TIN TỨC

Vài nhận thức về trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-14 11:24:10
mail facebook google pos stwis
1254 lượt xem

Tôi hỏi nhiều nhà thơ và văn, rằng họ thấy trường ca “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều như thế nào và đặng họ có thể khai sáng chút gì cho tôi nhưng không ai có câu trả lời khiến tôi thỏa mãn, đa phần đều nói “Ái chà, Lò mổ của Nguyễn Quang Thiều hả, bọn tớ cũng chỉ nghe dư luận ồn ào trên mạng thôi chứ có sách đọc đâu!”.

Rốt cuộc việc dọ hỏi rơi vào ngõ cụt, nhưng tôi không bỏ cuộc. Sở dĩ có tình trạng vậy bởi tôi không biết cách mua sách trên mạng, đi lướt vài nhà sách không thấy bày bán là thôi. May quá, gần đây nhà thơ Phan Hoàng đã cho tôi mượn “Lò mổ” bản bìa cứng, tôi đọc và mạo muội có vài dòng cảm nhận dưới đây.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

  1. Trường ca “Lò mổ” là một tác phẩm siêu thường trong đó tính hiện thực, siêu thực và huyền ảo hòa quyện chặt chẽ.

Lò mổ trong mắt đại chúng là nơi giết thịt những con vật to lớn như trâu, bò, heo hoặc dê, đại loại vậy. Tôi đã thấy cách người ta giết trâu, chẳng khác mấy cảnh giết bò trong mô tả của ông Thiều. Đồ tể cột dây vào hai chân trước của con vật giật mạnh từ phía sau khiến nó khuỵu xuống và sau đó hạ sát bằng nhát đập chí mạng vào cái đốm hình sao trắng sáng ở trán. Trong khoảnh khắc đó người chủ thường lánh đi bởi họ không chịu nổi cú sát thương con vật của mình.

Con bò trong “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều đổ xuống, như bản mệnh phải thế, nó “không kêu rống, không vật vã, không bắn vọt phân và nước tiểu, không ợ máu mũi. Đôi mắt mở dịu dàng. Buồn bã. Không bao giờ rơi lệ” (Trang 16), và thế là từ cái chết không cưỡng lại ấy không gian thi ca mở ra, bắt đầu từ “chàng” – người tung nhát búa kết liễu con vật, tới “lão chủ nhà trọ” – người làm nghề đập đầu bò đã ba mươi năm, tới “bầy ruồi” và tới vô vàn triết lý nhân sinh, trải suốt 18 chương sách.

Tôi thích cách tác giả “Lò mổ” cho các nhân vật trong trường ca của mình xuất hiện. Hình ảnh của “chàng” đẹp não nùng, triết lý của “chàng” gần gũi và lạ lẫm, “Một ban mai tĩnh lặng gọi chàng. Trong cơn mê chàng không thể nào đi hết dãy nhà cấp bốn. Chàng thèm khát những đồng cỏ. Đêm qua từ lò mổ trở về, chàng đổ xuống giường như người trúng đạn”(Trang 13). “Lão chủ nhà trọ” thì thế nào? Lão ta được khắc họa rõ nét và có vẻ bê bối “Giờ lão bị tật nguyền. Cánh tay phải bị teo và cong” (Trang 19), không được lung linh như “chàng”.

Tôi tự hỏi tại sao không phải tay trái mà lại là phải, hoặc là cả hai? Cánh tay đồ tể mạnh mẽ từng giáng những nhát búa kinh hoàng giờ bị teo và cong, có chăng yếu tố ngẫu nhiên hay nhân quả gì ở đây? Những đứa con thành đạt của “lão chủ nhà trọ” lớn lên bằng tiết bò và gạo hầm, món ăn đại bổ lắm kẻ ao ước, và “giờ chúng từ chối lão” (Trang 19). Vậy là nhân quả nhỡn tiền. Lão là người thầy đầu tiên dạy “chàng” bài học nhập môn nghề đồ tể: “Quan trọng nhất cái chết phải đến từ từ/Đấy là một nghề/Tàn bạo và trung thực/Những con bò ngã xuống như đi ngủ/Thịt bò tươi phủ ngập thế gian” (Trang 21). Giáo huấn lạnh lùng của lão, viết ra được như thế khó biết chừng nào, bất giác khiến tôi nhớ tới nhân vật Triệu Giáp trong tiểu thuyết “Đàn hương hình” của nhà văn Mạc Ngôn bên Tàu với triết lý “nghề nào cũng có trạng nguyên”.

Theo chủ quan của tôi, tinh thần mang theo trong “Lò mổ” đã vượt ngoài dự liệu của tác giả. Sự can thiệp của vô minh đã đưa những ký tự của “Lò mổ” tiến nhập vào bến mới. Nguồn cội của sự thoát xác này tôi đọc thấy từ hơn ba chục năm trước trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”, cụ thể hơn là trong bài thơ “Bài hát về cố hương”…

Trong nghề đao phủ thì Triệu Giáp đích thực là “trạng nguyên”, còn “lão chủ nhà trọ” trong “Lò mổ” của Nguyễn Quang Thiều đích thực là “trạng nguyên” nghề đồ tể. Bản hợp xướng dài dặc máu bò càng lúc càng siêu thường. Ám ảnh của đôi mắt con bò bị giết khiến “chàng” dằn vặt khôn nguôi và tự cật vấn “có phải chúng ta tội lỗi”. Đỉnh điểm cái tôi gọi là siêu thường vẻ như nằm ở “Bầy ruồi” (Trang 24-39), 16 trang thơ giấy khổ lớn với phông chữ nhỏ chỉ có một mỹ từ duy nhất: “Ruồi”. Không còn là bầy ruồi mà là một thế giới ruồi, phình từ trong trang thơ ra ngoài đời. Tôi hình dung trong khoảnh khắc giông gió, thi nhân vò nhàu mái tóc và thống thiết gọi “Ruồi, ruồi!”, và bầy ruồi liền xông đến. Tôi chưa thấy tác phẩm nào chất “cảm giác mạnh” rõ rệt như trong phần “bầy ruồi” của ông Thiều, nó tràn ngập và hết sức chân thực. Bức tranh “Ruồi” trở nên đặc biệt sinh động khi vở kịch một hồi có tên “Phán xử” (Chương 16) kéo màn lên, để ba nhân vật gồm tay “chủ lò mổ”, “bầy ruồi” và “chàng” đối đáp giữa thanh thiên bạch nhật.

“Chủ lò mổ: Ta có linh hồn. Ta tặng lại linh hồn ta cho các ngươi. Nhận lấy đi, nhận đi.

Bầy ruồi: (Cười rú lên) Ngươi thật ngu dốt. Linh hồn ngươi bẩn thỉu hơn mọi sự bẩn thỉu” (Trang 117).

Trong nhận thức thông thường ruồi là giống dơ bẩn, “Thớt có tanh tao ruồi đỗ bấy/ang không mật mỡ kiến bò chi” (“Thế tục”, Nguyễn Bỉnh Khiêm). Đọc “Lò mổ”, bất chợt ta ngộ ra, ruồi đâu dơ bẩn nhất, có thứ dơ bẩn hơn. Tôi thích vở kịch một hồi này, nó sáng tạo và triết lý. Thông qua phần “Phán xử”, tác giả không chỉ thanh tẩy cho “bầy ruồi” mà còn thổi hồn cho nhặng, họ hàng nhà ruồi. “Thưở ấu thơ tôi thường ngắm những con nhặng bay như bất động giữa không gian tinh khiết/Có ai còn nhớ cảnh này không?/Quá ít người giơ tay” (Trang 79). Tôi quên từ lâu hình ảnh con nhặng xanh bay như bất động giữa không trung cho tới khi được “Lò mổ” đánh thức. Một hình ảnh vu vơ, một lời hỏi gió thoảng, đã gợi lên thời ấu thơ tươi đẹp của bao người, trong đó có tôi.

  1. “Lò mổ” là một tác phẩm kỳ vĩ, khởi lên từ đôi mắt của con bò bị giết và khép lại bằng sự xuất hiện của chú bê con.

“Lặng lẽ và cô đơn/Khôi nguyên và huyền bí/Chưa bao giờ một đôi mắt như thế/Nhìn chàng” (Trang 16).

“Búa đã vung lên/Tiếng rống dội vang/Chiếc kèn đồng lớn nhất thế gian/Dội vào toàn bộ đời sống/Con bò từ từ quỵ xuống/Dịu dàng như nằm xuống đồng cỏ/Đôi mắt nó vẫn mở/Ngôi sao hôm lấp lánh/Sau tiếng rống dội vang/Tiếng kèn hiệu/Một chú bê được sinh ra/Con bò gục xuống sàn đá lạnh/Trút hơi thở cuối cùng/Như cơn gió lớn đi qua/Làm tất cả những cái cây trên mặt đất rung chuyển” (Trang 128).

Sự sống xuất hiện kỳ vĩ và chấn động. Tôi chia sẻ sang chấn ấy, bởi còn có gì lớn lao hơn khi sự sống xuất hiện. Trong thế giới động vật, cụ thể ở “Lò mổ” của ông Thiều là con bò bị đem đi giết trong khi mang thai, nó cam chịu số phận và mong sinh linh mong manh kia sẽ được thấy ánh mặt trời. Tình mẫu tử, người hay bò cũng vậy, là thiêng liêng của thiêng liêng, đã sẵn trong huyết quản của mọi sinh vật trên trái đất, trong đó có con người với tư cách là động vật bậc cao. Hình ảnh “Con bò từ từ quỵ xuống/Dịu dàng như nằm xuống đồng cỏ” thật xúc động, đẹp và buồn náo nức!

Ông Thiều viết: “Tinh thần mang theo trong Lò mổ là một câu hỏi “đời sống tôi đang sống có thực sự là một đời sống?” (Tôi viết Lò mổ, Nguyễn Quang Thiều, trang 7). Cuộc đời ai chả giông gió, chỉ có thể thoát ra bằng sức mình. Thi nhân thoát giông gió bằng ký tự thơ. Những ký tự mang theo nỗi niềm thao thiết của nhân gian, cũng là của thi nhân, bởi vậy chúng có linh hồn, đủ sức để vuốt ve, an ủi mọi nỗi niềm. Người phàm nhắm tới ăn uống hưởng lạc, tiền bộn thì đánh chén ngày 5-7 bận, sơn hào hải vị, lầu son gái đẹp, đạm bạc thì 2-3 bữa, liu riu thì 1 bữa, ai cũng tồn tại trong giá trị tính bằng túi tiền của mình. Thi nhân cần nhiều hơn. Theo chủ quan của tôi, tinh thần mang theo trong “Lò mổ” đã vượt ngoài dự liệu của tác giả. Sự can thiệp của vô minh đã đưa những ký tự của “Lò mổ” tiến nhập vào bến mới. Nguồn cội của sự thoát xác này tôi đọc thấy từ hơn ba chục năm trước trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa”, cụ thể hơn là trong bài thơ “Bài hát về cố hương” (1991):

“Tôi hát, tôi hát bài ca về cố hương tôi

Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm

Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó

Kiếp này tôi là người

Kiếp sau phải là vật

Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ

Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi”.

“Lò mổ” của hiện tại và “Sự mất ngủ của lửa” của thập niên 1990, đều xoay quanh trường con người, khác chăng là về biên độ và chiều kích của trường ấy. Nhiều người có thể cảm thán hoặc tệ hại hơn thì chửi đổng “Mẹ, thơ phú gì rối rắm, chả hiểu gì cả!”, còn tôi thì thấy “Lò mổ” đang nâng tầm nhận thức cho người đọc. Muốn hòa nhập, muốn chơi với thế giới, mình phải có thứ ngang hoặc vượt tầm. Hát về những chiếc tiểu sành là hát về thân phận người, nói về con bò con bê con ruồi con nhặng là hát về bản nguyên con người. Khó lắm thay! Phải có một nỗi niềm đủ lớn, nói như cụ Nguyễn Tiên Điền trong “Truyện Kiều”: “Một mình mình biết một mình mình hay” (câu 2674) và một tình yêu đủ lớn cộng tài năng vượt trội mới có thể cất lên tiếng hát vị tha và bao dung như thế về con người. Để tiệm cận “Lò mổ” đầy đủ thiết nghĩ phải có nghiên cứu sâu của các nhà lý luận chuyên nghiệp, tối thiểu cũng tầm luận văn tiến sĩ. Tôi mù lòa về thơ, nhất thời cưỡi ngựa xem hoa, chỉ có thể nhận thức đến đấy.

Nhà văn Cao Chiến (cầm sách) cùng các đồng nghiệp luận bàn về tập thơ “Lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

3. Sự sống không đến từ vô minh mà được khởi lên từ bên trong cái chết, từ tro tàn của sự hủy diệt.

Ý nghĩ sự sống không đến từ vô minh mà khởi lên từ bên trong cái chết, từ tro tàn của sự hủy diệt bám riết lấy tôi suốt lúc trong và sau khi đọc trường ca “Lò mổ”. Thiết nghĩ, sự soi chiếu của khoa học và của tôn giáo về bản nguyên con người chẳng mâu thuẫn với nhận thức này. Lời tâm huyết được cho là của Nguyễn Minh Châu “Hãy đi tới tận cùng của cái ta, ta sẽ gặp nhân loại” rốt cuộc đã ứng với “Lò mổ”, và ông Thiều là người được chọn giữa hàng ngàn thi nhân và đã thực hiện xuất sắc bổn phận. Tôi đặt “Lò mổ” của ông Thiều bên vài tác phẩm xuất sắc của những văn/thi nhân xuất chúng của thế giới đương đại thì thấy chả kém cạnh gì. Lý gì ta không tôn lên. Văn đàn Việt sẽ rạng rỡ mày mặt.

“Khi con biết ngước mắt lên cao bởi nỗi sợ hãi thì chính đó là lời nguyện cầu chân thành nhất”

(Trang 64).

“Một ngọn cỏ tự do làm thành thảo nguyên.

Một cái cây tự do làm thành cánh rừng.

Một con cá tự do làm thành biển cả.

Một con chim tự do làm thành bầu trời.

Một con người tự do làm thành vũ trụ”

(Trang 107).

Có phải vậy không? Đương nhiên là vậy rồi, con người là tiểu vũ trụ mà. Chúc mừng và cảm ơn ông Thiều đã cho chúng sinh trong đó có tôi thưởng thức một món lạ, xuất sắc!

TPHCM, 9.2025

Cao Chiến/Vanvn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm