TIN TỨC

Miên man Xuân Lợi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-23 09:09:23
mail facebook google pos stwis
1962 lượt xem

PHẠM XUÂN NGUYÊN

 

(Đọc tập thơ Nghiêng phía miên man của Xuân Lợi, NXB Hội Nhà Văn, 2024)

Không phải vì tên tập thơ mà tôi đặt tên bài viết này như vậy. Nhưng cũng đúng là vậy, chính vì câu thơ “nghiêng phía miên man” đã như một ký hiệu cho tôi nhận ra tâm hồn và cảm xúc của tác giả tập thơ. Xuân Lợi như không viết thơ mà anh mượn câu từ cho những rung động của hồn mình chảy thành vần điệu. Mà tâm hồn Xuân Lợi lại rất dễ rung động, vang ngân trước bất kỳ biểu hiện nào của cuộc sống. Ngỡ như anh nhìn vào đâu cũng tìm cách gieo vần gọi thơ. Thơ đó là người đó, câu này vận vào được cho Xuân Lợi. Anh gọi thơ mình là “nhâm nhi bối rối” nghĩ cũng đúng. Thơ Xuân Lợi mộc mạc và chân thật.

Ta hãy đọc những bài thơ riêng tư của anh, tức là những bài anh viết từ cuộc sống của gia đình mình, bản thân mình. Xuân Lợi viết về người Mẹ goá bụa từ tuổi hai mươi, ở vậy sáu mươi năm làm dâu, nhớ mẹ Om cơm môi mớm cho con đến giờ. Câu thơ nửa đầu “om cơm môi mớm” là nhớ lại cảnh mẹ nuôi mình hồi bé dại theo cách cổ truyền của mẹ nông thôn Việt Nam, nửa sau “cho con đến giờ” là thấy mình sáu mươi năm cuộc đời vẫn còn bé dại trong mắt mẹ, vẫn phải nhờ vào sự chăm sóc của mẹ. Năm tròn một vòng đời hoa giáp (2019) anh viết bài “Tự tình” như một chân dung tự hoạ.

 

Buồn vui công chức vô thường

Băn khoăn trăn trở khôn nhường... ấy ơi

Thầm thì “Múa gọi là” chơi

Gửi hồn con số nhắn lời minh linh....

 

“Múa gọi là” là cách tác giả đọc lái tên tập thơ trước của mình “Lá gọi mùa”. Nhưng ba chữ đọc lái đó lại nói được tâm trạng người của một công chức trong bộ máy, múa may gọi là sống ở đời. Thân xác thì ngày ngày gắn với bàn giấy, với nghiệp kế toán con số mà câu thơ tự trào có thể làm bật cười trên vê dưới chỉnh nhầm đường lửng lơ, còn tâm hồn thì để ở nơi nhắn lời minh linh. Hai chữ “minh linh” này tác giả dùng ở mấy chỗ trong tập thơ, giải nghĩa nó ra e mông lung, mà đọc lên lại cũng thấy mông lung. Thôi thì “ấy ơi” là ai ơi sẽ hiểu nỗi lòng của người cất tiếng gọi đó. “Em ơi có bao nhiêu sáu mươi năm cuộc đời” lời một bài hát đã réo rắt bao lâu nay trong lòng người, thì lời thơ Xuân Lợi cũng ngậm ngùi như vậy Nổi chìm phận kiếp duyên sinh / Sáu mươi chóng vánh đời mình là bao.

Ở bài thơ mà tên bài được lấy làm tên tập Xuân Lợi nói nỗi lòng người cha đối với đứa con gái học trường Y. Chỉ hai câu Con chăm học vì yêu mẹ nhất / Ít vu vơ vì sợ ba buồn đã nói được cả lòng mẹ cha và tính cách người con. Tấm lòng cha thương con được diễn tả rất cụ thể, rất thật, đọc lên thấy rưng rưng:

 

Ba cưng chiều thương từng bữa cơm

Lo da diết lưng rau thiếu cá

Con gái mê canh chua măng khế

Dăm ba ngày điện hỏi han con

Nhưng tình thương của người cha đối với con gái không chỉ ở cơm ăn nước uống khi xa nhà. Xuân Lợi kết lại bài thơ bằng nỗi lo đường đời cho con. Khi con cái rời vòng tay cha mẹ bước ra đời, bước vào xã hội, những bậc sinh thành vừa mừng vừa lo. Cái lo biến thành cái nghĩ. Cái nghĩ không biết làm sao giúp được con, không cách nào còn có thể cầm tay dắt con đi như hồi bé dại hoá thành nỗi miên man đau đáu trong tâm trí. Con gái tính mơ màng bồng bột / Trở mình cha nghiêng phía miên man. Bốn chữ cuối câu thơ cuối bài thơ đã nói được bằng thơ nỗi niềm ám ảnh người cha, và người đọc thơ từ đó lại bị ám ảnh nỗi niềm này.

Nhà thơ  Xuân Lợi

Cũng nỗi lòng người cha nhưng là nỗi đau tột cùng của người cha mất đứa con trai. Bài thơ “Rụng rời” Xuân Lợi ghìm tiếng khóc, tiếng nấc tiếc thương con, đau cho mình trước cảnh “lá xanh rụng xuống, lá vàng ở lại”, nhìn ảnh con trên bàn thờ mà âm dương chia lìa Tượng hình chai bóng nghe nói chẳng thưa lời. Nghiêng phía miên man của Xuân Lợi là nghiêng về những nỗi niềm thân phận như vậy. Miên man chìm đắm.

Từ phận mình Xuân Lợi chạm đến những phận người khác, như những người lính vượt sông Thạch Hãn năm nào để nhìn sông bây giờ thấy đó là nghĩa trang sông: Đêm chới với dòng sông màu đỏ / Nghĩa trang sông không nấm mộ/ Dòng tên. Đã nhiều người viết về dòng sông Thạch Hãn đau thương bi hùng trong 81 ngày đêm chiến đấu giữ Thành cổ Quảng Trị với nhiều câu thơ buốt nhói lòng. Xuân Lợi góp vào đó một thanh xuân đôi mắt trong veo của người em gái bây giờ bên nghĩa trang sông nhìn gì ngấn nước xa xăm. Thế đã đủ ngấm cái giá của chiến thắng hôm qua và hoà bình hôm nay. Vốn cũng từng là người lính nên Xuân Lợi nhạy cảm với những hy sinh của đồng đội không chỉ trong thời chiến mà cả thời bình. Anh đã có thơ cho những đồng đội trẻ đã hy sinh khi giúp đồng bào miền Trung những ngày bão lụt dữ dội mấy năm qua, với cảnh: Em gào thét thương nhớ biển sóng mênh mông/ Âu chờ, lạ thành quen vọng phu hóa đá/ Nghĩa trang nào đếm được tình rừng xanh trút lá/ Bảo tàng đâu đong nước mắt đêm thâu ới chồng!

Xuân Lợi học đại học tài chính kế toán, ra trường đã đánh bạn với con số tính toán từ Sở công nghiệp Bình Trị Thiên đến Sở Thuỷ sản rồi Sở Nông nghiệp Quảng Trị cho đến ngày về hưu tại quê nhà. Đời công chức nhàn nhạt tháng ngày đã được anh nói đến trong thơ bằng những câu thơ mang vị tự trào như trong bài thơ đã dẫn trên. Nhưng đấy là con người công sở giữa bốn bức tường khép kín. Còn con người cảm xúc, người thơ ở Xuân Lợi thì khi ra với bên ngoài, đến với những công trình công việc của nghề nghiệp mình lại dễ dàng rung lên những xúc động ân tình. Nhưng ở mảng thơ tôi gọi là “viết ngoài mình” này Xuân Lợi thường chưa đi tới được mình trong thơ. Ở đây chính sự miên man có khi làm anh lan man kể lể trong thơ, nhất là ở những bài anh viết về những việc những sự ở bên ngoài, nhân một dịp nào đấy. Thơ kỷ niệm không phải là không đáng viết, không thể viết hay, nhưng nhà thơ chỉ viết được hay khi có xúc động đủ độ chín, không nệ vào sự thực ngoại cảnh mà phải lấy độ chín của cảm xúc của tâm hồn. Những bài đứng được trong tập thơ này của Xuân Lợi chính là khi tác giả viết từ vang động của tâm hồn trước thực tại. Người đọc không biết và không cần biết cảnh này ở đâu, người ấy là ai, việc đó thế nào, chỉ biết tâm hồn nhà thơ đã rung lên trong vần điệu câu chữ làm hồn mình cũng rung lên. Cái miên man trong thơ Xuân Lợi như vậy nên cần thiết là của tình chứ không phải của kể. Nếu được muốn, tôi muốn thơ anh vẫn là cứ miên man và “vu vơ” (tên một bài trong tập) của tâm hồn. Như ở bài anh viết về đám cưới con gái thư lấy chồng miền biển ở Hạ Long thì hai câu cuối là có thể đọng lại tình: Bờ cũ sóng say ôm hôn mãi / Biển vỗ bờ ru ôm cát hát yêu. 

Thơ miên man cũng dễ khiến người thơ lơ lửng mà bài “Bỗng quên” là bài có thể đại diện được nhất cho hồn thơ Xuân Lợi. Các trạng thái bất chợt “im, nghe, buồn, hay, thương, đau, thèm, ghen, hờn” sau chữ “bỗng” là biểu hiện cụ thể của những nhớ nhung, luyến tiếc, xót xa, nó là những âm cao của cung đàn tình yêu, để khi tất cả những trạng thái đó rút lại vào “Bỗng hồn” thì chùng xuống trong một nốt trầm “Bỗng quên”. Thể thơ lục bát ở đây tăng thêm nhạc tính cho thơ khiến hồn và tình càng chơi vơi, vì thế bài thơ tưởng nhẹ nhàng mà day dứt. Nói tới lục bát của thơ Xuân Lợi thì có thể kể thêm bài “Tóc nâu một người”. Bài thơ vào đầu nói nắng trưa nhưng đến cuối lại ra đêm rằm, chắc tác giả để mạch cảm xúc miên man dắt đi, hoặc giả tác giả muốn nói cây cau ở hai thời điểm khác nhau để diễn tả được ý thơ. Câu thơ Ngực căng bẹ sữa tròn đầy ái ân tôi đọc giật mình vì chưa thấy ai tả cái bẹ cau hoặc so sánh ngực thiếu phụ với bẹ cau đậm sắc dục đến vậy. Đọc thơ Xuân Lợi đôi lúc giật mình khoái chá được nhâm nhi nhấm nháp những câu thơ so sánh bất ngờ không có chữ “như” như vậy. Hãy đọc thêm hai câu này: Biết em thời lúa đòng thì con gái /  Hương đồng ngậm sữa hạt mẩy đa tình (Ngập ngừng rưng rưng).

Điệu tâm hồn miên man lơ lửng của Xuân Lợi lại dễ buông cho những câu thơ dãn ra dặt dìu đến có lúc chữ chen chữ cuốn nhau đi. Hình như đó là cách tác giả tạo nhạc tính cho câu thơ để diễn tả lòng mình. Bài thơ vì vậy có khi cốt ở nhạc chứ không phải ở ý. Có phải vì thế mà một số nhạc sĩ đã tìm thấy cảm hứng ở thơ anh để phổ thành lời ca tiếng nhạc mà bài “Nhớ hoài sông trăng” viết về con sông Nhật Lệ (Quảng Bình) là thí dụ tiêu biểu. Hoặc như bài “Hoa Mua” viết theo thể thơ NamKau, trong một câu nhắc lại cách chơi chữ “hoa mua ai bán mà mua”. Nhưng cả bài là một điệu thương hoa, say hoa, say tình bằng những câu chữ buông lơi mà chỉ đọc thôi đã phải nương theo nhịp và nhạc của câu thơ:

 

Hoa mua giọt tím đong đầy mi mắt

Hương vàng phảng phất điệu đàng lưng ong lượn

Mảnh mai ai bán đòi mua..!

 

Rực rỡ hơn thua dễ gì mùa hoa dại

Môi son mềm mại liệu thắm mãi sợ hơn phai…

Xuân Lợi thường đặt những câu trải dài miên man này vào cuối bài để kết lại mà mở ra, để tạo cảm xúc ngân nga vương vấn. Những thanh không thanh huyền, những vần nối nhau trong một câu vì vậy hay được tác giả sử dụng. Và khi đọc những câu những bài như vậy của Xuân Lợi thường khi cũng đừng dùng logic luận lý để suy luận, so đo. Thơ mà!

 

Cầu vồng đa sắc làn mây mong manh ửng đôi má

Dạ hương thơm mát nhấn nhá trái ngọt đầu cành.

(Dạ hương)

 

Chiều xuân hoa sóng nắng ru người.

                                                        Ngóng trông bật khóc

Bóng lung linh thoáng chốc ngờ ngợ…

                                                        rơi nghiêng mất rồi!

(Rơi nghiêng mất rồi)

 

Đôi mắt trao nhau chới với hơn ngàn lần ân ái

Tình lỡ xao lòng ngần ngại mãi bâng khuâng!

(Mãi bâng khuâng)

 

Nhưng cũng có khi Xuân Lợi chơi kiểu cách thơ. Như ở bài “Dễ gì như sóng” ở khổ cuối anh ghép những chữ đầu các câu thơ in đậm thành một câu có nghĩa, và toàn khổ thơ gieo một vần bằng.

 

Dễ gì như sóng

Mới hiểu yêu em đau đớn nhường nào!

Mới biết môi hồng lần đầu mặn mà làm sao!

Mới cảm yêu em đến dại khờ thiết thao!

Mới thông nỗi hẹn hò thương nhớ biết bao…

Hoặc nữa, Xuân Lợi có một bài tôi đọc thấy rùng mình. Bài thơ tả một cô gái trong mắt của người thơ mà câu chữ hình ảnh cho thấy là gái đẹp, đẹp một cách mỹ miều. Lại là gái đẹp trong cảnh ngày xuân. Đọc bốn câu đầu nói mắt môi má tóc thì nghĩ chỉ nhìn thấy thôi là đã muốn yêu. Vậy mà tác giả hạ một câu chốt thì khiến người đọc sững sờ. Dáng người. Nhĩn quá! Rợn da… “Nhĩn” là gì mà nhĩn quá thì người ngắm vẻ đẹp thấy rợn da? Và hai chữ cuối của câu chốt được lấy làm tên bài thơ.

 

Nắng xuân trôi thấp sà ngang

Mong manh tang mỏng như nàng thèm yêu

Má đào lúng liếng mỹ miều

Môi thơm mắt đắm tóc Kiều mây sa…

 

Dáng người. Nhĩn quá. Rợn da…

Thơ Xuân Lợi miên man là thế. Anh có khi mộc mạc, chất phác. Lại có khi có những câu thơ, ý thơ bất ngờ, tinh tế. Hình như anh đã có lựa chọn của mình khi đến với văn chương, đi vào cõi thơ. Chữ nghĩa văn chương anh coi là trọng, không phải kiểu viết lời suông. Thơ với anh không phải cố tỏ ra gào rú tỏ tiếc thương, không phải cảm tác như vẽ xót thương, không phải gồng mình lên cố tỏ ra bi luỵ bi kịch bi thảm. Nhà thơ phải tìm đúng lời nói đúng lời của chữ nghĩa văn chương, nghĩa là phải chân thật, thật với mình và thật với người. Thật từ trong lòng mình ra, không vay mượn, đắp điếm, tô vẽ: Sầu khô thôi đi màn kịch tính / Lời gì đúng chữ nghĩa văn chương.

Khi đã xác quyết được cho mình một lẽ sống về thơ như vậy, tôi tin Xuân Lợi sẽ tiếp tục miên man với thơ với đời đầy đặn ân tình.

 Hà Nội, cuối Thu 2024

 P . X .

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm