TIN TỨC

Cầm súng, cầm bút bằng niềm tin, lẽ sống

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-07-12 12:37:31
mail facebook google pos stwis
100 lượt xem

KHÁNH AN

Nhân chuyến công tác tại Hà Nội, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 (hiện sống tại phường Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện thú vị. Suốt hơn hai giờ đồng hồ, những câu chuyện của một thời lửa đạn cứ thế ùa về không dứt trong giọng kể trầm ấm và trí nhớ mẫn tiệp của một người lính dày dạn trận mạc đã ở độ tuổi xưa nay hiếm.

Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng. 

Sinh năm 1945 tại một vùng quê nghèo ở xã Sơn Phúc, huyện Hương Sơn (nay là xã Kim Hoa), tỉnh Hà Tĩnh, tháng 8-1964, Nguyễn Văn Hồng nhập ngũ. Sau 6 tháng miệt mài trên bãi tập, ông cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào Khu 5.

Trận đánh đầu tiên của ông và đồng đội là tại đèo Phủ Cũ (Bình Định). Đây là trận đánh công kiên đầu tiên tại vùng đồng bằng mà ông được trực tiếp tham gia với vai trò vừa là một trinh sát vừa là một chiến sĩ bộc phá. Ông bảo, lần đầu tiên “thực chiến”, không còn là những tình huống giả định trên thao trường, được giao nhiệm vụ thì cứ thế mà làm thôi, nhưng có lẽ giây phút căng thẳng nhất là lúc... bộc phá nổ. Cùng với tiếng pháo nổ và tiếng reo hò xông lên của đồng đội, bộ đội biết đã hoàn thành nhiệm vụ, hồi hộp và vỡ òa là vì vậy.

Đến trận tập kích quân Mỹ tháng 6-1966 tại Dốc Lết (Hoài Ân, Bình Định) thì ông đã là tổ trưởng tổ trinh sát của Đại đội 2, Tiểu đoàn 19, Sư đoàn 3-Sao Vàng. Sáng hôm ấy, ông vừa dẫn cán bộ đi nghiên cứu địa hình thì ngay buổi chiều, Sư đoàn Không vận số 1 của Mỹ đổ một đại đội xuống một trảng đất trống bằng máy bay trực thăng. Lệnh của cấp trên yêu cầu ngay trong đêm, đơn vị ông phải tổ chức tập kích số quân địch này.

Đêm ấy, Nguyễn Văn Hồng cùng chiến sĩ Nguyễn Minh Tiến và Nguyễn Đình Dinh làm nhiệm vụ trinh sát dẫn đường. Giữa đêm tối, trong tiếng nổ loạn xạ từ các loại súng của ta và địch, ông bị mất liên lạc với đồng đội. Thế nên khi đơn vị rút lui, ông không biết. Khi đang quan sát, định hướng xung quanh để ra khỏi khu vực địch thì một tên lính Mỹ ở đâu lừng lững xuất hiện.

Dưới ánh đèn của pháo sáng, ông thấy rõ hắn từ khoảng cách 15m, rồi 10m, 5m... Một ý nghĩ vụt lên trong đầu, nếu không xử lý ngay, hắn sẽ đến sát và phát hiện ra ông. Không chần chừ, ông giương khẩu súng CKC lên, bấm cò. Một viên đạn thoát ra khỏi nòng súng. Tên lính Mỹ đổ vật xuống giãy giụa, la hét. Lợi dụng lúc đèn vừa tắt, ông nhảy sang bụi cây khác xa hơn một chút. Một toán lính Mỹ khoảng 4-5 tên chạy lên, khiêng tên bị thương đi. Trên thắt lưng còn một trái lựu đạn chày, ông tung luôn vào toán lính Mỹ. Một tiếng nổ đanh rồi tất cả chìm vào bóng đêm trong tiếng máy bay gầm rú.

Đêm đó, bằng trí thông minh và sự nhạy bén, ông đã thoát khỏi họng súng của địch. Rồi dọc đường đi, vì đói, khát và sau một đêm căng thẳng, mất ngủ, mệt quá, ông chui vào một căn hầm của dân đã bỏ từ lâu và ngủ thiếp đi. Trời sáng, tiếng động cơ máy bay phản lực, máy bay trực thăng gầm rú làm ông tỉnh lại. Vừa mở mắt ra, ông đã trông thấy trên mấy thửa ruộng trước mặt, lính Mỹ dàn hàng ngang đang tiến vào phía chiếc hầm ếch của ông. Không kịp tính toán, lợi dụng lúc mấy tên lính Mỹ phía trước đang mải nói chuyện, ông ôm khẩu súng, vọt thật mạnh lên sườn đồi rồi cứ thế chạy ngược lên đỉnh đồi.

Về đến căn cứ, thấy nơi đây đã bị quân Mỹ càn quét đốt sạch, đơn vị cũng đã di chuyển, ông men theo đường mòn tìm về sư đoàn. Thật may, trên đường, ông gặp được hai đồng đội đang đi tìm mình. Về đơn vị, Chính trị viên Đại đội Huỳnh Xuân Mai nhường luôn nửa ăng-gô cơm đang ăn dở cho ông. Với ông, đó có lẽ là một trong những bữa cơm ngon nhất đời sau một ngày, một đêm lạc đơn vị.

Một trận đánh khác cũng khiến ông nhớ mãi là trận đánh cầu Châu Ô bởi những tình huống phát sinh ngoài dự kiến.

Xuân Mậu Thân 1968, đại đội công binh của ông được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Châu Ổ. Lúc này, ông là Phó đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 19.

Cầu Châu Ổ nằm trên Đường 1, dài khoảng 200m. Đây là mục tiêu khá hóc búa, trước đây có đơn vị đã đánh nhưng không thành, bị tổn thất nặng. Để tiếp cận mố cầu phải qua bên bờ Bắc sông Trà Bồng, có một trại lính của đại đội bảo an bảo vệ cầu với các lớp rào thép gai bao bọc. Bên bờ Nam là chi khu Châu Ổ. Đánh sập cầu này là thực hiện chia cắt sự vận chuyển tiếp tế hậu cần và cơ động lực lượng ứng cứu của địch trong Chiến dịch Xuân Hè 1968. Ông được tiểu đoàn giao nhiệm vụ chỉ huy hai lực lượng đánh cầu ở dưới sông và lực lượng tiến công trại lính bảo vệ cầu bên bờ Bắc.

Đại tá Nguyễn Văn Hồng nhớ lại: “Sau Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi tổ chức hành quân tiếp cận cầu Châu Ổ. Trên đường, khi đi qua khu vực gần cầu đường sắt thì gặp địch phục kích, Tiểu đoàn trưởng Trần Văn Hồng bị thương, số dân công mang giúp lượng thuốc nổ chạy lạc. Đây là một tình huống rất khó xử trí, vì không có thuốc nổ thì làm sao đánh được cầu. May thay, sau khi đưa trinh sát và cán bộ đi tìm dân công chạy lạc, chúng tôi đã thu lại được số thuốc nổ họ mang giúp, cũng là lúc đến giờ vào chiếm lĩnh theo kế hoạch. Sau khi khối thuốc nổ đã được tiểu đội đánh cầu bí mật cố định vào chân trụ cầu thì lại phát sinh tình huống: Số kíp hẹn giờ bị tuột khỏi khối thuốc nổ, rơi xuống sông. Đã gần đến giờ G, không thể ra ngoài lấy kíp khác, may mắn là chúng tôi đã có dự kiến tình huống này nên chuẩn bị trước cả hai phương pháp gây nổ (bằng kíp hẹn giờ và bằng nụ xùy). Khi phát hiện kíp hẹn giờ bị tuột khỏi các khối thuốc nổ, đồng chí Trân giật ngay nụ xùy. Một tiếng nổ long trời lở đất làm mặt sông dựng lên một cột nước cả chục mét. Bên bờ Bắc, lực lượng xung kích ngụy trang như những chiến sĩ đặc công tung lựu đạn vào doanh trại địch”.

Địch bị đánh bật xuống phía Đông Đường 1, quân ta hoàn toàn làm chủ mục tiêu. Ngồi ở gần mố cầu bên bờ Bắc, ông Hồng vô cùng xúc động khi hai nhịp cầu bị đổ sập xuống lòng sông, để lại một khoảng trống trên dòng nước đang chảy xiết. Trận đánh thắng lợi, được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Đại tá Nguyễn Văn Hồng cho biết, trong 10 năm tham gia chiến đấu chống đế quốc Mỹ (1965-1975) cũng như tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia (1978-1989), ông đã trực tiếp tham gia chiến đấu hàng trăm trận lớn nhỏ. Đó là cái “kho” đầy ắp và nguồn tư liệu phong phú để sau này, khi nghỉ hưu năm 1995, ông bắt tay vào viết văn.

Từ tác phẩm đầu tay, hồi ký "Những năm tháng không quên" ra mắt năm 2000 đến nay, ông đã có thêm 11 tác phẩm, như: "Pailin thời máu lửa", "Giữa hai trận tuyến", "Nghĩa tình đồng đội", "Đất kim cương", "Chiến trường khốc liệt", "Những bông hoa bất tử", "Thăm thẳm biên cương", "Đường 19"... Trong đó, tiểu thuyết "Pailin thời máu lửa" đã đoạt Giải thưởng văn học sông Mê Công năm 2021, cùng hồi ký "Những năm tháng không quên" và tác phẩm "Cuộc chiến tranh bắt buộc" được dịch sang tiếng Anh, xuất bản trên toàn cầu... Các tác phẩm này gần đây đã được ông tập hợp in chung trong bộ sách 3 tập "Nguyễn Văn Hồng tác phẩm"Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng chia sẻ: “Tuổi trẻ của tôi và đồng đội xông pha nơi chiến trận với niềm tin vào lý tưởng, vào lẽ sống vì độc lập, tự do của dân tộc. Giờ đây, tôi muốn kể lại trên những trang viết của mình về lẽ sống ấy để góp một tiếng nói tri ân với những máu xương đã đổ, để thế hệ hôm nay biết trân trọng, gìn giữ và trách nhiệm hơn với mỗi hành động, việc làm của mình".

Bài đăng Sự kiện & Nhân chứng, tháng 7/2026

Bài viết liên quan

Xem thêm
Theo năm tháng đi...
Bài viết “Theo năm tháng đi” của nhà thơ Hoàng Quý sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm vê miền thơ lấp lánh của Hà Đình Cẩn, mảng sáng tác phong phú nhưng chưa thật nhiều người biết.
Xem thêm
Cố Thượng tướng Phùng Thế Tài được đặt tên đường ở TP. Nha Trang và TP. Lào Cai
Năm 2022, tại TP. Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), TP. Lào Cai (tỉnh Lào Cai) và một số khu đô thị ở các tỉnh thành khác, các đường phố giao nhau được đặt tên theo một số tướng lĩnh quân đội, trong đó có cố Thượng tướng Phùng Thế Tài.
Xem thêm
Nhạc sư Vĩnh Bảo và hành trình trao truyền gia tài văn hóa Việt
Việc am tường cả âm nhạc Tây phương cùng kinh nghiệm đóng đàn thực tế hơn 60 năm qua đã giúp ông tạo nên những nhạc cụ thương hiệu Vĩnh Bảo độc nhất vô nhị. Mỗi cây đàn do ông làm ra, từ khâu chọn thớ gỗ, xử lý hợp âm đến việc đục khe “thở” đều được tính toán tỉ mỉ như một công trình kiến trúc âm thanh. Chính cố Giáo sư Trần Văn Khê trong hồi ký từng thán phục rằng cây đàn tranh bằng gỗ Kiri mà Nhạc sư Vĩnh Bảo đóng cho ông có âm thanh tuyệt hảo đến mức quá “thượng thừa” mà các chuyên gia âm thanh học người Pháp cũng phải trầm trồ, thán phục.
Xem thêm
Lại Văn Long - Ngòi bút lửa!
Những tháng ngày lăn lộn trong nghề báo nhiều nguy hiểm, nhà văn Lại Văn Long đã trải qua đủ cung bậc cảm xúc. Nhưng anh vẫn yêu nghề mãnh liệt và ước mơ sau này anh sẽ có những cuốn sách, những thước phim phản ánh được cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm rất cam go, nguy hiểm nhưng đầy tính nhân văn của lực lượng Công an Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 6 tháng ở Đại học An ninh; anh càng tin rằng mình sẽ hoàn thành được ước mơ đó!
Xem thêm
Nhà giáo, nhà thơ Huệ Triệu
Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.
Xem thêm
Nhà văn Xuân Phượng - Một bản lĩnh “chân cứng đá mềm” trong sáng tạo và trong cuộc đời
Có những cuộc đời mà khi soi vào, chúng ta không chỉ thấy chiều dài của thời gian, mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử, chiều rộng của một tâm hồn và tình yêu vô bờ bến của một trái tim.
Xem thêm
Người đi vắng của văn chương
LTS: Nguyễn Bình Phương là gương mặt đặc biệt của văn chương đương đại, lặng lẽ, kiệm lời, gần như luôn đứng ngoài những ồn ào của văn đàn. Trong cái nhìn của nhà văn Phạm Ngọc Tiến, ông là “người đi vắng” ở các đám đông, nhưng lại hiện diện bền bỉ và khác biệt trong từng trang viết.
Xem thêm
Phạm Thiên Thư: Người đi tìm bụi đỏ đã hóa thân vào “cát bụi” phận người
Chiều tối, lúc 18h24 phút, Báo Giác Ngộ Online - Cơ quan ngôn luận của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đưa tin về việc “ra đi”, xa lìa cõi tạm của thi sĩ Phạm Thiên Thư với một dòng tin ngắn nhưng trang trọng: “Phạm Thiên Thư tác giả của nhiều thi phẩm nổi tiếng, người “thi hóa kinh Phật” vừa từ trần lúc 6h15 phút, chiều nay, 7/5/2026”.
Xem thêm
Nguyễn Khoa Điềm - Người mang “Đất Nước” vào lòng thi ca
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà thơ nào lại hòa quyện sâu sắc giữa tâm hồn nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, giữa khát vọng cách mạng và nỗi niềm truyền thống như Nguyễn Khoa Điềm. Ông không chỉ là một chính khách từng giữ những trọng trách cao của đất nước, mà trước hết và hơn hết, ông là một thi sĩ - người đã khắc họa hình tượng Đất Nước bằng một thứ ngôn ngữ vừa bình dị, gần gũi, vừa thiêng liêng, sâu lắng, đi vào tâm thức của nhiều thế hệ.
Xem thêm
Nguyễn Huy Bang: Một đời làm thầy, làm thợ… làm tớ văn chương
Trong làng văn Việt Nam hôm nay, có những người viết lên từ những gì xa xôi, mộng ảo; nhưng cũng có những người chỉ biết cặm cụi viết bằng xương máu, bằng mồ hôi và cả những vui buồn của một đời lính, một đời làm báo, một đời “làm bà đỡ” cho những tác phẩm của người khác. Đại tá, nhà văn Nguyễn Huy Bang thuộc về dạng thứ hai.
Xem thêm
Đại tá Nguyễn Văn Hồng: Gìn giữ ký ức chiến tranh trên từng trang viết
Dù đã hơn 80 tuổi, 26 năm “gác súng, cầm bút”, Đại tá, nhà văn Nguyễn Văn Hồng vẫn luôn tràn đầy năng lượng, lạc quan, yêu đời, khát khao được dùng ngòi bút của mình để gìn giữ ký ức, nhắc nhớ thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình.
Xem thêm
Lâm Bình: Người đàn bà đi nhặt cát giữa biển đời
Lâm Bình từng là người lính văn công Quân Giải phóng, sau đó là nghệ sĩ kịch nói, nữ sĩ Lâm Bình bước vào thi đàn với một tâm hồn đa cảm và đầy khát khao.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - Màu hoa đỏ đã mây bay
Bỗng buổi sáng mùa xuân nay mùng tám tháng tư trĩu nặng dù tiết trời trong mát, cao xanh. Hai vầng hoa đại Nhà số 4 thong thả cánh hoa đậu xuống thềm gạch cổ. Một ngày rất bận rộn khi tôi được giao tiếp đoàn kiểm tra giám sát của Tổng cục Chính trị với Đảng ủy Văn nghệ Quân đội. Sáu Chi bộ với khối lượng công việc khá lớn đan xen nhau thực hiện việc giám sát vốn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, chặt chẽ, đúng quy trình, từng bước một.
Xem thêm
Vân Thanh – Người đầu tiên viết nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt
Ở tuổi 93, nhà văn Vân Thanh là người cuối cùng của thế hệ các nhà văn tiền bối của Văn học thiếu nhi Việt Nam đã từ giã chúng ta để về nơi an nghỉ cuối cùng.Nhớ sao những ngày xưa ấy, một thời vàng son, cả một lớp các nhà văn sáng tác cho trẻ em nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Đoàn Giỏi, Võ Quảng, Phạm Hổ, Nguyễn Kiên, Định Hải, Phong Thu, Trần Hoài Dương, Hà Ân, Vũ Hùng, Xuân Quỳnh… Tất cả đều sung sức, đều vui tươi, yêu trẻ em và viết cho các em.
Xem thêm
Trịnh Công Sơn - Tiếng hát không cũ trước chiến tranh
Nhân 25 năm ngày Trịnh Công Sơn rời cõi tạm, nhìn lại di sản của ông không chỉ là những ca khúc đi cùng năm tháng, mà còn là một tiếng nói nhân văn chưa bao giờ cũ trước những cuộc chiến vẫn đang hiện hữu.
Xem thêm
Lại Văn Long và hành trình “Hồ sơ lửa”: Đời sống hóa thành văn chương
Qua chương trình này ta không chỉ gặp một nhà văn, mà còn gặp một người làm báo — người ghi chép đời sống bằng tất cả trải nghiệm và trách nhiệm của mình. Xin mời bạn cùng xem, như một cách hiểu thêm về lao động chữ nghĩa phía sau những trang viết tưởng như đã quen thuộc.
Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm