TIN TỨC

Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1/1/1914)

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-12-31 19:42:50
mail facebook google pos stwis
1833 lượt xem

Đi đi Non nước chờ Anh đó

CHÂU LA VIỆT

Trong gia sản thơ ca đồ sộ của nhà thơ Tố Hữu, có rất nhiều bài thơ hay viết về Đảng, Bác Hồ, viết về những người chiến sĩ cách mạng, trong đó nổi bật lên những bài viết về một người bạn, một người đồng chí, đồng hương, một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Quân đội ta: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chính ủy quân giải phóng miền Nam, người “mãi mãi là hình ảnh cao đẹp về một người cộng sản Việt Nam, một vị tướng đức tài trọn vẹn, trí dũng song toàn của quân đội ta, một nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, một người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” (Lời của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười).

Làng của nhà thơ Tố Hữu được gọi Phù Lai, làng của Nguyễn Chí Thanh là Kẻ Lừ, đều nằm bên sông Bồ thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Từ đây, cả hai đi tham gia cách mạng, đều phải trải qua nhiều năm tháng tù đầy trong lao tù của thực dân Pháp, mà bắt đầu là lao Thừa Phủ giữa lòng TP Huế. Lúc này Nguyễn Chí Thanh (khi ấy còn mang tên Vịnh) 24 tuổi, cương vị là Bí thư Thừa Thiên - Huế, còn Tố Hữu (Nguyễn Kim Thành) mới 18 tuổi, là Thành ủy viên…

Tố Hữu kể: Trưa nào trong lao tù cũng nghe Anh Thanh hát những câu hò đồng quê man mác, như: “Hết mùa toóc rã rơm khô/ Bạn về quê bạn, biết nơi mô mà tìm”… Tôi đã viết tặng anh bài thơ “Nhớ đồng”: “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ/ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò…”. Tâm trạng của Anh cũng chính là tâm trạng của tôi. Thỉnh thoảng nghe Anh ngâm bài thơ ấy, tôi rất xúc động. Ở đời tri âm là thế đó...

Có thể nói, đây là bài thơ đầu tiên trong đời Tố Hữu làm tặng người bạn Nguyễn Chí Thanh. Nó được ra đời ngay trong lao tù đế quốc hết sức nghiệt ngã, nó nâng tầm đôi bạn này ngoài tình bạn, tình đồng hương, đồng chí… còn là tình tri âm tri kỷ mãi mãi về sau trong đời…

Sau “Nhớ đồng”, Tố Hữu còn làm nhiều bài thơ khác phản ánh tâm tư, nguyện vọng cũng như cuộc chiến đấu của các chiến sỹ cách mạng trong lao tù, như “Khi con tu hú gọi bầy”, “Trăng trối”, “Tranh đấu”, “Con cá chột nưa”… dù không đề tặng Nguyễn Chí Thanh, nhưng chúng ta vẫn như thấy có bóng dáng, có hơi thở của người Bí thư chi bộ lãnh đạo cuộc đấu tranh là Nguyễn Chí Thanh, cũng như của các chiến sỹ trong lao tù như Lê Chưởng, Lê Thế Tiết, Hoàng Anh…

Năm 1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, được Bác Hồ và Bộ Chính trị trực tiếp cử vào miền Nam chiến đấu, trên cương vị đại diện Bộ Chính trị và Chính ủy quân giải phóng miền Nam. Buổi tiễn bạn lên đường, Tố Hữu trên tư cách một người bạn, một nhà thơ, đồng thời cũng là một Bí thư TW Đảng, Trưởng ban thống nhất TW, đã có bài thơ “Tiễn đưa” đầy xúc động:

“Đưa tiễn anh đi mấy dặm đường

Nặng tình đồng chí lại đồng hương

Đã hay đâu cũng say tiền tuyến

Mà vẫn bâng khuâng mộng chiến trường…”

Lời thơ cổ kính, thể thơ cổ điển (Tố Hữu rất ít làm thơ theo thể thất ngôn bát cú), nhuốm phong vị cổ xưa, thiêng liêng và cũng rất oai hùng như một bản tráng ca. Vì lý do bí mật, khi ấy nhà thơ chỉ dám ghi: “Tặng bạn thơ Th.”, nhưng những ai đọc, đều thầm hiểu “bạn thơ” đây là “một người tầm cỡ” ra trận, một người ra đi mang sứ mệnh non sông đất nước: “Đi đi non nước chờ anh đó”. Người đó là ai, câu hỏi chưa thể trả lời, nhưng người hậu phương nào cũng ghi tạc bài thơ, cũng thấy nức lòng và hứa với người ra trận: “Tiền tuyến cần thêm, có hậu phương”…


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với CBCS  Đoàn Hồng Hà năm 1960.

Mùa xuân năm ấy trong bài thơ xuân “Tiếng hát sang xuân”, hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân đã hiện lên với tất cả vẻ đẹp thiên thần của mình trong thơ Tố Hữu. Người ta nhớ lại hình ảnh người Vệ quốc quân trong tập thơ “Việt Bắc” năm xưa của Tố Hữu. Người ta như thấy hình ảnh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Chính ủy quân giải phóng cùng các đồng đội của mình trong những vần thơ rất đẹp ấy:

“Hỡi người anh, giải phóng quân

Hai mươi năm chẳng dừng chân trên đường

Vẫn đôi dép lội chiến trường

Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy

 

Tuốt gươm không chịu sống quỳ

Tuổi xanh chẳng tiếc, sá chi bạc đầu

Lớp cha trước, lớp con sau

Đã thành đồng chí, chung câu quân hành

 

Anh đi, xuôi ngược tung hoành

Bước dài như gió, lay thành chuyển non

Mái chèo một chiếc xuồng con

Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương…”

Nhà thơ Tố Hữu kể: “Năm 1967, anh Nguyễn Chí Thanh trong Nam ra, báo cáo tình hình… Bộ Chính trị Đảng ta đi đến quyết định Tổng tiến công Mậu Thân 68, đánh vào thành phố, đô thị và giao cho anh Thanh chỉ huy… Bác Hồ lúc này đã yếu, song tình hình lạc quan làm cho Bác rất vui, chính vì thế mà bài thơ Bác chúc Tết xuân 68 có câu kết vang lên như một lời kêu gọi “Tiến lên toàn thắng ắt về ta”. Bài thơ xuân 68 tôi làm trước Tết, nhưng đã nghe háo hức không khí chuẩn bị tiến công và hình ảnh anh giải phóng quân được tô đậm ngay từ đầu:

“Ai đến kia rộn rã cùng xuân

Hoan hô anh giải phóng quân

Kính chào anh, con người đẹp nhất…”

Tố Hữu kể: “Sau khi họp bàn xong, anh Thanh được lệnh trở lại miền Nam. Trước khi lên đường,anh ghé thăm tôi. Lúc ra về, anh bắt tay tôi: “Thôi, mai tau đi nhé”. Không ngờ tối hôm ấy anh qua đời vì bị nhồi máu cơ tim. Khi cơn đau dữ dội, đưa anh vào Bệnh viện Việt Xô cấp cứu thì đã quá muộn. Cái chết của anh Thanh là một tổn thất lớn của Đảng ta, nhất là vào thời điểm quan trọng này. Tôi đã viếng anh bằng bài thơ “Một con người”:

“Tưởng lại đưa anh ra chiến trường

Đường về, vó ngựa thẳng dây cương

Ngày mai... ai biết chiều nay phải

Vĩnh biệt Anh nằm dưới bóng dương…”

Những ngày ấy, Tướng Nguyễn Chí Vịnh, con trai của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh còn đang tuổi ấu thơ, nhưng anh vẫn không thể quên buổi ấy khi cha mình còn đang nằm trong phòng cấp cứu của bệnh viện và kể như đã không thể cứu chữa, thì ở bên ngoài, nhà thơ Tố Hữu nức nở, hai tay đấm mạnh vào cửa và gần như là thét gào: “Anh Thanh ơi, anh ra đây đi. Anh Thanh ơi”… Ngay sau đó, với cảm xúc tột độ, nhà thơ xin người hộ lý một tờ giấy và ông đã viết những vần thơ thấm đẫm nước mắt về người đồng chí thân thiết nhất của đời  mình… Có lẽ đó là bài thơ ông làm nhanh nhất trong cuộc đời thơ ca của ông…” – Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh nhớ lại…

Bài thơ ấy đến nay đã hơn nửa thế kỷ, vẫn làm lòng ta quặn đau về sự mất mát to lớn một người đại tướng văn võ song toàn, một con người như Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi ấy đã thốt lên: “Chúng ta mất một con đại bàng bay trên trời cao, có tầm nhìn xa trông rộng, lại thấy được những cái rất cụ thể trên mặt đất…”.


Bảo tàng Nguyễn Chí Thanh

Nhà thơ Tố Hữu viết trong hồi ký: “Anh Thanh là một cán bộ lãnh đạo, một tướng lĩnh rất xuất sắc, quả cảm, táo bạo, xông xáo, rất chân thành và giản dị. Với tôi, Anh là người bạn luôn gần gũi, ngay từ những ngày đầu tôi bước vào hoạt động cách mạng. Tôi đã gửi gắm vào bài thơ cả nỗi niềm tiếc thương khâm phục:

“Ở đâu nghèo đói gọi xung phong

Lon nước mo cơm lội khắp đồng

Ở đâu tiền tuyến kêu Anh đến

Vượt núi băng rừng lại tiến công…

 

Ôi sống như Anh, sống trọn đời

Sáng trong như ngọc một con Người

Thanh ơi, Anh mất rồi chăng đấy

Cứ thấy như Anh nở miệng cười…”

 Đất nước giải phóng, trên cương vị là Ủy viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng, nhà thơ Tố Hữu khi trở về thăm lại quê hương Thừa Thiên - Huế, đi trên mỗi bước đường đã không nguôi nhớ bạn - người đồng chí, đồng hương thân yêu - của mình: Nguyễn Chí Thanh:

“Cơ chi anh, sớm được về bên nội,

Hôn nỗi đau tan nát Phù Lai

Như quê bạn Niêm Phò trơ trụi,

Đạn bom cày cả nương sắn đồng khoai”.

(Bài thơ quê hương)

 

Chính vì vậy, khi nói về hai ông, có nhà thơ đã viết:

“Họ đã đi suốt cuộc đời không nghỉ

Như dòng sông chảy mãi cùng tháng năm

Đôi bạn ấy cùng đi vào lịch sử

Người danh tướng và người là thi nhân…”

…Có lẽ còn hơn như thế, Tố Hữu và Nguyễn Chí Thanh, đôi bạn bên sông Bồ, không chỉ là một đôi bạn, một đôi đồng chí, mà còn là một đôi tri âm tri kỷ đi vào lịch sử cách mạng và thơ ca Việt Nam…

Nguồn: https://arttimes.vn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lại Văn Long - Ngòi bút lửa!
Những tháng ngày lăn lộn trong nghề báo nhiều nguy hiểm, nhà văn Lại Văn Long đã trải qua đủ cung bậc cảm xúc. Nhưng anh vẫn yêu nghề mãnh liệt và ước mơ sau này anh sẽ có những cuốn sách, những thước phim phản ánh được cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm rất cam go, nguy hiểm nhưng đầy tính nhân văn của lực lượng Công an Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 6 tháng ở Đại học An ninh; anh càng tin rằng mình sẽ hoàn thành được ước mơ đó!
Xem thêm
Nhà giáo, nhà thơ Huệ Triệu
Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.
Xem thêm
Nhà văn Xuân Phượng - Một bản lĩnh “chân cứng đá mềm” trong sáng tạo và trong cuộc đời
Có những cuộc đời mà khi soi vào, chúng ta không chỉ thấy chiều dài của thời gian, mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử, chiều rộng của một tâm hồn và tình yêu vô bờ bến của một trái tim.
Xem thêm
Người đi vắng của văn chương
LTS: Nguyễn Bình Phương là gương mặt đặc biệt của văn chương đương đại, lặng lẽ, kiệm lời, gần như luôn đứng ngoài những ồn ào của văn đàn. Trong cái nhìn của nhà văn Phạm Ngọc Tiến, ông là “người đi vắng” ở các đám đông, nhưng lại hiện diện bền bỉ và khác biệt trong từng trang viết.
Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm