TIN TỨC
  • Truyện
  • Não lòng mạy cưởm | Truyện ngắn dự thi của Nguyễn Xuân Mẫn

Não lòng mạy cưởm | Truyện ngắn dự thi của Nguyễn Xuân Mẫn

Người đăng : vctphcm
Ngày đăng: 2023-04-01 20:11:39
mail facebook google pos stwis
1795 lượt xem

CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

        Nằm bên bờ suối Nậm Thàng, bản Mạy Cưởm ngày đêm nghe suối rì rào bản nhạc nước. Trước kia nghèo khó nên không ai được đi học chữ, nhưng người già vẫn truyền lại cho con cháu rằng: Ngày xưa cách đây chín mười đời, sau khi ăn Tết rằm tháng 7, có 3 người đàn ông họ Hoàng, họ Lù và họ Nông đi tìm nơi khai phá ruộng nước.

Khi đến bờ suối Nậm Thàng này đã trưa, 3 người ngồi nghỉ dưới gốc cây cổ thụ đón làn gió mát từ suối đưa lên. Sau khi xuống suối tắm mát, lại lên gốc cây mở cơm nắm ra ăn. Ngay bên kia bờ suối là khu rừng bằng phẳng toàn lau sậy, mọc dưới bóng những cây nhội tía, vông nước, nhìn qua các ngài đều biết sẽ là nơi khai phá được nhiều ruộng, chỉ cần đắp một con đập nhỏ trên đầu suối là tha hồ có nước tưới ruộng, không sợ khô hạn như ở quê cũ. Đang vui vẻ chuyền tay nhau nắm cơm nếp dẻo thì giật mình bị vật gì như hòn sỏi nhỏ rơi xuống lưng. Mọi người ngẩng lên nhìn thì ra trên đầu là tán cây trám trắng (tiếng Tày gọi là mạy cưởm) quả sai trĩu. Họ bèn dựng lán ngay gốc cây trám để ngày ngày sang bên kia bờ suối vừa khai phá ruộng lại đỡ phải đi kiếm thức ăn. Vụ lúa đầu tiên đã trả công cho 3 chàng trai những dậu thóc hạt căng mẩy để bản Mạy Cưởm của người Tày ra đời từ đấy.

Đến nay không ai biết cây trám bao nhiêu tuổi nhưng năm sáu người dang tay ôm không hết. Cây trám trắng và dòng Nặm Thàng gắn bó với bao đời người Tày bản Mạy Cưởm. Đi làm đồng về, lội qua suối Nặm Thàng, người người lên ngồi nghỉ dưới gốc cây trám trắng trò chuyện dăm ba câu việc ruộng, chuyện nhà và cả việc chồng con, rồi khi làn gió mát thay quạt xua tan mỏi mệt mới ai về nhà nấy. Đêm đêm, trai gái rủ nhau ra gốc trám, xuống mấy tảng đá bên bờ suối tâm tình. Hầu như ngự trị nhiều nhất ngoài gốc trám và dòng suối chính là lũ trẻ. Buổi sáng, lũ trẻ đi học để túi sách dưới gốc cây trám rủ nhau xuống suối rửa mặt mũi chân tay sạch sẽ để đến lớp được cô giáo khen. Gốc trám trắng là sân chơi mắc kẹ, đánh chuyền, nhảy cò của con gái, là sân bóng, bãi đánh khăng, bãi chọi con quay của lũ con trai. Trừ những ngày đông giá lạnh, khi chán các trò chơi, lũ trẻ lại cởi phăng quần áo nhờ những rễ cây trám nổi như bàn tay người lớn giữ hộ rồi con gái cũng như con trai tồng ngồng ào xuống suối, mặc cho phò me gọi khô cổ bỏng họng không thiết về ăn cơm.

Lìn và Sín cũng sinh ra trong bản cây trám trắng ấy. Ngày ngày đợi nhau đi lấy củi, đợi nhau đi thả trâu, khi về cũng cùng chúng bạn ra gốc trám, xuống bến suối. Ngày ấy vùng cao còn thiếu nhiều thầy giáo nên khi đi học vỡ lòng hai đứa đã lên 10. Đi học đợi nhau dưới gốc trám, Sín thường bảo Lìn: “Mỏ A pa tít ở gần làng mình, Lìn học giỏi đi, sau này làm thợ lái ô tô mỏ, thỉnh thoảng đưa xe về ngõ nhà mình bấm còi pim pim gọi cho mình ngồi xe một tý!”. Lìn tủm tỉm: “Nhà… mình, sao không phải nhà người ta!”. Nhưng Sín cũng phải học giỏi sau này làm cô giáo về dạy ngay trường xã mình, tha hồ sờ tí me!”. Cả hai đứa cùng cười như nắc nẻ…

Không phải cứ mơ là được, cứ ước là khắc có. Giặc Mỹ ném bom ra miền Bắc khi Lìn và Sín sắp vào học lớp 7. Trong bản đã có mấy thanh niên tòng quân, người đi chiến trường miền Nam, người ngồi trên mâm pháo bảo vệ cầu Làng Giàng bắc qua sông Hồng vào đất mỏ. Mấy lần Lìn viết đơn tình nguyện đi bộ đội nhưng khi thì xã đội trưởng bảo chưa đủ tuổi, lúc lại trả lời con liệt sĩ hy sinh trong trận Điện Biên Phủ, lại là con độc nhất không phải đi bộ đội. Năm 1967, khi giặc Mỹ đánh phá ác liệt khắp miền Bắc và trong chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ và ngụy quân đàn áp dã man đồng bào ta, Lìn lấy máu viết đơn lần nữa và quả nhiên những dòng chữ viết bằng mực chảy từ con tim được chấp nhận, không như mấy lá đơn viết bằng mực Cửu Long. 

… Xế trưa, Sín vừa ở ngoài ruộng về đến gốc trám trắng định xuống suối rửa chân tay thì nghe tiếng Lìn vội vã phía sau: “Sín à! Anh có giấy gọi đi bộ đội rồi! Nhưng gấp quá, 7 giờ sáng mai phải có mặt ngoài huyện đội!”. Tối hôm ấy, mọi người đến chật nhà chia tay, khi mọi người ra về, hai đứa ra gốc trám già rồi dắt nhau xuống tảng đá phẳng bên bờ suối. Từ ngày hai đứa yêu nhau, hai gia đình đã bàn chờ cuối năm gặt lúa mùa xong sẽ làm đám cưới. Nhìn trời đêm đầy sao, Sín bỗng thấy một ngôi sao vọt sáng bay về phương Nam rồi cũng nhanh chóng vụt tắt. Sín rùng mình nghĩ chiến trường bom rơi đạn nổ ác liệt… Không cầm nổi lòng mình, ôm chặt lấy Lìn, cô nấc lên… tự nguyện dâng hiến phần trinh trắng cho người ngày mai đi xa… Sáng hôm sau chia tay nhau dưới gốc trám, Lìn thủ thỉ: “Sín đợi nhé, chắc chỉ một hai năm hết giặc anh về!”.

        Máy bay Mỹ ném bom cầu đường miền Bắc rất ác liệt. Đường sắt Hà Nội - Lào Cai cũng ngày đêm bị đánh phá. Vừa vào đơn vị, Lìn viết thư gửi ngay về nhưng phải 3 tháng sau ở nhà mới nhận được. Theo số hòm thư của Lìn, Sín viết bốn năm lá thư đi nhưng đều không thấy thư Lìn gửi về. Từ hôm Lìn đi, hầu như ngày nào Sín cũng sang nhà thăm hỏi hay đỡ đần mẹ anh. Một buổi chiều đi làm đồng về, tạt qua xem me Lìn nấu cơm nước gì chưa rồi Sín định về ngay vì tối nay phải họp đội sản xuất. Nhìn cổ cô con dâu chưa cưới nổi gân xanh, ôm choàng lấy cô, mẹ Lìn dân dấn nước mắt: “Sáng sớm hôm đi, thằng Lìn đã nói hết với me rồi! Chưa được cưới nhưng mấy hôm nữa me sẽ sang nhà xin ông bà cho con về đây ở!”.

        Thằng cu Hòa sinh ra trong niềm vui xen lẫn nỗi buồn của hai bên nội ngoại. Bà nội nó lúc nào cũng không rời cháu. Đi thả trâu, lên nương đào sắn cũng đưa theo. Lúc nhỏ thì địu, khi lớn thì bà đi trước, cháu theo sau. Cả bản ai cũng bảo: Gia Lìn góa chồng từ trẻ nên trời bù cho đứa cháu nội giống gương mặt, điệu cười và cả tính háu đói như bố nó. Một buổi chiều tà, hai bà cháu gọi gà về cho ăn, đếm thấy thiếu con gà mái, chạy ra sau nhà, rẽ đám cỏ um tùm không may nắm tay phải đuôi con rắn hổ mang bành, nó ngoái đầu lại đớp vào cổ chân bà. Dù lấy lá thuốc nam đắp ngay nhưng vì nọc con rắn quá độc nên chỉ nửa tiếng sau bà tắt thở trên đường cáng ra bệnh viện.

Tin vui chiến thắng giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam làm nức lòng nhân dân cả nước. Người bản Mạy Cưởm hân hoan treo cờ đỏ sao vàng lên tận ngọn cây trám trắng để từ xa ai cũng nhìn thấy lá cờ Tổ quốc phần phật tung bay mừng hòa bình thống nhất non sông. Những lá thư từ miền Nam tới tấp bay về Mạy Cưởm, địa chỉ nhận chỉ có một người nhưng mỗi lá thư là niềm vui chung của cả bản. Ngồi dưới gốc trám trắng, người ta truyền tay nhau đọc đi đọc lại những lá thư đi xa cả nghìn cây số. Người đọc cũng như người nghe đều cười rưng rưng lệ: Chắc chỉ mươi lăm hôm sẽ được về nhà... Nghe và xem thư của những người trong bản nhưng Sín mong mãi vẫn không thấy ông thông tin xã đến ngõ nhà mình. Đêm nghe tiếng con vạc ăn đêm bay lưng trời hòa vào tiếng suối rì rào, Sín càng nôn nao không ngủ nổi, ôm chặt thằng Hòa vào lòng. Nghe tiếng ngáy đều đều của con, Sín mường tượng thấy Lìn đeo ba lô bước vào sân, nó nhảy ào từ trên sàn nhà xuống ôm chầm lấy bố. Gần sáng Sín mệt mỏi thiếp đi, chập chờn mơ thấy Lìn về ngồi dưới gốc cây trám già vừa chia quà cho trẻ con vừa ríu rít chuyện trò với người lớn. Lúc lại mơ thấy Lìn về đến ngõ nhưng không vào nhà, mà cứ đứng gọi: “Me ơi!”. Sín giật mình tỉnh dậy nhận ra thằng Hòa đang lay chân mình, miệng cười: Me ơi! Con ăn cơm rồi, xin mẹ con đi học!

Không chỉ thư ở miền Nam gửi về mà những người con của Mạy Cưởm cũng lần lượt khoác ba lô về với bản Tày mang tên cây trám trắng. Ai cũng hỏi có gặp người Mạy Cưởm mình không? Người lính lắc đầu mỉm cười: “Chiến trường rộng lớn rải khắp miền Nam, sang cả Lào và Campuchia, chẳng gặp được nhau đâu!”. Người đưa lá thư của chồng con mình ra hỏi có biết hòm thư này không? Người từ chiến trường về trả lời không biết hòm thư này, còn hai chữ JB và hai số 05 là địa chỉ của chiến trường miền Nam. Nhìn Sín ngân ngấn nước mắt, mọi người động viên: “Đợi mấy ngày nữa thế nào cũng có thư của bố thằng Hòa!”. 

Cùng với niềm vui, những câu chuyện chiến thắng, người lính còn mang theo những chuyện gian khổ, ác liệt và sự hy sinh mất mát của đồng đội, đồng bào miền Nam. Dù chỉ được nghe qua người khác kể lại những điều ấy nhưng Sín cứ mong chồng mình không bị cụt chân như anh Phù khi đánh trận Xuân Lộc khi tiến vào giải phóng Sài Gòn. Sín càng mong bố thằng Hòa không như anh Đao người bản Mai cùng 5 chiến sĩ, trước khi vào trận đánh tổng kho Long Bình, đơn vị làm lễ truy điệu sống vì biết họ mãi mãi ra đi để làm nên chiến thắng huy hoàng.

Cùng với niềm vui, bản Mạy Cưởm bốn lần đau buồn làm lễ truy điệu 4 liệt sĩ của bản đã anh dũng hy sinh. Sín cứ nhoi nhói mong mẹ con mình không phải chịu nỗi bi hùng như mè Sài, chị Kẻn…

Mấy lần Sín lên huyện đội rồi lên cả tỉnh đội hỏi tin chồng, các cán bộ chỉ lắc đầu: Chúng tôi chưa biết tin tức gì, thôi chị về nhà đợi xem sao. Ba tiếng đợi xem sao ấy như một điệp khúc bao lần tiễn chân Sín ra khỏi các cơ quan quân sự, rồi theo tiếng xích xe đạp khô dầu mở hành khúc cọt kẹt trên đường về tận nhà khi trời nhá nhem tối.

Ba tiếng ĐỢI XEM SAO theo Sín suốt ngày đêm từ tháng trước sang tháng sau, từ mùa đông nọ tới những mùa đông kia. Con trai của Sín đã là kỹ sư mỏ A pa tit, lấy vợ cũng là kỹ sư cùng làm ở mỏ, rồi sinh cho mè Sín một thằng con trai và đứa con gái, giúp mè khuây khỏa nỗi lòng. Nhiều lần Hòa nghỉ phép vào miền Nam đi khắp các huyện đội, tỉnh đội, các phòng, sở lao động thương binh - xã hội và đến từng nghĩa trang nhưng không thấy nơi nào có tên bố. Mà lạ thế, anh cũng như mẹ, đến đâu cũng nhận được lời khuyên về nhà đợi xem sao…

Thao thức đợi suốt 8 năm chờ ngày hòa bình thống nhất. Vò võ đợi chờ 45  năm sau ngày giải phóng miền Nam, nhiều đêm không ngủ, sợ động giấc của con nên Sín ra ngoài gốc trám ngồi nhìn những vì sao lấp lánh trên nền trời, rồi dõi nhìn theo con đường chìm khuất trong đêm. Sín ngồi dưới gốc trám từ lúc ánh mắt đen long lanh như hạt thừng mực, qua bao mùa đông lại sang hè. Những giọt sương đêm trên cây trám thánh thót nhả giọt buồn thấm ướt bờ vai người phụ nữ. Mỗi mùa ra quả, cây trám già cũng não lòng buông những tiếng rơi lộp bộp vào tận tâm can của Sín. Những đường nhăn chờ đợi dày thêm, khỏa lấp gương mặt trái xoan ngày son trẻ của cô gái xinh nhất vùng Mường Na. Mòn mỏi đợi chờ và lo toan cho con khôn lớn trưởng thành từ thưở tóc Sín còn xanh, đến khi loáng thoáng hoa râm rồi đầu trắng xóa.

Đằng đẵng đợi chờ và công việc vất vả đã âm thầm hợp sức dắt căn bệnh ung thư len vào phổi mè Sín từ lúc nào không rõ. Khi mè đã bước sang tuổi 73, nó mới trỗi dậy hành hạ khốc liệt. Mấy tháng liền Hòa đưa mẹ đi tận các bệnh viện Trung ương, các giáo sư bác sĩ tận tình điều trị rất nhiều loại thuốc tốt cũng không chữa nổi số mệnh của người đàn bà đợi chồng chưa cưới suốt bao năm. Vợ chồng Hòa đành đón mẹ về nhà phụng dưỡng. Nhìn mẹ mỗi lần lên cơn đau vật vã, vợ chồng Hòa lòng đau như thắt.

Hôm đó chừng 10 giờ trưa, sau khi thăm khám kỹ cho mè Sín, bác sĩ San, bạn thân của Hòa kéo anh ra sân nói nhỏ: “Đôi tai cụ đang cụp xuống rồi, chỉ mươi tiếng đồng hồ nữa là cụ đi!”. Cùng lúc ấy một chiếc xe con màu trắng mang biển số 51 đỗ dưới gốc trám, người Mạy Cưởm đoán là bạn đồng nghiệp của vợ chồng Hòa, người tưởng Hòa mời thầy thuốc tận thành phố Hồ Chí Minh ra chữa cho mẹ. Khi người lái xe già tóc bạc trắng, nói giọng miền Nam hỏi thăm nhà liệt sĩ Hoàng A Lìn, mọi người đứng quanh xe đều bàng hoàng...

Ngồi bên giường bệnh mè Sín, ông Ba Huề người miền Nam đỗ xe ngoài gốc trám nghẹn ngào kể:

… Em về làm đại đội phó của đại đội trưởng Hoàng A Lìn mới được 7 ngày, anh em chưa hiểu nhiều về nhau thì ngày 28/4/1975, đại đội em nhận nhiệm vụ đánh cửa mở cho tiểu đoàn tiêu diệt căn cứ Đồng Dù án ngữ tây bắc Sài Gòn. Cấp trên yêu cầu đại đội em chỉ 2 tiếng đồng hồ phải hoàn thành nhiệm vụ phá tan hàng rào. Mười quả mìn định hướng nặng 20 cân lần lượt quét nhưng vẫn còn hai hàng rào lò so dày nằm sát nhau. Anh Lìn lệnh cho tiểu đội cảm tử cầm bộc phá ống lao lên. Năm chiến sỹ lên đến giữa chừng đều lần lượt ngã xuống vì hai khẩu đại liên của địch từ hai lô cốt bắn ra đan chéo cánh sẻ. Em bảo: “Anh để em lên!”. Anh quát: “Lệnh cho đồng chí lui lại chỉ huy bộ đội!”. Nói rồi anh bò đi dưới làn đạn địch. Kinh nghiệm chiến trường đã chỉ cho anh biết khi hết đạn, địch phải mất thời gian thay băng mới, phải nhanh chóng chớp thời cơ ấy mới giành chiến thắng. Quả nhiên khi một trong hai khẩu đại liên ngừng bắn thì anh nhanh chóng cầm hai ống bộc phá vọt lên. Tiếng nổ vừa xé tung hai hàng rào cuối cùng, một quả đạn cối từ trong căn cứ địch bắn ra, nổ ngay trước mặt anh. Em lệnh cho các chiến sỹ đại đội cùng đơn vị bạn xông vào căn cứ địch, khi qua chỗ anh nằm, thấy người anh đầm đìa máu, em cho hai chiến sĩ đưa anh về tuyến sau. Nhờ ống bộc phá của anh mà đơn vị hoàn thành mở cửa trước thời gian được giao, cả căn cứ Đồng Dù tan hoang, bọn giặc lũ lượt giơ tay hàng. Là người Sài Gòn nên em tiếp tục được giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội dẫn đường đưa trung  đoàn vượt sông Sài Gòn vào nội thành. Sau ngày Sài Gòn giải phóng, em cùng các chiến sĩ trong đại đội tìm khắp các nghĩa trang quanh Đồng Dù nhưng không thấy mộ anh và các chiến sĩ cùng đại đội. Em cũng chẳng biết quê quán anh ở đâu vì sống với nhau mới được mấy ngày, lại phải chiến đấu dồn dập. Bốn năm sau, em được lệnh cùng đơn vị sang Campuchia giúp bạn diệt bọn Pôn Pốt, xong quay về nước đi học, tiếp tục ở bộ đội cho đến ngày nghỉ hưu. Ở nội thành có nhà lầu đàng hoàng nhưng ồn ào ngột ngạt em không chịu nổi, vợ chồng con cái bàn nhau mua đất ngoại thành gần căn cứ Đồng Dù cũ, làm nhà ở và làm trang trại tăng gia. Hai tháng trước, thằng Hai nhà em thuê máy xúc về làm ao. Chẳng hiểu linh tính thế nào mà nó không dùng máy nữa, lại thuê thợ đào thủ công, còn bắt người ta phải đào xúc thật cẩn trọng. Buổi chiều ngày đầu tiên, thợ đào chạm ngay một ngôi mộ rồi tiếp đó là 5 ngôi nữa, đều là liệt sỹ quân giải phóng. Người còn xương cốt nguyên vẹn, người chỉ còn đôi dép cao su. Đến ngôi mộ chỉ có chiếc lược làm bằng đuya-ra từ mảnh máy bay Mỹ khắc chữ L-S và cái lọ pênixilin được nút chặt, bọc kỹ năm sáu lượt ni-lon, thằng Hai mở ra xem rồi đưa cho em. Tuy mực đã mờ nhưng vẫn còn đọc được, em run bắn người khi nhìn rõ họ tên anh, cả tên đơn vị chúng em, quê quán và ngày giờ hy sinh.

Ông Ba Huề ngừng kể, bằng chút hơi tàn, cầm chiếc lược đuya-ra ấp trên ngực, mè Sín nấc lên: “Em đợi suốt bao nhiêu năm! Sao giờ anh mới về! Bây giờ anh phải đón em cùng đi quê xa phụng dưỡng phò me!”.           

N.X.M

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chạm mặt chúa rừng - Truyện ngắn của Hồng Chiến
Mấy cậu học trò vừa bắt cá, vừa trêu đùa nhau vui vẻ vượt lên phía trước. Vân Trang theo sau, dùng đèn pin soi bên bờ suối xem cá kéo cả bầy ăn quả ươi rơi chìm dưới suối. Trên mặt đá nằm dưới làn nước, gần sát bờ có loại rêu mọc xanh màu đọt chuối, thân và lá gần giống như hoa mười giờ, nở hoa màu đỏ tươi, năm cánh, cánh hoa giống như cánh hoa hồng. Bầy cá chỉ to hơn đầu đũa một chút, sống lưng màu đen, phía bụng vảy màu vàng tươi kéo dài đến tận đuôi, vây quanh các bông hoa như đang ngắm nhìn.
Xem thêm
Thuần hương - Truyện ngắn
Đây không phải kiểu truyện đọc để biết chuyện gì xảy ra, mà là kiểu truyện đọc để đắm trong một trạng thái cảm xúc và suy tưởng.
Xem thêm
Mùa phượng chết - Truyện ngắn của Việt Nga
Đêm, hai thằng ngồi ở góc xa nhất của sân vườn nhà Thắng nên không nhìn rõ mặt nhau. Chỉ thấy đốm thuốc trên môi Thắng tắt rồi lại lóe liên hồi. Thắng chưa khi nào tưởng tượng ra rằng Ngân có đủ dũng khí đến gặp Hoa, khóc nức nở thú nhận cô đang mang trong mình giọt máu của anh, rồi van xin Hoa hãy nhường Thắng cho cô, để con cô có bố. Hoa xinh đẹp, giỏi giang, thiếu gì chọn lựa. Còn Ngân, nếu Thắng không chịu cưới, thì chỉ còn một lựa chọn duy nhất là cái chết. Đó là khi giữa Thắng và Ngân hoàn toàn chưa có chuyện gì. Đến lúc “có chuyện gì” thì chưa kịp biết Hoa có sao không, Thắng đã phải vội vã làm đám cưới. Sau đám cưới cả năm trời Ngân mới mang bầu. Vậy mà… Người xúi Ngân việc đó là Hoàn. Và âm mưu ấy đã thành công như mong đợi. Không một lần Hoa ngoảnh lại nhìn Thắng nữa.
Xem thêm
Giấc ngủ đại ngàn – Truyện ngắn Vũ Minh Phúc
Khi bắt đầu viết truyện ngắn này, em đã cố gắng hình dung và nhớ lại khu rừng mang tên ông: Tướng giáp. Ông là vị tướng của nhân dân, vị tướng của hòa bình, có điều gì cuốn hút đến thế. Và những nơi ông đi qua, những chiến tích ông từng làm cho nhân dân ta, đều khiến lớp trẻ chúng em muôn phần kính trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Làm sao có thể quên đi được những trang sử hào hùng ấy. Làm sao không kính trọng một con người, một vị tướng đã trở thành huyền thoại ngay cả khi ông còn sống. Em cứ nghĩ đã có một cánh rừng đại ngàn đã đi vào giấc ngủ và cũng có một vị tướng huyền thoại cũng chìm trong giấc ngủ ngàn thu ở Vũng Chùa – Đảo Yến: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Xem thêm
Chuyện cổ tích – Truyện ngắn Nguyễn Thị Việt Nga
Một năm trôi qua, rồi nhiều năm trôi qua, cuốn sách vẫn ở yên trên bàn khách sạn. Trong ngần ấy thời gian, có biết bao nhiêu khách lưu trú đã ra vào căn phòng ấy. Có người không ngó đến cuốn sách một giây. Họ thuê phòng khách sạn khi đêm khuya và ra đi khi mặt trời còn chưa mọc. Nhưng cũng có người ở đến mấy ngày. Họ cầm sách lên, ngắm nghía, lật ra, tò mò đọc những dòng thư nhắn của bà chủ và rồi lại để lại chỗ cũ… Cuốn sách cứ nhẫn nại chờ đợi. Nó nhẩm tính trong đầu, với ngần ấy thời gian, cô chủ nhỏ ngày xưa cũng đã lớn lắm rồi. Có thể cô không còn thích đọc truyện cổ tích như ngày xưa nữa… Cũng có thể cô đã không còn nhớ mình từng có một cuốn truyện cổ tích thế này ... Nhưng nó vẫn kiên trì chờ đợi và hy vọng…
Xem thêm
Đóa hồng đẫm sương – Truyện ngắn của Võ Chí Nhất
Nhà văn Võ Chí Nhất là một cây bút trẻ kiên trì sáng tạo dòng văn trinh thám - tội phạm, với series truyện về nhân vật Đại úy Hà “ớt”. Anh bắt đầu sự nghiệp viết lách từ 2013, tiểu thuyết Pho tượng cổ được NXB Công an nhân dân xuất bản năm 2025 là tác phẩm thứ 7 của anh.
Xem thêm
Nhang Tàn – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Ngồi một mình trong căn phòng làm việc nhỏ, nơi tòa soạn đã thưa người. Thành phố ngoài kia vẫn ồn ào, tiếng xe, tiếng rao hàng, tiếng gọi nhau í ới mua mai, mua bánh, tất cả hòa lại thành một bản nhạc quen thuộc của những ngày cuối năm. Huệ nhìn ra ô cửa kính, nắng rớt xuống từng mảng vàng nhạt, mỏng như một lớp ký ức đang chậm rãi phủ lên lòng mình.
Xem thêm
Cuộc nhường ghế vĩ đại – Truyện ngắn của Hồng Luân Anh
Vì nể mặt ông bác họ của cậu hàng xóm – dù khi ấy đầu óc tôi đã tít tắp ở vương quốc Biêng-biêng rồi – tôi vẫn bấm bụng ngồi rốn làm thêm một chập nữa đến tận hai giờ sáng. Bốn tiếng sau, bắt gặp tôi ở hành lang, cu cậu vò mái đầu rối, lè nhè với cái miệng sủi bọt trắng xóa cùng cán bàn chải nhựa lòi ra.
Xem thêm
Ta là ai? – Truyện ngắn của Trần Đôn
“Ta là ai?” của Trần Đôn (Bình Dương) là câu chuyện về một thân phận bị đặt giữa hai bờ lịch sử – nơi lựa chọn đôi khi không thuộc về cá nhân, và câu hỏi về căn tính trở thành nỗi day dứt kéo dài suốt một đời người.
Xem thêm
Di ảnh người lính Gạc Ma – Truyện ngắn của Huỳnh Mẫn Chi
Sài Gòn sáng sớm, luồng khí vẫn còn trong trẻo, thanh khiết, thong dong chưa kịp bắt nhịp sống tất bật của ngày mới.
Xem thêm
Dư vang trong đá – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Chàng chẳng còn gì. Không ngai vua. Không cả nước. Chỉ còn một thân thể rách nát và một trái tim bị đánh cắp. Không khi nào trong giấc mơ thời trẻ, chàng từng nghĩ tới vương miện, ngai vàng, bảo kiếm. Chàng từng chỉ mong một mái nhà nhỏ giữa rừng, một người bạn tri kỷ, một thư phòng và một chốn hoa nở thơm ngát bốn mùa, trăng in đáy nước để bình thơ. Giấc mơ ấy đã bị đánh cắp – bởi chiến lược, bởi quyền lực, và bởi niềm tin rằng mọi thứ trên đời có thể toan tính được.
Xem thêm
Cứu người đẹp - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Cứu người đẹp – hay cứu một trật tự? Một truyện giả cổ, đọc như ngụ ngôn về luật và lòng người.
Xem thêm
Giờ linh – Truyện Võ Đào Phương Trâm (Kỳ cuối)
Một ngày tháng Năm, ngôi dinh thự trở nên vắng lặng, cửa khóa ngoài, đã một tuần trôi qua, người ta không thấy những chiếc xe oto ra vào khu dinh thự. Đèn khuôn viên không còn bật sáng, ngôi nhà chìm trong bóng đêm, chỉ còn những tàng cây cổ thụ đong đưa và tiếng côn trùng rền rĩ. Một vòm kiến trúc vốn là niềm tự hào của dân làng Đại Mẫu, nay trở thành địa điểm bỏ hoang, mang màu sắc tâm linh và bí ẩn.
Xem thêm
Giờ linh - Truyện Võ Đào Phương Trâm (Kỳ 1)
Ánh đèn màu đỏ, ám đục như làn sương mờ ảo, bị bám bụi lâu ngày. Những con phù du bé nhỏ đong đưa ở những quầng sáng le lói để tìm sự sống. Người đàn bà trong ngôi nhà cổ, rêu phong phủ lạnh không gian, thâm sâu như đáy vực, bà ngồi im lặng, phía trước con đường hun hút nhỏ hẹp, lần sâu vào bên trong ngôi nhà, chẳng thấy lối đi, chỉ thấy một màu đặc sệt của bóng đêm. Ngôi nhà này chỉ có duy nhất người đàn bà trú ngụ.
Xem thêm
Thấp thoáng mặt hồ
Truyện đăng Văn nghệ TPHCM và Chuyên đề Viết & Đọc
Xem thêm
Bầu trời tươi sáng của con - Truyện dịch Lam Sương
Một tai nạn bất ngờ xảy đến khiến đôi mắt của Quang không còn nhìn thấy ánh sáng được nữa. Những ngày nằm trên giường bệnh, Quang thất thần, cả ngày chẳng nói một câu. Mẹ cậu ngồi bên giường bệnh, bà an ủi động viên Quang: “Con đừng lo lắng, tất cả rồi sẽ ổn cả thôi”.
Xem thêm
Bản giao hưởng của đại ngàn - Truyện Thuận Ánh
Có những buổi sớm mai, khi dải sương mù còn lười biếng cuộn mình trên những triền đồi lượn sóng của Pleiku, tôi đứng giữa ranh giới của đất và trời, lắng nghe hơi thở của cao nguyên. Đó không phải là một âm thanh đơn điệu, mà là một bản giao hưởng hùng tráng và miên man, được viết nên từ nhựa sống của đất đỏ bazan, từ tiếng gió hú qua kẽ lá và từ những nhịp tim nồng hậu của con người nơi phố núi. Trong bản nhạc ấy, có tiếng reo vui của những cánh rừng cà phê bạt ngàn, có sự thâm trầm của những gốc cổ thụ, và có cả những thanh âm trong trẻo, ngây thơ của những tâm hồn trẻ thơ nơi đại ngàn nắng gió.
Xem thêm
Nghĩa tình người dưng – Truyện ngắn Phùng Chí Cường
Cái Cẩm kể xong câu chuyện lúc nào Xoảng cũng không hay, không gian thì vẫn im lặng như tờ. Quay sang Cẩm, Xoảng thấy nó gục mặt vào hai lòng bàn tay, nó cứ nấc lên nghẹn ngào mà khóe mắt không thấy rỉ ra giọt nước mắt nào. Cũng chả biết nữa, có lẽ nước mắt của cái Cẩm đã lận hết vào bên trong rồi. Còn với Cẩm, tự nhiên nó cảm thấy người đàn ông ngồi cạnh nó lúc này sao mà gần gũi thế. Nhưng dù sao anh ta cũng chi là người dưng thôi!...
Xem thêm
Đêm Phú Xuân - Truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga
Mệnh lệnh ngược đời này liên tục được đưa ra mỗi đêm Nguyễn vương đến gặp Ngọc Bình. Bởi lẽ quy định nghiệt ngã chốn hậu cung là không một phi tần nào được phép nhìn thẳng vào long nhan. Nguyễn vương muốn kiếm tìm sợ kinh khiếp trong đôi mắt thăm thẳm của Ngọc Bình, hay chí ít là đôi giọt nước mắt đớn đau. Nhưng không, nàng đã ngẩng lên, đã nhìn, nhưng là một ánh nhìn bình thản. Không có bất cứ điều gì trong đôi mắt ấy. Không có bất cứ điều gì cả...
Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm