TIN TỨC

Ngày đau thương đó

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-20 17:36:19
mail facebook google pos stwis
1847 lượt xem

BÀI HƯỞNG ỨNG CUỘC THI CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

KIM QUYÊN

Ông cậu vai vác chiếc máy đánh chữ, lưng đeo cây guitar, hai tay xách hai thùng luộc đựng dụng cụ và tài liệu của cơ quan, rảo nhanh phía trước. Vai tôi đeo ba lô đựng mấy bộ quần áo và sách giảng dạy cho học trò, chạy lúp xúp theo sau.

Con đầm già chúi xuống, tiếng ì i chợt tắt ngấm, có tiếng nổ lụp bụp rồi trái điểm bung khói màu cam tỏa ra mù mịt một vùng rộng lớn, tanh tửi mùi thuốc đạn khiến hai cậu cháu không thấy đường đi. Tiếng cậu tôi la lên:

Chạy nhanh lên! Nắm tay cậu đi cho lẹ, nó bỏ trái điểm bên vườn chuối của ông Ngoại rồi đó... Nhanh lên con…

Hai cậu cháu vừa chạy, vừa quan sát máy bay phía trên đầu. Rocket bắt đầu bắn xối xả, cậu ấn tôi nằm xuống rồi ngóc đầu lên chạy tiếp. Chạy ra khỏi vườn chuối, tới bờ trâm bầu, cậu thì thào dặn tôi:

Mày ngồi núp trong bụi trâm bầu này, miệng hầm BM (bí mật) nằm ở đây, miệng nó trổ ra mé kinh, nếu tụi bộ binh tới thì con cứ giỡ nắp hầm chun xuống, mùa này nước hơi cao, chịu lạnh chút xíu, nó qua rồi mình lên, cậu chạy lại chỗ gốc mù u giấu mấy dụng cụ này rồi trở lại ngay. Mày phải bình tĩnh, nhanh gọn, không để lại dấu vết gì hết nghe. Con có kinh nghiệm trốn hầm rồi chớ gì?

Dạ. Cậu đi… nhanh đi... rồi trở lại...

Giọng tôi hụp hửi vì hụt hơi và vì sợ. Cậu tôi chạy biến đi vì lo bộ binh tràn tới. Tôi đã chun hầm BM mấy lần rồi nên có chút kinh nghiệm. Sợ khi lính tới làm không kịp nên tôi vội mở nắp hầm chun xuống. Nước lạnh cóng, mùi ẩm mốc khăm khắm lâu ngày tràn lên tới ngực làm tôi rùng mình. Tôi muốn nghẹt thở vì ám khí bao quanh.

Trực thăng rà thấp trên đầu, tiếng mấy thằng Mỹ oang oang trên máy bộ đàm, hàng loạt súng trường, carbin nã xuống khu vực bờ kinh có lục bình và cây mù u. Đất quăng lịch bịch khắp nơi, tiếng cây ngã rào rào, tiếng gót giày đinh dậm trên nóc hầm rầm rầm nhưng tôi không lo, tôi chỉ hoang mang lo cho cậu tôi. Không biết làm gì hơn, tôi lầm rầm khấn vái Trời Phật phò hộ cho cậu cháu tôi tai qua nạn khỏi. Trong lúc quá sợ hãi, tôi khóc òa lên như đứa trẻ. Tiếng khóc của tôi âm âm trong lòng đất như từ cõi âm ty vọng về.

Bắn nát khúc bờ kinh hồi lâu, máy bay quần đảo một lúc nữa rồi đánh vòng ra xa, đám bộ binh la hét vang động cả khu vực mé kinh. Chúng chửi thề ỏm tỏi:

Đ.M, VC chính cống rồi. Kéo nó lên coi!

Lấy hết đồ đạc của nó rồi tập kết ra điểm nhanh lên. Tụi bây lạng quạng ở đây chết chùm cả đám bây giờ.

Tôi choáng váng, nghẹt thở như người sắp chết. Đúng là cậu tôi rồi. Tôi biết làm gì đây để giúp cậu tôi. “Cậu ơi....”. Tiếng tôi kêu nghẹn trong ngực như có ai lấy đá chẹn vào đó.

Trời đã sang chiều. Tiếng máy bay gầm rú từng hồi rồi tạnh hẳn. Tôi mở nắp hầm, ló đầu lên, quan sát chung quanh rồi vọt ra, chạy về hướng bờ kinh. Xác cậu tôi nằm phơi trên bờ, máu đỏ đã trở màu đen trên nền đất. Vết thương ở bụng tang hoác thấy cả ruột gan, đôi mắt mở trừng nhìn lên bầu trời xanh trong. Đôi mắt như núm níu tôi và những người thân thuộc trong gia đình. Tôi cầm đôi bàn tay to bè còn hơi ấm, nước mắt lã chã: “Cậu ơi… Cậu của con ơi…”. Tiếng khóc của tôi chìm trong gió chiều lạnh lẽo, nơi miền quê heo hút…        

*

Xác cậu tôi được đem về khu vườn chuối, trong ngôi nhà nhỏ bé của ông bà tôi. Ông bà ngoại đã trên 60 nhưng vẫn còn tham gia cách mạng. Ông tôi là thủ trưởng của cơ quan Quân y tỉnh, bà tôi Hội trưởng Hội Phụ nữ huyện Cái Bè, cậu Ba tôi là Phó ban Tuyên huấn huyện Cái Bè.

Cậu tôi nằm đó, máu vẫn còn ri rỉ chảy. Đôi mắt khép kín theo bàn tay của bà tôi. Bà tôi tuy đã quen chuyện thương tật chết chóc nhưng khi tai họa ập xuống mái nhà lá nhỏ bé của bà thì nỗi đau khôn cùng của người mẹ mất con khiến bà hoảng loạn, đớn đau. Bà cầm bàn tay giá lạnh của cậu tôi áp vào ngực mình, bà khóc không thành tiếng, gương mặt buồn rầu, đôi mắt mệt mỏi, vô hồn nhìn xác đứa con trai thân yêu. Ông tôi cùng với mấy cán bộ xã lo việc chôn cất đứa con mà ông thương quí nhất đời. Nước mắt khổ đau rịn ra trong đôi mắt hỏm sâu. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy ông tôi khóc, những giọt nước mắt chắt ra từ những đau đớn tột cùng.

Đám tang cậu chôn cất vội vàng vì có tin Sư đoàn 7 cùng với lính Mỹ sẽ càn vào làng trong vài ngày tới.

Cậu tôi mất rồi nhưng tôi vẫn nghĩ cậu còn quanh quất đâu đó. Tôi tiếc thương người cậu có tánh tình hiền lành và rất nghệ sĩ, hợp với tánh tôi. Năm 1968, sau chiến dịch Mậu Thân, tôi nghe lời cậu và gia đình về đây dạy học, mở mang mạng lưới trường lớp để xóa mù và nâng cao trình độ cho quân dân cùng thanh thiếu niên ở làng này.

Cậu tôi có vợ và 4 con, cậu vừa hoạt động cách mạng vừa lo phụ gia đình. Những lúc mùa màng tới ngày gặt hái, cậu nghỉ phép về phụ với vợ con. Chuyện nhà nông, cậu tôi giỏi giang cần cù, chuyện cách mạng cậu cũng lo tròn, tay súng tay cày lúc nào cũng oằn nặng đôi vai. Nhưng không vì thế mà cậu bớt đi cái tánh nghệ sĩ bẩm sinh của mình. Cậu hát rất hay những bài hát cách mạng, nhạc tiền chiến cậu cũng thuộc khá nhiều, những khi có đoàn Văn công tỉnh về, cậu đều được mời kết hợp hát hò cho chương trình thêm phong phú. Học vấn mới tới lớp Đệ lục (lớp 8) mà văn chương thơ phú cũng võ vẽ thuộc đôi bài. Cậu thích tôi ngâm bài thơ “Nghe em vào Đại học” của nhà thơ Giang Nam, còn cậu những lúc hứng khởi cũng ngâm nga bài “Núi Đôi” hay bài thơ “Đêm sao sáng” của nhà thơ Nguyễn Bính… “Sao đặc trời cao sáng suốt đêm. Sao đêm chung sáng chẳng chia miền. Trời còn có bữa sao quên mọc. Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em”. Giọng hát của cậu trầm ấm, chân chất đã lưu vào lòng tôi những âm điệu khó quên. Những buổi chiều vắng tạnh tiếng máy bay hay tiếng pháo từ dàn pháo Cái Bè bắn về, hai cậu cháu tôi thường ra bờ sông ngồi hứng gió rồi ca hát để quên đi những giây phút căng thẳng, gian nguy của chiến tranh.

Từ ngày cậu mất, mợ tôi như cánh chim lẻ bạn, bơ vơ dưới trời đạn bom, một mình bươn chải nuôi con. Mợ đi làm cỏ, cấy thuê cho cô bác trong làng, có hôm đang cấy lúa trên đồng, mợ bị trực thăng phát hiện, nó hạ thấp xuống định bắt mợ nhưng mợ cố mỉm cười, đưa cao tấm giấy căn cước cho nó xem. Nó nhìn mợ trâng tráo như mèo đang vờn chuột, nhưng có lẽ nhìn thấy nụ cười hiền lành của mợ, nó không nỡ xả súng, bèn cất cánh lên cao rồi bay mất.  

Bốn đứa con Hà, Hải, Loan, Phượng sống trong ngôi nhà lá cạnh bờ kinh. Chiếc trảng xê chiếm nửa ngôi nhà, chị em hui húc lo cho nhau. Mấy lúc trời yên biển lặng, Hà đi giăng câu, bắt ốc bắt cua, hái rau đồng về nấu cơm cho mấy em ăn, có hôm mấy chị em đói rã ruột vì hết gạo, Hà, Hải xuống cây cầu dừa dưới mé kinh quăng chày kiếm cá, có khi được chén tép hay một nắm cá lòng tong, có khi không được gì hết thì hai đứa nhìn kiếm trên dòng nước đục ngầu kia có trái bình bát hay trái mận, trái xoài nào chín rụng, còn ăn được thì chúng vớt lên ăn cho đỡ đói.

Đói no gì ngày nào Hải cũng ôm tập, bơi xuồng qua bên lớp học của tôi dạy để học lớp 1. Hải sáng dạ, ham học nên nó thường đứng đầu lớp. Có hôm, nó đói quá gục trên bàn, gương mặt xanh mét khiến tôi hoảng hốt. Tôi xoa dầu lên cổ lên ngực nhưng nó không tỉnh lại được. Biết bệnh thằng em, tôi dìu nó qua nhà ông bà tôi, bới chén cơm nguội, chan miếng nước tương rồi đút cho nó. Hải ăn không kịp nuốt, ăn xong nó tỉnh như sáo, cùng tôi vội chạy qua lớp học. Tôi mừng lắm vì thằng em không bị bệnh tật gì.

Hà là chị Hai nhưng không được đi học vì nó phải trông coi hai đứa em còn nhỏ, nó phải lo cơm nước cho các em và canh phòng pháo hoặc B52 bỏ bom thì nó lùa đám em vào trảng xê. Mợ tôi bận bịu quanh năm với công việc ruộng đồng đâu có thời gian chăm chút cho các con.

Có bữa mấy chị em nằm ngủ nướng trên bộ ván trước nhà, pháo bắn cấp tập khiến mấy chị em bò lê bò càng chun vào trảng xê, quên mất đứa em út đang nằm trên võng. Ba chị em sợ xanh mặt, đùn đẩy nhau, không dám ra ngoài. Trong tiếng nổ rền trời, Hà bậm môi phóng ra lôi Phượng vào, mấy chị em ôm nhau khóc vì mừng. Có hôm, chiếc cá lẹp đi đâu về ngang, chúng đảo vòng vòng trên mái nhà làm tốc mái lá rồi thằng Mỹ da đen cầm cây carbin xâm xâm bước vào, nó rọi đèn vô miệng trảng xê, thấy có mấy đứa nhỏ đang khóc ré, nó nhe răng cười hềnh hệch rồi leo lên máy bay, bay thẳng.

*

Hải học hết lớp 2 thì được mợ tôi đưa ra chợ Mỹ Đức Tây học tiếp cùng với hai em Loan, Phượng. Mợ tôi và Hà chắt chiu từng con cá, củ khoai, từng mớ rau, lon gạo để nuôi đám con đi học. Mợ tôi luôn nhớ lời cậu dặn dò là dù hoàn cảnh nào, cũng cho mấy em tôi học hành tới nơi tới chốn để sau này chúng nó giúp ích cho đời, cho xã hội vì cuộc đời của cậu tôi biết sống chết ra sao mà lo cho gia đình, làng xóm. Ngoài việc đồng áng, lo cho con đi học, mợ tôi còn theo bà ngoại tôi tham gia công tác phụ nữ xã. Có hôm đi thăm thương bệnh binh, có lúc dự đám cưới của mấy cô cậu du kích, có khi đi vận động em cháu đi nhập ngũ, tòng quân…

Mợ tôi thân hình mảnh mai như cây sậy cây trúc, nhiều lúc nhìn mợ, tôi ứa nước mắt, thầm nghĩ không biết mợ tôi lấy sức vả ở đâu, lấy nghị lực nơi nào mà gánh những gánh nặng tưởng chừng như không thể vượt qua nỗi. Chắc thế nào nơi chốn linh thiêng kia, cậu tôi đã phụ mợ gánh gồng để nuôi nấng những đứa con. “Cậu ơi! Cậu hãy phù hộ cho mợ khỏe mạnh để lo cho các em nghe cậu...”. Tôi thường lầm thầm vái van mỗi khi  đứng trước bàn thờ của cậu, nhìn vào đôi mắt sáng và nụ cười tươi mà thương nhớ cậu đến quặn lòng.

Cơm nước bữa đói bữa no nhưng mấy anh em Hải vẫn ngày ngày cố gắng chăm chỉ học hành, năm học nào chị em nó cũng được giấy ban khen của trường. Đó là niềm vui to lớn của mợ và Hà. Hai mẹ con cùng lao động và công tác ở địa phương khiến xóm làng ai cũng quí mến thương yêu.

*

Ngày đất nước thanh bình thì Hải học gần xong cấp 3. Mấy năm sau, nó thi đậu vào trường Đại học Y, Loan, Phượng cũng học xong cấp 2. Hà lấy chồng là du kích của xã. Hai vợ chồng nó cải tạo miếng vườn của ông bà ngoại để lại. Bom đạn còn ẩn dưới những lớp cỏ hoang vu khiến cho vợ chồng nó nhiều lúc suýt chết vì những trái lựu đạn, bom bi, miểng bom B52... còn dày đặt dưới lớp đất khô cằn.

 Nhưng dù thế nào, mợ và hai vợ chồng em tôi cũng phải lo chăm sóc miếng vườn để nuôi Hải và mấy em đi học. Mấy chị em nó dù nghèo khổ nhưng luôn thương yêu đùm bọc nhau. Còn Hải, nó được vào trường Y là đã tròn ước mơ của nó và của cậu tôi dặn dò ngày xưa.

Buổi sáng, Hải thường đi học bụng trống không, để chống lại cơn đói, nó nhai vài hạt muối rồi uống nước cho no bụng để đi học. Quần áo thì chỉ một bộ độc nhất đã bạc màu, đạp chiếc xe cà tàng vào lớp học nhưng nó không hề sợ bạn cười chê hay khinh rẻ, vì ai cũng biết hoàn cảnh nó nên bạn bè đôi  lúc cũng mua cho nó gói xôi hay trái bắp ăn đỡ lòng. Có lúc đang ngồi học, hai mắt nó hoa lên, đầu chếnh choáng. Mấy lúc như vậy, nó nhớ lời cậu tôi rồi gắng sức tỉnh táo, lắng nghe lời thầy giảng dạy.

Sau này nó được vào ký túc xá của trường đại học, tình trạng đói khát có đỡ đi phần nào. Đã có cơm ăn, canh “toàn quốc” (canh chỉ có nước và rau), khô chiên… Dù sao thì nó cũng no bụng hơn trước, quyết tâm quyết chí vào việc học hành, nhưng chất bổ dưỡng không đủ sức của một thanh niên đang sức lớn khiến nó đôi lúc bị choáng vì thiếu máu.

Ông bà ngoại tôi được cấp căn nhà nho nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông tôi đã 75, còn bà tôi 70, hai người sống nhờ lương hưu, thời kỳ đó lương hưu cũng không có bao nhiêu nên hai người rất tằn tiện trong việc chi tiêu, nhưng ông bà tôi quyết đem Hải về nhà để lo cho nó học hành, má tôi cũng phụ giúp phần nào.

Từ đây, như cánh chim non bay lên bầu trời cao rộng, Hải chú tâm học hành, năm nào nó cũng có giấy khen của trường. Hải ở nhà ông bà ngoại, mợ tôi rất yên tâm.

*

Sự nhẫn nại, lòng hiếu học và mong muốn thực hiện ước mơ của người cha, Hải lấy được bằng bác sĩ với thứ hạng cao. Sau ngày tốt nghiệp, nó vội cầm tấm bằng về đưa cho mợ tôi. Nằm trên giường bệnh, mợ tôi cười héo hắt, nước mắt tuôn tràn. Hồi lâu, mợ tôi nói giọng nghèn nghẹn: “Ông ơi… Ông về đây chứng kiến… Thằng con của ông nó… là bác sĩ rồi…”. Mợ tôi nắm bàn tay to lớn của  con áp vào ngực với bao nỗi vui mừng khôn xiết.

Hải đặt tấm bằng lên bàn thờ ba, những giọt nước mắt của bao ngày gian truân khốn khổ của bản thân và gia đình đã chôn chặt tận đáy lòng, giờ đây được dịp tuôn tràn. Nó khóc nức nở như đứa trẻ, khóc cho vơi nỗi đau và mừng cho mình đã trọn lời hứa với ba. Cay đắng và vinh quang, nỗi buồn và niềm vui đan xen nhau làm rối bời lòng nó.

Bà tôi nấu mấy món ăn mừng thằng cháu nội. Má tôi nhìn thằng cháu mãn nguyện, bà nói: “Hồi đó ai cũng chê thằng Hải bụng ỏng đít beo, bây giờ nó đậu bác sĩ rồi đó, lời con gái tao nói có linh không?”.

*


Bác sĩ Trần Văn Hải (bìa trái) - Phó Giám đốc Bệnh viện An Bình, con trai của liệt sĩ Trần Văn Dần.


Liệt sĩ Trần Văn Dần thời trẻ cùng vợ là bà Hoa Thị Thuận (bìa trái).

Tôi bước vào Bệnh viện An Bình, lên phòng Phó Giám đốc để nhờ thằng em khám hậu Covid. Ngồi trong phòng, chờ nó họp giao ban, tôi nhìn hàng loạt những bằng khen, giấy khen của Sở và Bộ Y tế về công tác phòng, chống đại dịch Covid vừa qua, nhiều giấy chứng nhận Chiến sĩ thi đua, Bằng khen hoàn thành xuất sắc công tác trong nhiều năm liền, Giấy khen công tác từ thiện, khám chữa bệnh cho dân nghèo vùng sâu… Tấm ảnh nó chụp chung với các bác sĩ của bệnh viện nở nụ cười giống hệt cậu tôi.

Chắc nơi suối vàng, cậu tôi đã mãn nguyện. Cậu mợ tôi đã để lại cho đời một vị bác sĩ trẻ, có chuyên môn giỏi, trong sạch thanh liêm, tận tụy với nghề và hết lòng thương yêu gia đình, làng xóm.

Qua rồi cơn bỉ cực. Còn niềm vui nào lớn hơn nữa cậu ơi!

TP. Hồ Chí Minh, 5/6/2022.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm