TIN TỨC

Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-23 15:18:09
mail facebook google pos stwis
608 lượt xem

Từ miền quê xứ Nghệ giàu truyền thống yêu nước, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm con đường cứu nước, mở đầu cho một hành trình lịch sử có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Nhìn lại bước đi ấy trong bối cảnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là dịp để soi chiếu bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng phát triển, hội nhập của đất nước hôm nay.

NGUYÊN HÙNG

Trong lịch sử các dân tộc, có những con người không chấp nhận đứng yên trong không gian chật hẹp của thời đại mình. Họ đi – không phải để rời bỏ quê hương, mà để tìm một con đường rộng hơn cho dân tộc. Với Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, “đi” không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, càng không phải sự phiêu lưu nhất thời, mà là một quyết định chiến lược của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng giải phóng dân tộc.

Hành trình ấy bắt đầu từ một miền quê gió Lào cát trắng – xứ Nghệ, nơi những dòng sông như sông Lam mang trong mình mạch nguồn bền bỉ, âm thầm chảy ra biển lớn. Từ đó, một con người đã đi rất xa, để rồi mở ra con đường đi cho cả một dân tộc.

Từ bờ sông Lam mở ra những chân trời

Ai từng sinh ra ở Nghệ An đều hiểu: xứ Nghệ là miền đất mà căn tính “đi xa” đã nằm sẵn trong máu. Từ Làng Sen – gốc lúa nếp, bờ tre, mùa nước lên chạm mé bãi ngô; đến Nghi Lộc xưa – những xóm làng quẩn quanh bãi cát biển, những con đường đất hun hút nối ruộng đồng với chợ quê – người Nghệ đã quen với chuyện “đi”. Đi kiếm sống, đi tìm cái chữ, đi theo sóng biển vào Nam, vượt những chặng đường quanh co ra Bắc… Những bước chân ấy in hằn trên cát nóng, thấm đẫm mồ hôi mặn chát, mang theo cả hương vị chua cay của cam quýt, của khế rừng trong gió Lào.

Chính nơi đây, bên bờ sông Lam tưởng như nhỏ bé ấy, đã hun đúc nên ý chí và tầm vóc của một con người, để rồi trở thành bến khởi đầu cho những bước chân vĩ đại.

Với Nguyễn Tất Thành, cái “đi” ấy vượt sang một cấp độ khác. Không phải đi để mưu sinh, mà là đi để kiến tạo sinh mệnh cho một dân tộc. Từ Làng Sen, Người mang theo hành trang không phải là vàng bạc, mà là một trái tim yêu nước nóng bỏng và một bộ óc tỉnh táo khao khát giải mã những bài toán của thời đại. Ở tuổi 21, Người lên tàu tại Bến Nhà Rồng, không phải để du ngoạn, mà để tận mắt nhìn xem thế giới đang vận hành ra sao, và quan trọng hơn cả, để tìm con đường giải phóng cho dân tộc mình.

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập năm 1945. Ảnh tư liệu

Đi khắp thế giới để tìm đường cứu nước

Hà Nội không thể cho Người câu trả lời. Huế không đủ. Phan Thiết – Sài Gòn chỉ là những va đập đầu tiên. Nhưng Marseille, London, Paris đã trở thành những “trường học lớn” của một trí tuệ đang chín.

Tại Marseille, Người nhìn thấy nước Pháp ngay tại cửa ngõ của “mẫu quốc”, nơi cất giấu những cơ chế thực dân tinh vi nhất. Ở London, trong cái lạnh âm ẩm của xứ sương mù, Người làm thợ rửa ảnh – đôi bàn tay lặng lẽ trong phòng tối, nhưng tâm trí thì rực sáng bởi những tư tưởng mới, bởi sự thấu hiểu sâu sắc về bản chất của chủ nghĩa thực dân ngay tại “trái tim” của nó. Ở Paris, giữa ánh đèn điện lung linh và những quán cà phê ồn ã, Người làm bồi bàn, nhưng không để ánh sáng phù hoa làm lu mờ lý tưởng. Chính tại đây, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên chính trường quốc tế, ký những văn bản đầu tiên gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles (1919), đòi quyền bình đẳng cho dân An Nam.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, ngày 26/12/1920. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Paris – London – Marseille… đó không phải những miền lãng mạn, mà là những nơi tôi luyện trí tuệ, ý chí và bản lĩnh chính trị. Từ đó, Người hiểu rằng: muốn cứu nước, không thể chỉ dựa vào lòng yêu nước thuần túy, mà phải đi tới căn nguyên của quyền lực – lý luận, tổ chức và hệ thống quốc tế.

Từ châu Âu, bước chân Người tiếp tục sang Moskva – thủ đô của Cách mạng Tháng Mười. Ở đó, Nguyễn Ái Quốc không chỉ học chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn học phương pháp xây dựng Đảng, học cách biến tư tưởng thành hành động cách mạng. Rồi lần lượt Quảng Châu – Xiêm – Thái Lan trở thành những trạm trung chuyển của cách mạng Việt Nam. Những lớp huấn luyện nhỏ trong các căn phòng kín đáo, những tờ báo Thanh Niên mỏng manh nhưng chứa đựng ngọn lửa cách mạng… từ đó hình thành dần một lực lượng nòng cốt, một nền móng bền vững cho con đường giải phóng dân tộc.

Ba mươi năm đi để trở về

Sau ba mươi năm bôn ba, Người trở về. Ba mươi năm, bụi đường năm châu bám trên ngực áo, hóa thành lớp áo giáp của kinh nghiệm và từng trải. Nhưng trái tim ấy, sau tất cả những va đập và chứng kiến, không hề vẩn đục, mà càng tinh khiết hơn một tình yêu Tổ quốc.

Năm 1941, tại Pác Bó – hang Cốc Bó, nơi mạch nguồn cách mạng Việt Nam hồi sinh, Người nói một câu mà lịch sử mãi còn ghi nhớ:“Dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Bia đá khắc lời Bác Hồ bên di tích Lán Nà Nưa - Ảnh: Nguyên Hùng.
 

Bốn năm sau, trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (1945), Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không… chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Đó không chỉ là lời căn dặn, mà là một tuyên ngôn niềm tin vào tương lai dân tộc.

Hồ Chí Minh – nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của văn học

Trong đời sống tinh thần Việt Nam, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa, một dòng chảy cảm hứng bền bỉ của văn học. Nhà văn Sơn Tùng với Búp sen xanh, Hoa dâm bụt, Bông sen vàng… đã dựng lại tuổi thơ và tuổi trẻ của Người bằng một đời nghiên cứu công phu, tận hiến. Nhà văn – học giả Nguyễn Thế Kỷ với trường thiên tiểu thuyết Nước non vạn dặm đã khắc họa một hành trình cách mạng gian lao mà oanh liệt, trải dài qua nhiều không gian và thời đoạn lịch sử.

Bên cạnh đó, nhà văn Trình Quang Phú cũng miệt mài lần theo dấu chân Người từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng, để lại nhiều tập truyện ký, bút ký viết về Bác Hồ, góp phần làm phong phú thêm mảng văn học viết về lãnh tụ.

Những tác phẩm ấy cho thấy: viết về Hồ Chí Minh không phải để thờ phụng, mà là một cách giáo dục truyền thống nhẹ mà thấm, bền mà sâu, nuôi dưỡng tâm hồn Việt qua nhiều thế hệ.

Một số tác phẩm tiêu biểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ xứ Nghệ nhìn ra hôm nay

Xuân này, tôi về Cửa Hội, nơi dòng Lam vẫn trôi lững lờ, âm thầm bồi đắp phù sa. Trong chợ quê, người đặt lá dong, người mua sẵn nếp, v.v.… Trong những ngõ nhỏ những người dân quê đã luyện tập cất lên những câu ca, những điệu ví, giặm quê hương chuẩn bị đón một mùa Tết, một mùa xuân mới nhiều hứa hẹn. Những sinh hoạt tưởng như nhỏ bé ấy dần theo năm tháng làm nên hồn cốt bền vững của một miền đất.

Từ xứ Nghệ, một con người đã đi rất xa để tìm đường cho dân tộc. Hôm nay, khi Đại hội Đảng lần thứ XIV đang diễn ra, nhìn lại hành trình ấy không chỉ là tri ân lịch sử, mà còn là một lời nhắc nhớ cho từng bước đi của chúng ta: đi với tri thức, với bản lĩnh, với tinh thần phụng sự dân tộc; đi để hội nhập nhưng không hòa tan; đi để mang quê hương theo mình, chứ không bỏ lại phía sau.

Nếu mỗi bước chân hôm nay – dù đi đâu, làm gì – đều đi với tinh thần ấy, thì đất nước này sẽ còn nhiều lần “tươi đẹp” hơn điều Bác từng ước vọng. Như sông Lam, dẫu quanh co, uốn khúc, nhưng trong từng dòng chảy vẫn âm ỉ sức mạnh của phù sa và khát vọng tìm về biển lớn – để hòa vào đại dương bao la của thế giới.

Nguồn:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm