TIN TỨC

Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-14 11:24:10
mail facebook google pos stwis
1815 lượt xem

Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.

Rốt cuộc việc dọ hỏi rơi vào ngõ cụt, nhưng tôi không bỏ cuộc. Sở dĩ có tình trạng vậy bởi tôi không biết cách mua sách trên mạng, đi lướt vài nhà sách không thấy bày bán là thôi. May quá, gần đây nhà thơ Phan Hoàng đã cho tôi mượn “Lò mổ” bản bìa cứng, tôi đọc và mạo muội có vài dòng cảm nhận dưới đây.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

  1. Trường ca “Lò mổ” là một tác phẩm siêu thường trong đó tính hiện thực, siêu thực và huyền ảo hòa quyện chặt chẽ.

Lò mổ trong mắt đại chúng là nơi giết thịt những con vật to lớn như trâu, bò, heo hoặc dê, đại loại vậy. Tôi đã thấy cách người ta giết trâu, chẳng khác mấy cảnh giết bò trong mô tả của ông Thiều. Đồ tể cột dây vào hai chân trước của con vật giật mạnh từ phía sau khiến nó khuỵu xuống và sau đó hạ sát bằng nhát đập chí mạng vào cái đốm hình sao trắng sáng ở trán. Trong khoảnh khắc đó người chủ thường lánh đi bởi họ không chịu nổi cú sát thương con vật của mình.

Con bò trong “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều đổ xuống, như bản mệnh phải thế, nó “không kêu rống, không vật vã, không bắn vọt phân và nước tiểu, không ợ máu mũi. Đôi mắt mở dịu dàng. Buồn bã. Không bao giờ rơi lệ” (Trang 16), và thế là từ cái chết không cưỡng lại ấy không gian thi ca mở ra, bắt đầu từ “chàng” – người tung nhát búa kết liễu con vật, tới “lão chủ nhà trọ” – người làm nghề đập đầu bò đã ba mươi năm, tới “bầy ruồi” và tới vô vàn triết lý nhân sinh, trải suốt 18 chương sách.

Tôi thích cách tác giả “Lò mổ” cho các nhân vật trong trường ca của mình xuất hiện. Hình ảnh của “chàng” đẹp não nùng, triết lý của “chàng” gần gũi và lạ lẫm, “Một ban mai tĩnh lặng gọi chàng. Trong cơn mê chàng không thể nào đi hết dãy nhà cấp bốn. Chàng thèm khát những đồng cỏ. Đêm qua từ lò mổ trở về, chàng đổ xuống giường như người trúng đạn”(Trang 13). “Lão chủ nhà trọ” thì thế nào? Lão ta được khắc họa rõ nét và có vẻ bê bối “Giờ lão bị tật nguyền. Cánh tay phải bị teo và cong” (Trang 19), không được lung linh như “chàng”.

Tôi tự hỏi tại sao không phải tay trái mà lại là phải, hoặc là cả hai? Cánh tay đồ tể mạnh mẽ từng giáng những nhát búa kinh hoàng giờ bị teo và cong, có chăng yếu tố ngẫu nhiên hay nhân quả gì ở đây? Những đứa con thành đạt của “lão chủ nhà trọ” lớn lên bằng tiết bò và gạo hầm, món ăn đại bổ lắm kẻ ao ước, và “giờ chúng từ chối lão” (Trang 19). Vậy là nhân quả nhỡn tiền. Lão là người thầy đầu tiên dạy “chàng” bài học nhập môn nghề đồ tể: “Quan trọng nhất cái chết phải đến từ từ/Đấy là một nghề/Tàn bạo và trung thực/Những con bò ngã xuống như đi ngủ/Thịt bò tươi phủ ngập thế gian” (Trang 21). Giáo huấn lạnh lùng của lão, viết ra được như thế khó biết chừng nào, bất giác khiến tôi nhớ tới nhân vật Triệu Giáp trong tiểu thuyết “Đàn hương hình” của nhà văn Mạc Ngôn bên Tàu với triết lý “nghề nào cũng có trạng nguyên”.

Theo chủ quan của tôi, tinh thần mang theo trong “Lò mổ” đã vượt ngoài dự liệu của tác giả. Sự can thiệp của vô minh đã đưa những ký tự của “Lò mổ” tiến nhập vào bến mới. Nguồn cội của sự thoát xác này tôi đọc thấy từ hơn ba chục năm trước trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”, cụ thể hơn là trong bài thơ “Bài hát về cố hương”…

Trong nghề đao phủ thì Triệu Giáp đích thực là “trạng nguyên”, còn “lão chủ nhà trọ” trong “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều đích thực là “trạng nguyên” nghề đồ tể. Bản hợp xướng dài dặc máu bò càng lúc càng siêu thường. Ám ảnh của đôi mắt con bò bị giết khiến “chàng” dằn vặt khôn nguôi và tự cật vấn “có phải chúng ta tội lỗi”. Đỉnh điểm cái tôi gọi là siêu thường vẻ như nằm ở “Bầy ruồi” (Trang 24-39), 16 trang thơ giấy khổ lớn với phông chữ nhỏ chỉ có một mỹ từ duy nhất: “Ruồi”. Không còn là bầy ruồi mà là một thế giới ruồi, phình từ trong trang thơ ra ngoài đời. Tôi hình dung trong khoảnh khắc giông gió, thi nhân vò nhàu mái tóc và thống thiết gọi “Ruồi, ruồi!”, và bầy ruồi liền xông đến. Tôi chưa thấy tác phẩm nào chất “cảm giác mạnh” rõ rệt như trong phần “bầy ruồi” của ông Thiều, nó tràn ngập và hết sức chân thực. Bức tranh “Ruồi” trở nên đặc biệt sinh động khi vở kịch một hồi có tên “Phán xử” (Chương 16) kéo màn lên, để ba nhân vật gồm tay “chủ lò mổ”, “bầy ruồi” và “chàng” đối đáp giữa thanh thiên bạch nhật.

“Chủ lò mổ: Ta có linh hồn. Ta tặng lại linh hồn ta cho các ngươi. Nhận lấy đi, nhận đi.

Bầy ruồi: (Cười rú lên) Ngươi thật ngu dốt. Linh hồn ngươi bẩn thỉu hơn mọi sự bẩn thỉu” (Trang 117).

Trong nhận thức thông thường ruồi là giống dơ bẩn, “Thớt có tanh tao ruồi đỗ bấy/ang không mật mỡ kiến bò chi” (“Thế tục”, Nguyễn Bỉnh Khiêm). Đọc “Lò mổ”, bất chợt ta ngộ ra, ruồi đâu dơ bẩn nhất, có thứ dơ bẩn hơn. Tôi thích vở kịch một hồi này, nó sáng tạo và triết lý. Thông qua phần “Phán xử”, tác giả không chỉ thanh tẩy cho “bầy ruồi” mà còn thổi hồn cho nhặng, họ hàng nhà ruồi. “Thưở ấu thơ tôi thường ngắm những con nhặng bay như bất động giữa không gian tinh khiết/Có ai còn nhớ cảnh này không?/Quá ít người giơ tay” (Trang 79). Tôi quên từ lâu hình ảnh con nhặng xanh bay như bất động giữa không trung cho tới khi được “Lò mổ” đánh thức. Một hình ảnh vu vơ, một lời hỏi gió thoảng, đã gợi lên thời ấu thơ tươi đẹp của bao người, trong đó có tôi.

  1. “Lò mổ” là một tác phẩm kỳ vĩ, khởi lên từ đôi mắt của con bò bị giết và khép lại bằng sự xuất hiện của chú bê con.

“Lặng lẽ và cô đơn/Khôi nguyên và huyền bí/Chưa bao giờ một đôi mắt như thế/Nhìn chàng” (Trang 16).

“Búa đã vung lên/Tiếng rống dội vang/Chiếc kèn đồng lớn nhất thế gian/Dội vào toàn bộ đời sống/Con bò từ từ quỵ xuống/Dịu dàng như nằm xuống đồng cỏ/Đôi mắt nó vẫn mở/Ngôi sao hôm lấp lánh/Sau tiếng rống dội vang/Tiếng kèn hiệu/Một chú bê được sinh ra/Con bò gục xuống sàn đá lạnh/Trút hơi thở cuối cùng/Như cơn gió lớn đi qua/Làm tất cả những cái cây trên mặt đất rung chuyển” (Trang 128).

Sự sống xuất hiện kỳ vĩ và chấn động. Tôi chia sẻ sang chấn ấy, bởi còn có gì lớn lao hơn khi sự sống xuất hiện. Trong thế giới động vật, cụ thể ở “Lò mổ” của ông Thiều là con bò bị đem đi giết trong khi mang thai, nó cam chịu số phận và mong sinh linh mong manh kia sẽ được thấy ánh mặt trời. Tình mẫu tử, người hay bò cũng vậy, là thiêng liêng của thiêng liêng, đã sẵn trong huyết quản của mọi sinh vật trên trái đất, trong đó có con người với tư cách là động vật bậc cao. Hình ảnh “Con bò từ từ quỵ xuống/Dịu dàng như nằm xuống đồng cỏ” thật xúc động, đẹp và buồn náo nức!

Ông Thiều viết: “Tinh thần mang theo trong Lò mổ là một câu hỏi “đời sống tôi đang sống có thực sự là một đời sống?” (Tôi viết Lò mổ, Nguyễn Quang Thiều, trang 7). Cuộc đời ai chả giông gió, chỉ có thể thoát ra bằng sức mình. Thi nhân thoát giông gió bằng ký tự thơ. Những ký tự mang theo nỗi niềm thao thiết của nhân gian, cũng là của thi nhân, bởi vậy chúng có linh hồn, đủ sức để vuốt ve, an ủi mọi nỗi niềm. Người phàm nhắm tới ăn uống hưởng lạc, tiền bộn thì đánh chén ngày 5-7 bận, sơn hào hải vị, lầu son gái đẹp, đạm bạc thì 2-3 bữa, liu riu thì 1 bữa, ai cũng tồn tại trong giá trị tính bằng túi tiền của mình. Thi nhân cần nhiều hơn. Theo chủ quan của tôi, tinh thần mang theo trong “Lò mổ” đã vượt ngoài dự liệu của tác giả. Sự can thiệp của vô minh đã đưa những ký tự của “Lò mổ” tiến nhập vào bến mới. Nguồn cội của sự thoát xác này tôi đọc thấy từ hơn ba chục năm trước trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”, cụ thể hơn là trong bài thơ “Bài hát về cố hương” (1991):

“Tôi hát, tôi hát bài ca về cố hương tôi

Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm

Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó

Kiếp này tôi là người

Kiếp sau phải là vật

Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ

Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi”.

“Lò mổ” của hiện tại và “Sự mất ngủ của lửa” của thập niên 1990, đều xoay quanh trường con người, khác chăng là về biên độ và chiều kích của trường ấy. Nhiều người có thể cảm thán hoặc tệ hại hơn thì chửi đổng “Mẹ, thơ phú gì rối rắm, chả hiểu gì cả!”, còn tôi thì thấy “Lò mổ” đang nâng tầm nhận thức cho người đọc. Muốn hòa nhập, muốn chơi với thế giới, mình phải có thứ ngang hoặc vượt tầm. Hát về những chiếc tiểu sành là hát về thân phận người, nói về con bò con bê con ruồi con nhặng là hát về bản nguyên con người. Khó lắm thay! Phải có một nỗi niềm đủ lớn, nói như cụ Nguyễn Tiên Điền trong “Truyện Kiều”: “Một mình mình biết một mình mình hay” (câu 2674) và một tình yêu đủ lớn cộng tài năng vượt trội mới có thể cất lên tiếng hát vị tha và bao dung như thế về con người. Để tiệm cận “Lò mổ” đầy đủ thiết nghĩ phải có nghiên cứu sâu của các nhà lý luận chuyên nghiệp, tối thiểu cũng tầm luận văn tiến sĩ. Tôi mù lòa về thơ, nhất thời cưỡi ngựa xem hoa, chỉ có thể nhận thức đến đấy.

Nhà văn Cao Chiến (cầm sách) cùng các đồng nghiệp luận bàn về tập thơ “Lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

3. Sự sống không đến từ vô minh mà được khởi lên từ bên trong cái chết, từ tro tàn của sự hủy diệt.

Ý nghĩ sự sống không đến từ vô minh mà khởi lên từ bên trong cái chết, từ tro tàn của sự hủy diệt bám riết lấy tôi suốt lúc trong và sau khi đọc trường ca “Lò mổ”. Thiết nghĩ, sự soi chiếu của khoa học và của tôn giáo về bản nguyên con người chẳng mâu thuẫn với nhận thức này. Lời tâm huyết được cho là của Nguyễn Minh Châu “Hãy đi tới tận cùng của cái ta, ta sẽ gặp nhân loại” rốt cuộc đã ứng với “Lò mổ”, và ông Thiều là người được chọn giữa hàng ngàn thi nhân và đã thực hiện xuất sắc bổn phận. Tôi đặt “Lò mổ” của ông Thiều bên vài tác phẩm xuất sắc của những văn/thi nhân xuất chúng của thế giới đương đại thì thấy chả kém cạnh gì. Lý gì ta không tôn lên. Văn đàn Việt sẽ rạng rỡ mày mặt.

“Khi con biết ngước mắt lên cao bởi nỗi sợ hãi thì chính đó là lời nguyện cầu chân thành nhất”

(Trang 64).

“Một ngọn cỏ tự do làm thành thảo nguyên.

Một cái cây tự do làm thành cánh rừng.

Một con cá tự do làm thành biển cả.

Một con chim tự do làm thành bầu trời.

Một con người tự do làm thành vũ trụ”

(Trang 107).

Có phải vậy không? Đương nhiên là vậy rồi, con người là tiểu vũ trụ mà. Chúc mừng và cảm ơn ông Thiều đã cho chúng sinh trong đó có tôi thưởng thức một món lạ, xuất sắc!

TPHCM, 9.2025

Cao Chiến/Vanvn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm