiện hơi cực đoan khiến cả công ty Thủ công Mỹ nghệ xuất khẩu lẫn cơ sở của ông đều ít nhiều thương tổn và ông rời pháp nhân nhà nước để quay về với tư cách một cơ sở tư nhân như trước từ ngày 01 tháng 01 năm 1989. Vườn Sài Gòn Hoa Lan vẫn tiếp tục xuất khẩu Lan ra nước ngoài thông qua ủy thác công ty Đặc sản rừng Naforbird và thành công với cuộc triển lãm Hoa Lan tại Tokyo - Nhật Bản năm 1995. Cho đến năm 2006, tài sản của Vườn Lan là 276 giống Lan rừng Việt Nam và 17 giống Lan ngoại nhập với số cây trị giá hơn 5 tỷ rưỡi đồng.

Đất miễu đâu có phụ công người gìn giữ. Và cộng đồng thổ miễu nơi này xem ông Khử như người trong tộc họ…

Qua cơn lốc
 

Khi mua lại sở đất 1,6 ha này của ông Nguyễn Văn Đây vào năm 1933, 30 vị kỳ lão cũng đã dự liệu những phiền toái ở tương lai khi giao cho ông Nguyễn Văn Chấn đại diện đứng bộ và khai thuế bằng cách lập giao ước cụ thể ngay trong tờ bán đất “Nay chúng tôi bằng lòng bán đứt hết số đất này cho trong họ tộc mua đặng làm đất thổ miễu (…) trong họ mua để tên Nguyễn Văn Chấn 38 tuổi cũng ở trong làng Tân Nhơn, tên này đứng giấy giữ gìn, mỗi năm chỉ đóng thuế đất mà thôi. Còn giao ngày sau tên này và con cháu không đặng buôn bán đất này.”Sau khi ông Chấn chết, con ông là Nguyễn Văn Hữu thay cha làm công việc đứng tên và đóng thuế. Cũng chính ông Hữu lập hợp đồng cho thuê đất lập Vườn Lan với ông Khử, nhưng sự trung tín với cộng đồng thổ miễu của người trong tộc họ này đã không thể bền vững trước cơn lốc đô thị hóa. Có ba cháu gái gọi ông Chấn là ông nội đã bắt đầu lao vào giành quyền sử dụng đất miễu vườn lan ngay khi quốc lộ 1 A và xa lộ Hà Nội mở rộng để cho khu đất miễu Bà nằm giữa gò cát Linh Trung phát lộ vươn ra  thành đất mặt tiền đường. Lấy cớ ông nội đứng bộ và đóng thuế, những người này đòi quyền thừa kế khu đất bắt đầu từ năm 1991 (khi còn là Huyện Thủ Đức). Sau những nhùng nhằng điều tra, thư đi công văn lại từ huyện đến thành phố, ngày 21 tháng 11 năm 1995, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP.HCM Trương Tấn Sang đã ký quyết định 7838/QĐ-UB-NC về giải quyết khiếu nại đã bác đơn yêu cầu xin lại 16.320 mét vuông đất miễu - vườn lan. Quyết định giao lại cho Ủy ban Nhân dân huyện Thủ Đức quản lý, khi có kế hoạch sử dụng khu đất này phải có sự phê duyệt của Ủy ban Nhân dân TP.HCM và giải quyết những tồn tại theo đúng quy định hiện hành của nhà nước. Đây là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng với yêu cầu của các bà. Theo đó, Ủy ban Nhân dân Huyện Thủ Đức vẫn giữ nguyên hiện trạng miễu Bà Chúa Xứ với Vườn Lan. Việc thờ cúng vẫn được tổ chức bình thường. Tiếc thay, với trăm ngàn lý do, kẻ tham lại liên tục quấy rối và từ năm 2000 đến năm 2010, các Phó Chủ tịch của Ủy ban Nhân dân TP.HCM lần lượt ký các quyết định 4948/ QĐ - UB - TĐ ngày 27 /7 /2000, quyết định 4962/QĐ -UB ngày 10/8/2001, quyết định 718/QĐ -UB ngày 19 /2/2003 và 4752 ngày 15/10/2010 với những nội dung “tréo cẳng”nhau: khi thì chia nửa diện tích 16.320 mét vuông này cho những người khiếu kiện, một nửa còn lại cho người trực canh là ông Trần Kim Khử, khi thì cưỡng chế thu hồi toàn bộ đất miễu vườn lan, lúc thì giao riêng cho một gia đình trong nhóm khiếu kiện 1.000 mét vuông đất… Những quyết định này không chỉ gây chia rẽ cộng đồng thổ miễu mà còn khiến vườn lan của ông Khử lâm vào cảnh đình đốn hoạt động dẫn đến tiêu điều. Dân Gò Cát - Khu phố 5 Linh Trung cùng gia tộc 30 kỳ lão mua đất ngày xưa giờ lại khiếu kiện vì miễu Bà Chúa Xứ Vườn Lan là tài sản chung hợp nhất không thể phân chia của cộng đồng dân cư. Thanh tra chính phủ vào cuộc và đến tháng 9 năm 2011, Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh ra kiến nghị với Ủy ban Nhân dân TP.HCM với nội dung “Giữ Nguyên Quyết định 7838 ngày 21/11/1995 mà Chủ tịch UBND TP.HCM Trương Tấn Sang đã ký 16 năm về trước. Đồng thời hủy bỏ các quyết định trái ngược về vụ việc này sau thời điểm đó, công nhận tài sản chung hợp nhất không phân chia của cộng đồng dân cư Khu phố 5 - Linh Trung. Nếu có phát sinh tranh chấp gì với phần đất Miễu Bà thì thẩm quyền giải quyết thuộc về tòa án và áp dụng điều 126 Luật Đất đai năm 2004”

16 năm đơn thư tố cáo, giải quyết cho triệt để những kẻ quấy rối để cuối cùng cách hợp lý nhất - đúng pháp luật nhất là quay về quyết định ban đầu: Bác bỏ!

Với cộng đồng thổ miễu, với vườn lan và cả với chính quyền, đây là một bài học quá xót xa. Với những người gìn giữ đất này, kết quả tốt đẹp nọ đầy nước mắt. Ông Trần Kim Khử, người thuê đất đã 2 lần từ chối quyền sử dụng hợp pháp mảnh đất này đã từ trần vì bạo bệnh ngay đầu tháng Giêng năm 2012, trước cả khi Ủy ban Nhân dân TP.HCM ra thông báo cuối cùng.

Cuối năm 2021, gần tròn 10 năm sau đó, tôi về lại Miễu Bà Chúa Xứ Vườn Lan. Vòng rào, cổng đã được trùng tu lại trang nghiêm mà đơn giản. Vườn Lan mẫu xưa còn đó, nhưng giống loài lan giờ chỉ còn gần 100 và hoạt động mua bán không còn nhộn nhịp như trước nữa. Cũng phải thôi, hơn 15 năm trời không thể hoạt động vì lệnh giải tỏa của các quyết định oan trái kia, vườn lan đã đánh mất cơ hội vươn ra giới thiệu mình tại Pháp vào năm 2005, các khoản đầu tư sưu tầm giống mới đều đã đi theo đơn từ, kiện tụng giữ đất…Và cũng nên thừa nhận rằng mỗi thời mỗi khác đi nhiều rồi. Xưa, cố chủ tịch hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng xem Hoa Lan như một cơ hội đi đường tắt thu ngoại tệ. Nay đường tắt ấy đã nhiều người đi và Thủ Đức - thành phố mới phía Đông của Thành phố Hồ Chí Minh đã phải đi theo con đường mới để đón đầu tương lai: con đường công nghệ kỹ thuật. Miễu Bà với Vườn Lan vẫn còn đấy như một cái neo Thủ Đức với lịch sử, như một điểm du lịch, như một điểm tựa truyền thống văn hóa Việt. Thắp hương trong điện thờ Bà Chúa Xứ và ra Vườn Lan thắp hương cho bác Trần Kim Khử xong, tôi nhìn về hướng đồi Tăng Nhơn Phú để tự nghiệm rằng “Quẻ Địa Sơn Khiêm có lẽ là đây chăng? Khiêm cung đứng sau cho việc chung?”

Nhưng trước mắt tôi giờ là đường cao tốc, ba làn phân giới lại tạo thành 3 vệt liền nhau (tam liên)[3] tức quẻ Càn. Đứng ở trên đất miễu với nội quái là quẻ Khôn, giờ ngoại quái là quẻ Càn. Một quẻ còn tốt hơn nhiều so với quẻ Khiêm quá khứ mà tiền nhân để lại.

Quẻ Thái![4]

Quẻ khởi đầu cho Thành Phố Thủ Đức của tôi.

Từ hôm nay!

Bốn cây vên vên đại thụ trồng theo tứ trụ trước miễu (cây nhỏ hơn mới 50 tuổi được trồng để đối chứng và thay vào vị trí cây vị chết do đứt rễ cái vì địa đạo Thủ Đức)

Chính diện gian điện thờ Bà.


[1] Tọa lạc ở số 1080 Quốc lộ 1 A, khu phố 5, phường Linh Trung, Thành phố Thủ Đức

[2] Do chức vụ mà mang cấp bậc Thiếu tá, chứ không phải thiếu tá thực thụ. Khi bị giải nhiệm thì chỉ là Đại úy.

[3] Ba hào dương

[4] Địa Thiên Thái. Quẻ tốt mở đầu một thời kỳ mới yên bình, sung túc. Đầu năm được quẻ này thì người nhận xem như đại phúc.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm